Bản án số 33/2018/DSPT ngày 27/07/2018 của TAND tỉnh Thanh Hóa về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 33/2018/DSPT

Tên Bản án: Bản án số 33/2018/DSPT ngày 27/07/2018 của TAND tỉnh Thanh Hóa về tranh chấp về thừa kế tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Thanh Hóa
Số hiệu: 33/2018/DSPT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/07/2018
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế giữa nguyên đơn ông Hoàng Bùi C, bị đơn bà Vũ Thị T
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THANH HOÁ Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
Bản án sô: 33/2018/DS- PT
Ngày: 27/7/2018
V/v: tranh chấp chia di sản thừa kế
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THANH HÓA
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Thanh Hùng
Các Thẩm phán: Bà Lê Thu Hương
Bà Hoàng Lan Phương
- Thư phiên toà: Trịnh Thị Thanh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh
Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Bà Cù Thị Ngọc - Kiểm sát viên
Trong các ngày từ 24 đến 27 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh
Thanh Hoá xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số 81/2016/TLPT-DS ngày
10/10/2016 về tranh chấp chia di sản thừa kế.
Do bản án dân sthẩm số 06/2016/DS-ST ngày 06/9/2016 của Toà án
nhân dân huyện X bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số 94/2016/QĐ-PT ngày
07 tháng 11 năm 2016, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Hoàng i C - sinh năm 1967
Cư trú ti: Thôn Trch Đồng, xã T, huyện X, tnh Thanh Hoá.
Người đại din hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đào X, sinh năm
1963, cư trú ti: s nhà 07 C, phưng S, thành ph Thanh Hoá. ngưi đi
din theo u quyn của nguyên đơn (theo văn bn u quyền ngày
19/10/2016). Có mặt.
- Bị đơn: Th T - sinh năm 1945
Cư trú ti: Thôn H 1, xã T, huyện X, tnh Thanh Hoá.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Lại Thế H-Luật
, Công ty Luật hợp danh G, Đoàn Luật sư tỉnh Thanh Hoá. có mặt
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Hoàng Thị Ch - sinh năm 1968
Cư trú tại: Thôn H, xã T, huyện X, tỉnh Thanh Hóa
2. Anh Hoàng Bùi Đ - sinh 1973
Cư trú ti: Thôn Đ, xã T, huyện X, Thanh Hoá.
(Ch Ch, anh Đ y quyn cho anh Hoàng Bùi C).
3. Ch Hoàng Th H - sinh năm 1982
2
Cư trú ti: Thôn Sui, xã Văn Phương, huyn Nho Quan, tnh Ninh Bình.
4. Ch Hoàng Th Ha - sinh năm 1984
Cư trú ti: SN106 hẻm 4 Tân Hip, n Bình, huyện Dĩ An, tnh Bình
Dương.
5. Ch Hoàng Th Ho - sinh năm 1987.
Cư trú ti: T 6C khu ph 4, phưng Trng Dài, TP Biên Hòa, tnh Đồng
Nai.
(Ch H, chHa, ch Ho y quyn cho bà Vũ Th T).
-Người kháng cáo: bị đơn Thị T, người quyền lợi liên quan chị
Hoàng Thị H, Hoàng Thị Ha, Hoàng Thị Ho.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn anh Hoàng Bùi C trình bày:
Bố anh là ông Hoàng i N, mẹ anh bà Hoàng Th C sinh được 4
con chung gồm: Hoàng Thị Ch, Hoàng Bùi C, Hoàng Thị M, Hoàng Bùi Đ. B
mẹ anh khối tài sản chung là 1.275m
2
đt ti thôn H, xã T, huyện X,
tnh Thanh Hoá. Năm 1978 b m anh ly hôn. Bà C đem theo hai con là Đ
và M đi sinh sống nơi khác, để li tài sản là nhà và đt cho ông N và hai con
là C và Ch ng ông N qun lý s dng. Năm 1980 ông N kết hôn với bà
Vũ Th T, bà T v chung sng cùng ông N và có 03 con chung là Hoàng Th
H, Hoàng Th Ha, Hoàng Th Ho. Năm 1993 chị M chết (không chồng,
con). m 2008, ông Hoàng Bùi N chết không đ li di chúc. Từ khi ông N
chết bà T và các con ca bà T và ông N vn sinh sng trên mảnh đất này.
Nay anh C đ ngh Tòa án chia tha kế theo pháp lut di sn ca ông N để
li. Anh xác đnh ½ din tích đt trên là ca Vũ Th T, còn li ½ din tích
đt là di sn ca b anh đ li. Anh đ ngh a án chia đều cho các hàng
tha kế ca ông N gm 7 người là bà Vũ Th T, anh (Hoàng Bùi C), anh
Hoàng Bùi Đ, ch Hoàng Th Ch, ch Hoàng Th H, ch Hng Th Ha, ch
Hoàng Th Ho. Din tích đt này hin nay bà T đang qun lý và s dụng.
Anh yêu cu chia tha kế bng đất đ anh có nơi làm nhà th, th cúng t
tiên.
* Tại các bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Vũ Thị
T trình bày:
Năm 1967, ông Hoàng Bùi N và bà Hoàng Th Chút kết hôn sinh
đưc 4 người con là Hoàng Thị Ch, Hoàng Bùi C, Hoàng Thị Mai, Hoàng Bùi
Đ. Năm 1980, ông N và bà Chút ly hôn. Tòa án đã gii quyết v nuôi con và
tài sn, ông Hoàng i N đưc giao ni 2 con là C và Ch và li căn nhà
lá ca vợ chng; bà Chút đưc giao nuôi 2 con Đc và Mai và đưc ông
N bi thưng một khon tin đ đi nơi khác sinh sng. Sau đó Chút đưc
Nhà nước cấp đt ti thôn Trch u, T, huyn X. Năm 1981, bà kết hôn
ng ông N sng cùng ông N trên nhà đt ông N đã có t trưc. Bà và
ông N 3 con chung là Hoàng Th H, Hoàng Th Ha, Hoàng Th Ho. Năm
1993 được Nhà nước cp đất, năm 1994 Uỷ ban nhân dân (UBND) huyện X
3
cp giy chứng nhn quyn s dụng đất (GCNQSDĐ) din tích 1.275m
2
trong đó 200m
2
đt và 1.075m
2
đt vườn tp s dng lâu dài ti thửa s
69, t bn đ s 2 mang tên ông Hoàng Bùi N, đa ch: tn Hng 1, xã T,
huyn X, tnh Thanh a. m 1997, v chng bà đã chia cho anh C (con
trai riêng ca ông N) 231m
2
đt vườn đ m nhà và tách h, diện tích còn
li 1.044 m
2
trong đó có 200m
2
đt và 844 m
2
đt vườn. Năm 2007, ông N
viết di chúc chia phần tài sn của ông N là 100 m
2
đt 422m
2
đt vườn
cho 03 ngưi con chung của bà và ông N là Hoàng Th H, Hoàng Th Ha,
Hoàng Th Ho. Năm 2008 ông N chết, trong lúc làm đám tang đã b mất
trm giy chứng nhn quyền sdng đt tn. Nay anh C làm đơn khi kin
u cu chia thừa kế ½ din tích đất này cho các hàng tha kế của ông N,
không đng ý. Bà T đ ngh a án chia tài sn theo di chúc ông N đ lại.
* Những Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Hoàng Bùi Đ, chị Hoàng Thị Ch trình bày: Anh Đức, chị Ch thống
nhất như nội dung anh Hoàng Bùi C trình bày, nay anh C làm đơn khởi kiện đề
nghị chia thừa kế của ông Hoàng Bùi N theo pháp luật, anh Đ, chị Ch đồng ý
đề nghị được nhận phần thừa kế của mình bằng đất để anh C làm nơi thờ cúng tổ
tiên. Anh Đ, chị Ha ủy quyền cho anh C tham gia tố tụng cho đến khi kết thúc
vụ án.
- Chị Hoàng Th H, Hoàng Th Ha, Hng Th Ho tnh bày: c ch
thng nhất như ni dung bà T khai, đ nghị Tòa án chia thừa kế của ông N
theo di chúc. Ch H, ch Ha, ch Ho y quyền cho bà T tham gia t tng cho
đến khi kết thúc v án.
Ngày 22/4/2016 Tòa án nhân dân huyện X có công văn s 68/CV-TA
đ ngh Uỷ ban nhân n xã T, huyện X cung cấp các thông tin v đa chính
đi vi tha đt đang tranh chp. Ngày 31/5/2016 UBND xã T, huyện X có
ng văn s 15 trả li: Ngun gốc diện tích đt tranh chp là ca ông Hoàng
i N, đưc Nhà nước giao đất, T thay mặt gia đình báo cáo là GCNQSD
đt đã b mất. Căn cứ vào sổ giao ruộng đất lâu dài lập năm 1994 chủ sử dụng
ông Hoàng Bùi N tại thửa 103, tờ bản đồ số 2 (tức thửa 69, tờ bản đồ số 02),
tổng diện tích 1.275m
2
. Hiện trạng thửa đất hiện nay gia đình T đang sử
dụng không có gì thay đổi so với thời điểm ông N được cấp GCNQSD đất. Theo
hồ quản địa chính tnăm 1993 đến nay, anh C không phần diện tích
231m
2
đất vườn. Theo bản đồ đo đạc mới, diện tích hiện nay T đang sử dụng
là 1.115,4m
2
.
Ti bn bn đnh giá tài sản ngày 18/8/2016, Hi đng đnh giá xác
đnh hin trng tha đất có diện tích 1.115,4m
2
bao gm 200m
2
đt
915,4m
2
đất trồng cây lâu năm. Các đương skhông xác định đưc giá n
đ ngh Hi đng đnh giá định giá i sản. Hội đồng đnh giá đã n cứ
Quyết định 4545/2014/QĐUB của UBND tnh Thanh a v quy định bng
giá đt thi k2015-2019, kết qu đnh giá như sau:
Tr giá đt là : 200 m
2
x 300.000đ/m
2
= 60.000.000đ.
4
Đt trng cây lâu năm là 915,4m
2
x 27.000đ/m
2
= 24.715.800đ.
Tng cng = 84.715.800đ.
Ti biên bn xem xét thm định ti ch ngày 18/8/2016 bn bn
hòa gii ngày 22/8/2016, anh Hoàng Bùi C và Th T thng nht: Hin
trng thửa đt có din tích 1.115,4m
2
(bao gm 200 m
2
đt và 915,4 m
2
đt
trng y u năm) hin nay không có tranh chp vi c thửa đt xung
quanh. Di sn tha kế ca Hoàng i N ½ trong tổng din tích đt
1.115,4m
2
. C thể: ½ din tích đt có 01 nhà cp 4 đã và ao sen là tài sn
của bà Th T. Di sn tha kế ca ông Hoàng i N là 1.115,4m
2
: 2 =
557,7m
2
trong đó có 100m
2
đt và 457,7m
2
đt trồng cây lâu năm. Di sản
này nm phn đt trng, v trí:
- Phía Bc giáp đt ca bà T dài 27,4m.
- Phía Nam giáp ngõ đi dài 27,4m.
- Phía y giáp đường liên thôn rộng 20,35m (làm tròn s).
- Phía Đông giáp đt ông Hoàng i Th rộng 20,35m.
Bản án dân sự thẩm số 06/2016/DS-ST ngày 06/9/2016 của Tòa án
nhân dân huyện X áp dụng: Khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c
khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 634, khoản 1 Điều 653,
Điều 674,điểm b khoản 1 Điều 675, điểm a khoản 1 Điều 676 khoản 2 Điều
685 Bộ luật dân snăm 2005; khoản 7 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Hoàng Bùi C về việc yêu cầu chia
di sản thừa kế ca ông Hoàng Bùi N theo pháp luật.
- Không công nhận bản di chúc của ông Hoàng Bùi N lập ngày 29/8/2007
là hợp pháp.
Xác định di sản thừa kế của ông Hoàng i N ½ diện tích đất trong
tổng diện tích đất 1.115,4m
2
= 557,7m
2
trong đó có 100m
2
đt và 457,7m
2
đt
trng cây lâu năm ti tha đất s 69, t bn đs 2 thôn Hng 1, xã T,
huyn X, tnh Thanh Hóa giá tr bng 42.357.900đ.
Phần giá trị nhà và đất còn lại là tài sản củaVũ Thị T.
Chia di sản thừa kế của ông Hoàng Bùi N cho 07 người gồm: Thị
T, anh Hoàng Bùi C, chị Hoàng Thị Ch, anh Hoàng Bùi Đ, chị Hoàng Th H,
ch Hoàng Th Ha, ch Hoàng Th Ho. Cụ thể mỗi kphần thừa kế được nhận
14,285m2 đất 65,385m2 đất trồng cây lâu năm trị giá 6.050.000đ (làm tròn
số).
Ghi nhận stự nguyện của anh Hoàng Bùi C, chị Hoàng Thị Ch anh
Hoàng Bùi Đ giao kỷ phần thừa kế bằng đất của chị Ch, anh Đức được hưởng
cho anh C để làm nhà thờ. Anh C được nhận 3 kỷ phần = 42,85m2 đất
196,15m2 đất trồng cây lâu năm.
Cụ thể : Anh C được quyền sử dụng 42,85m2 đất ở :
5
+ Phía Bắc giáp đất của bà T được chia dài 4,92m (làm tròn số).
+ Phía Nam giáp ngõ đi dài 4,92m (làm tròn số). .
+ Phía Tây giáp đường liên thôn rộng 8,7m.
+ Phía Đông giáp đất trồng cây lâu năm được chia rộng 8,7m.
196,15m2 đất trồng cây lâu năm (Diện tích đất trồng cây lâu năm nằm phía
sau của diện tích đất ở được chia).
+ Phía Bắc giáp đất của bà T được chia dài 22,48m (làm tròn số).
+ Phía Nam giáp ngõ đi dài 22,48m (làm tròn số). .
+ Phía Tây giáp đất ở được chia rộng 8,7m
+ Phía Đông giáp đất ông Hoàng Bùi Thư rộng 8,7m.
Thị T được quyền sử dụng 57,15m2 đất và 261,55m2 đất trồng
cây lâu năm (Diện tích đất tiếp giáp đất anh C được chia).
Cụ thể : Bà T được quyền sử dụng 57,15m2 đất ở :
+ Phía Bắc giáp đất của bà T dài 4,9m (làm tròn số).
+ Phía Nam giáp đất anh C được chia dài 4,9m (làm tròn số). .
+ Phía Tây giáp đường liên thôn rộng 11,65m.
+ Phía Đông giáp đất trồng cây lâu năm được chia rộng 11,65m.
261,55m2 đất trồng cây lâu năm (Diện tích đất trồng cây lâu năm nằm phía
sau của diện tích đất ở được chia).
+ Phía Bắc giáp đất của bà T dài 22,45m (làm tròn số).
+ Phía Nam giáp đất anh C được chia dài 22,45m (làm tròn số). .
+ Phía Tây giáp đất ở được chia rộng 11,65m
+ Phía Đông giáp đất ông Hoàng Bùi Thư rộng 11,65m.
T nghĩa vụ trả tiền tương đương với giá trị đất cho chị Hoàng Thị H,
Hoàng Thị Ha, Hoàng Thị Ho mỗi người 6.050.000đ.
Bà T được nhận 6.000.000đ tiền công sức duy trì, bảo quản tài sản từ anh
C, chị Ch, anh Đức, chị H, chị Ho, chị Ha.
Anh C, chị Ch, anh Đức, chị H, chị Ho, chị Ha có trách nhiệm trả cho bà T
công sức duy trì, bảo quản tài sản mỗi người 1.000.000đ.
Anh C, T quyền liên hệ với các quan chức năng thẩm quyền
để làm Giấy chứng nhận quyền sdụng đất đối với diện tích đất được chia thừa
kế.
Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 16/9/2016, T kháng cáo với nội dung: Đề nghị Toà án cấp phúc
thẩm công nhận di chúc của ông Hoàng Bùi N đã để lại tài sản cho bà và các con
6
bà, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của của anh Hoàng Bùi C về chia tài
sản thừa kế theo pháp luật.
Ngày 20/9/2016, chị Hoàng Thị H, Hoàng Thị Ha, Hoàng Thị Ho đơn
kháng cáo với nội dung: Bố các chị đã lập di chúc cho các chị diện tích đất ,
Toà án nhân dân huyện X huỷ di chúc các chị không đồng ý.
Ngày anh Hoàng Bùi C yêu cầu trưng cầu giám định, nhưng Phòng kỹ
thuật hình sự không có căn cứ giám định, vì thiếu mẫu so sánh giám định.
Tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo không rút đơn kháng cáo, các
đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá: Quá trình giải quyết
vụ án tại giai đoạn phúc thẩm tuân theo các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân
sự.
Bản di chúc do ông Hoàng Bùi N lập ngày 29/8/2007 nội dung để lại ½
diện tích thửa đất cho chị Hằng, chHạnh và chị Hồng, ½ ngôi nhà cấp bốn, bốn
gian cho T, ông N lập di chúc trong trạng thái tinh thần bình thường, hai
người làm chứng, chứng thực của Uỷ ban nhân dân T, di chúc không thể
hiện nơi để lại di sản, nhưng ngoài thửa đất trên ông N không còn tài sản nào
khác. Trước khi lập di chúc, ông N đã có giấy xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã
T ngày 26/8/2007, thể hiện ông N chỉ để lại tìa sản thửa đất số 69, tờ bản đồ
số 2, bản đồ địa chính T. Di chúc của ông Nhu lập ngày 29/8/2007 hợp
pháp đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2
Điều 308, sửa bản án thẩm, bác đơn khởi kiện của anh Hoàng Bùi C, công
nhận bản di chúc do ông Hoàng Bùi N lập ngày 29/8/2007 là hợp pháp.
Quan điểm của nguyên đơn và đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
Di chúc không hợp pháp, vì: Di sản ông N để lại không địa chỉ; người
làm chứng Hoàng Bùi Tiệp hay Hoàng Văn Tiệp; Chị Hoàng Thị H người
con được hưởng di chúc người viết di chúc không khách quan. Đề nghị
không công nhận di chúc, chấp nhận đơn khởi kiện của anh Hoàng Bùi C.
Quan điểm của Luật bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Di
chúc của ông N lập ngày 29/8/2007 hợp pháp vì: ông Tiệp ông Yến là
người làm chứng, được Uỷ ban nhân dân chứng thực, không có quy định nào
cấm con không được viết di chúc hộ cho bố; địa điểm của di sản: ½ tài sản
trong khối tài sản chung của ông N T, tại thôn Hồng 1, T, huyện X,
Thanh Hoá, ngoài tài sản chung với T ông N không còn tài sản nào khác. Đề
nghị ng nhận di chúc ngày 29/8/2007 của ông N là hợp pháp, không chấp
nhận đơn khởi kiện của ông C.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên toà,
lời trình bày của các đương sự, quan điểm của Luật sư, ý kiến của Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Thanh Hoá về việc giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Các đương sự đều thừa nhận diện tích đất 1.115,4m
2
(diện tích thực tế
theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 18/8/2016 của Toà án nhân dân
huyện X) mà các đương sự yêu cầu chia thừa kế, tại thửa đất số 69, tờ bản đồ số
7
2 bản đồ địa chính xã T năm 2002, địa chỉ thôn Hồng 1, xã T, huyện X là tài sản
chung của ông Hoàng Bùi N (chết năm 2008) và bà Vũ Thị T.
[2] Về bản di chúc ông Hoàng Bùi N lập ngày 29/8/2007: Theo nội dung
di chúc ông Hoàng Bùi N để lại tài sản cho ba người con gái là chị Hoàng Thị H,
Hoàng Thị Ha, Hoàng Thị Ho tài sản gồm 100m
2
đất ở, 422m
2
đất vườn tạp, ½
nhà ngói 04 gian để lại cho bà T. Cụ thể: Hoàng Thị H đất 34m
2
, đất vườn tạp
142m
2
; Hoàng Thị Ha đất 33m
2
, đất vườn tạp 140m
2
; Hoàng Thị Ho đất
33m
2
, đất vườn tạp 140m
2
; riêng ½ căn nhà ngói 04 gian ông để lại cho vợ ông
Thị T. Bản di chúc hai người làm chứng xác nhận ông Hoàng
Bùi N Hoàng Bùi Yến, ngoài ra còn có ông Lê Sỹ Luân là cán bộ Tư pháp
T xác nhận. T thừa nhận chữ viết trong bản di chúc do chị Hoàng Thị H
con ông N T, ông N biết đọc, biết viết, nhưng thời điểm đó mắt ông kém,
tay run nên không thể tự viết được. Ông Sỹ Luân, ông Hoàng Bùi Yến đều
thừa nhận nội dung di chúc do con gái ông N T viết, sau đó ông Luân đã
đọc lại cho ông N nghe, ông N vào bản di chúc, ông Sỹ Luân cũng chứng
kiến, và xác nhận vào bản di chúc.
[3] Theo quy định tại Điều 656 Bộ luật Dân sự 2005: Trong trường hợp
người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc thì thể nhờ người khác
viết, nhưng phải có ít nhất hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc
điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng”. Bản di chúc ngày
29/8/2007 do ông N lập do chị Hoàng Thị H viết, sau đó đã được đọc lại cho
ông N nghe và vào bản di chúc. Do đó, về hình thức của bản di chúc tuân thủ
quy định tại Điều 656 Bộ luật Dân sự 2005.
[4] Về nơi để lại di sản thừa kế của ông Hoàng Bùi N: Trong bản di chúc,
tài sản của ông N để lại làm di sản thừa kế không mốc giới, địa chỉ không
tuân thủ quy định tại điểm d khoản 1 Điều 653 Bộ luật Dân sự 2005. Tuy nhiên,
trong di chúc thể hiện tài sản ông để lại thừa kế khi chết là tài sản chung của ông
T. Trong quá trình giải quyết vụ án tại Toà án cấp thẩm thể hiện ông N
T chỉ duy nhất thửa đất mà các đương sự đang tranh chấp, đã xác
nhận của Uỷ ban nhân dân xã T ngày 26/8/2007 về tài sản của ông N thửa đất
69, tờ bản đồ số 2, tại thôn Hồng 1, T, X. Toà án cấp thẩm căn cứ điểm d
khoản 1 Điều 653: “nội dung di chúc phải ghi rõ: d) Di sản để lại nơi di
sản”, nhưng trong di chúc không thể hiện vi phạm, và di chúc không có giá trị
pháp lý không đánh giá đầy đủ, toàn diện các chứng cứ liên quan đến nội
dung bản di cc.
[4] Từ những phân tích trên, căn cứ khẳng định ngày 29/8/2007, ông
Hoàng Bùi N đã lập di chúc để lại ½ diện tích đất tại thửa đất số 69, tờ bản đồ số
2 bản đồ địa chính T năm 2002, tại thôn Hồng 1, T, huyện X cho chị
Hằng, chị Hạnh, chị Hồng, ½ ngôi nhà cấp 4 cho T. Toà án cấp thẩm
chỉ căn cứ nội dung di chúc không thể hiện nơi có di sản để không chấp nhận nội
dung di chúc là không chính xác.
[5] Trong quá trình giải quyết vụ án, trong các bản tự khai biên bản
hoà giải, tại phiên toà, Thị T đều yêu cầu chia di sản thừa kế của
ông N để lại theo di chúc. Tại Toà án cấp phúc, như đã phân tích trên bản di
chúc của ông N lập ngày 29/8/2007 hợp pháp. Nhưng Hội đồng xét xử phúc
8
thẩm không thể chia di sản của ông Hoàng Bùi N để lại theo di chúc, vì nội dung
này, Toà án cấp sơ thẩm chưa xem xét, cũng không đủ chứng cứ tài liệu để
Hội đồng xét xử chia theo di chúc, nếu chia di sản thừa kế của ông N sẽ ảnh
hưởng đến quyền của các đương sự. Vì vậy, cần huỷ bản án thẩm để giải
quyết lại theo trình tự sơ thẩm.
[6] Về án phí:
- Án phí phúc thẩm: Bà T chị H, chị Ho, chị Ha không phải chịu.
- Án phí sơ thẩm: Được xem xét lại trong quá trình giải quyết vụ án tại toà
án cấp sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308; khoản 3 Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 06/2016/DS-ST ngày 06/9/2016 của Tòa án
nhân dân huyện X giao hồ cho Toà án cấp thẩm giải quyết lại theo
trình tự sơ thẩm.
- Án phí phúc thẩm: T, chị H, chị Ho, chị Ha không phải chịu. Trả lại
cho T, chị Hằng, chị Hồng, chị Hạnh mỗi người 200.000đ, theo các biên lai
thu tiền tạm ứng án phí số AA/2014/138; AA/2014/139; AA/2014/140;
AA/2014/141 ngày 27/9/2016 của Chi cục Thi hành án dân shuyện X (bà T
người nộp thay).
- Án phí sơ thẩm: Được xác định khi Toà án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- TAND Cấp cao tại HN; THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND T Thanh Hóa;
- TAND huyện X;
- Chi cục THADS huyện X;
- Các đương sự;
- Lưu HSVA.
Lê Thanh Hùng
Tải về
Bản án số 33/2018/DSPT Bản án số 33/2018/DSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất