Bản án số 329/2022/DS-PT ngày 29/07/2022 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 329/2022/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 329/2022/DS-PT ngày 29/07/2022 của TAND tỉnh Đồng Tháp về tranh chấp quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Tháp
Số hiệu: 329/2022/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/07/2022
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Nay anh Mai Văn Chánh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn K trả lại phần đất lấn chiếm diện tích là 6,0m2 (từ mốc M25, M31, M30, M28, M27, M26 về M25) thuộc một phần thửa đất số 93, tờ bản đồ số 20 của anh T giáp với thửa đất số 05, tờ bản đồ số 24 của ông K; đồng thời, yêu cầu ông K có nghĩa vụ di dời 04 cây trụ đá, hàng rào lưới B40, 01 cây xoài và 01 cây trụ sắt treo bóng đèn để trả lại đất. Buộc ông Nguyễn Văn K và bà Phan Thị Ngọc H1 trả lại phần đất lấn chiếm diện tích là 4,4m2 (từ mốc M4, M32, M31, M25 về M4) thuộc một phần thửa đất số 93, tờ bản đồ số 20 của anh T giáp với thửa đất số 10, tờ bản đồ số 24 của ông K và bà H1; đồng thời, yêu cầu ông K và bà H1 có nghĩa vụ di dời 02 cây trụ đá để trả lại đất.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP
CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hnh phúc
Bản án số: 329/2022/DS-PT
Ngày 29 - 7 -2022
V/v Tranh chấp về ranh
giới quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Tấn Tặng
Các Thẩm phán:
Ông Sỹ Danh Đạt
Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Thư Tòa án nhân dân
tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Ngọc Trang - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng
Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ số: 48/2022/TLPT-DS ngày 16
tháng 02 m 2022, về việc “Tranh chấp v ranh giới quyền sử dụng đất,
Do bản án dân sự thẩm số: 01/2022/DS-ST ngày 05 tháng 01 năm
2022 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 94/2022/QĐ-PT ngày
22 tháng 3 năm 2022, giữa:
1. Nguyên đơn:
1.1. Anh Mai Văn Chánh T, sinh năm 1982;
Đa ch: S 756, p An Ninh, xã Đnh An, huyn Lp Vò, tnh Đng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Mai Văn Chánh T: Ông Cao
Văn K, sinh năm 1956; người đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền
ngày 20/4/2022;
Đa ch: S , p An P, xã Đnh A, huyn Lp V, tnh Đng Tháp.
1.2. Chị Phan Thị Anh Đ, sinh năm 1989.
Địa chỉ: S32, ấp An Li B, Đnh Yên, huyn Lp Vò, tỉnh Đng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn Phan Thị Anh Đ: Chị Phan Thị
2
Mỹ X, sinh năm 1978; người đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền
ngày 04/4/2022;
Địa chỉ: S, p An L, Định Y, huyện Lấp V, tnh Đồng Tháp.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1969.
Địa chỉ: S, p An L, Định Y, huyện Lấp V, tnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn Nguyễn Văn K: Anh Nguyễn Văn
Tr, sinh năm 1984; người đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền
ngày 20/01/2022;
Địa chỉ: S, khóm nh Th, thị trấn Lấp V, huyện Lấp V, tỉnh Đồng
Tháp.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Bà Phan Thị Ngọc H1, sinh năm 1971;
Địa chỉ: S, p An L, Định Y, huyện Lấp V, tnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của H1: Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm
1984; người đại diện theo ủy quyền, văn bản ủy quyền ngày 20/4/2022;
3.2. Ông Chế Văn Kh, sinh năm 1966;
Địa chỉ: Số , ấp Bình H, xã Bình Th T, huyện Lấp V, tỉnh Đồng Tháp.
3.3. Anh Nguyễn Chí C, sinh năm 1982;
Đa ch: S , p An L, xã Đnh Y, huyn Lp V, tnh Đng Tháp.
3.4. Ngân hàng Thương mại cổ phần Công T - Chi nhánh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Số , đường Nguyễn H, Phường, thành phố Cao L, tỉnh Đồng
Tháp.
* Người kháng cáo: Anh Nguyễn Văn K bị đơn.
Ông Kh, anh Tr, chị X có mt ti phiên tòa. Ông Kh, anh C Ngân hàng vng
mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện các ngày 28/9/2020, 15/10/2020, 26/02/2021; Biên
bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải cùng
ngày 19/11/2021 và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên
đơn Mai Văn Chánh T, ông Caon Kh trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 20, diện tích 4.952m
2
trước đây là
của hộ ông Phan Văn S được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Lấp Vò cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất (QSDĐ) vào ngày 18/5/2011. Khi hộ ông Sậy
được cấp giấy chứng nhận QS thì có tiến hành đo đạc, có xác định ranh giới
3
QSDĐ với các thửa đất liền kề hay không thì anh Mai Văn Chánh T không biết.
Đến ngày 20/11/2017, hộ ông Sậy chuyển nhượng QSDĐ đối với thửa đất số
93, tờ bản đồ số 20, diện tích 4.952m
2
cho anh T anh T được UBND huyện
Lấp Vò cấp giấy chứng nhận QSDĐ vào ngày 14/12/2017. Khi anh T được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì không tiến hành đo đạc, mà chỉ dựa
trên diện ch theo giấy chứng nhận của ông S để cấp đổi qua ghi điều chỉnh
thông tin nội dung thay đổi sở pháp lý trang 4 của giấy chứng nhận
QSDĐ. Khi anh T nhận đất từ hộ ông Sậy thì sử dụng đúng với hiện trạng đến
nay. Thửa đất số 93, tờ bản đồ số 20 trồng 02 y trụ đá làm ranh 02 đầu
bên phần đất giáp với đất ông Nguyễn Văn K chị Phan Thị Anh Đ, nhưng
anh T không nhớ ai trồng do từ thời hộ ông S đứng n QSDĐ. Đến
khoảng tháng 12/2019, anh T phát hiện cây trụ đá ranh giáp với đất ông K bị di
dời, nên anh T nói với ông K sau đó trình báo chính quyền địa phương
hòa giải nhưng không thành, nên mới khởi kiện ra Tòa án.
Đối với thửa đất số 03 của anh T giáp với thửa đất số 10 của ông K, t
trước đây anh T với ông K đã tranh chấp được Tòa án giải quyết xong,
thi hành án thi hành xong đã xác định ranh giới ràng, nhưng sau đó ông
K di dời cây trụ đá ranh lấn qua thửa đất số 93, tờ bản đồ số 20 của anh T.
Giấy chứng nhận QSDĐ thửa đất số 93, tờ bản đồ số 20, thì anh T và chị
Cao Thị Tuyết H (vanh T) đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP Công t - Chi
nhánh Đồng Tháp vào ngày 20/02/2019 để vay số tiền 380.000.000 đồng;
đồng thời, thửa đất này cũng đang cho ông Nguyễn Chí C thuê để trồng hoa
kiểng, thời hạn thuê là 02 năm kể từ tháng 10/2019.
Nay anh Mai Văn Chánh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông
Nguyễn Văn K trả lại phần đất lấn chiếm diện tích 6,0m
2
(từ mốc M25,
M31, M30, M28, M27, M26 về M25) thuộc một phần thửa đất số 93, tờ bản
đồ số 20 của anh T giáp với thửa đất số 05, tbản đồ số 24 của ông K; đồng
thời, yêu cầu ông K nghĩa vụ di dời 04 cây trụ đá, hàng rào lưới B40, 01
cây xoài 01 cây trụ sắt treo bóng đèn để trả lại đất. Buộc ông Nguyễn Văn
K Phan Thị Ngọc H1 trả lại phần đất lấn chiếm diện tích 4,4m
2
(từ
mốc M4, M32, M31, M25 về M4) thuộc một phần thửa đất số 93, tờ bản đồ số
20 của anh T giáp với thửa đất số 10, tờ bản đồ số 24 của ông K bà H1;
đồng thời, yêu cầu ông K H1 nghĩa vụ di dời 02 cây trụ đá để trả lại
đất.
Anh T thống nhất với Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ các ngày
11/12/2020, 08/4/2021, Biên bản khảo sát ngày 21/12/2021 của Tòa án nhân
dân huyện Lấp Vò, đồ đo đạc ngày 20/5/2021 của Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai huyện Lấp Biên bản định giá tài sản ngày 27/5/2021
4
của Hội đồng định giá tài sản huyện Lấp Vò.
Anh T khẳng định trên phần diện tích đất tranh chấp đến nay không
phát sinh thêm cây trồng, vật kiến trúc hay bất kỳ vật thể nào khác so với Biên
bản xem xét thẩm định tại chỗ các ngày 11/12/2020, ngày 08/4/2021, Biên bản
khảo sát ngày 21/12/2021 của Tòa án nhân dân huyn Lấp Vò. Ngoài ra, anh T
thống nhất trong trường hợp nếu Tòa án giải quyết giao phần diện tích đất
tranh chấp cho bên ông K, H1 thì bên anh T sẽ tự nguyện di dời các tài sản
(nếu có) ra khỏi diện tích đất tranh chấp để giao trả lại đất.
* Theo đơn khởi kiện các ngày 14/10/2020, 25/9/2020; Biên bản về
kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, ng khai chứng cứ, hòa giải cùng ngày
19/11/2021 tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn
chị Phan Thị Anh Đ, chị Phan Thị Mỹ X trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 06, tờ bản đồ số 24, diện tích 230,9m
2
là của
Trần Thị Đ (mẹ của chị Đ) được UBND huyện Lấp cấp giấy chứng nhận
QSDĐ vào ngày 18/5/2011. Đến ngày 01/7/2020, cùng các hàng thừa kế thứ
nhất của Đ thỏa thuận phân chia di sản của Đ. Đến ngày 28/7/2020, chị
Đ được Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận
QSDĐ đối với thửa đất số 06, tbản đồ số 24, diện tích 230,9m
2
. Khi chị Đ
được cấp giấy chứng nhận QSDĐ thì không tiến hành đo đạc chỉ dựa
trên diện tích đất theo giấy chứng nhận của Đ để cấp đổi qua. Khi chị Đ
nhận đất để quản lý, sử dụng đúng với hiện trạng đến nay. Ranh đất giữa thửa
đất số 06, tờ bản đồ số 24 của chị Đ với thửa đất số 05, tờ bản đồ số 24 của
ông K cây trụ đá làm ranh, nhưng chị Đ không nhớ là ai trồng và có từ thời
ông bà của chị Đ quản lý, sử dụng thửa đất này.
Đến khoảng tháng 6/2020, chị Đ phát hiện ông K nhổ cây trụ đá ranh
ông K xác định cây trụ đá trồng cây sắt phi 60 để làm thùng điện treo hộp
đèn là ranh đất giữa thửa đất số 05 của ông K thửa đất số 06 của chị Đ. Cây
trụ đá bên cạnh cây sắt treo thùng điện là của nhà nước trồng cách nay rất lâu,
chị Đ không nhớ thời gian nào mục đích nhà nước trồng cây trụ đá này
không cho người dân lấn chiếm kênh thủy lợi. Sau khi chị Đ phát hiện cây trụ
đá ranh bị nhổ mất, thì chị Đ trình báo với chính quyền địa phương, nhưng
không giải quyết được do giấy chứng nhận QSDĐ đối với thửa đất số 06 là do
bà Đ đứng tên, nhưng bà Đ đã chết. Do đó, các hàng thừa kế thứ nhất của bà Đ
thỏa thuận phân chia di sản của Đ cho chị Đ đi cấp đổi giấy chứng nhận
QSDĐ và khởi kiện.
Nay chị Phan Thị Anh Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông
Nguyễn Văn K trả lại phần đất lấn chiếm diện tích 10,9m
2
(từ mốc M18,
M27, M28 về M18) thuộc một phần của thửa đất số 06, tờ bản đồ số 24 do chị
5
Đ đứng tên QSDĐ.
Chị Đ thống nhất với Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ các ngày
11/12/2020, 08/4/2021, Biên bản khảo sát ngày 21/12/2021 của Tòa án nhân
dân huyện Lấp Vò và Sơ đồ đo đạc ngày 20/5/2021 của Chi nhánh Văn phòng
đăng đất đai huyện Lấp Biên bản định giá tài sản ngày 27/5/2021
của Hội đồng định giá tài sản huyện Lấp Vò.
Chị Đ khẳng định thửa đất 06, tbản đồ s24 hiện nay không cho ai
thuê hay cố đất hoặc thế chấp ngân hàng và trên phần diện tích đất tranh chấp
đến nay phát sinh thêm cây trụ đá do ông K trồng lấn qua phần đất của chị
Đ theo Biên bản khảo sát ngày 21/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lấp
Vò. Ngoài ra, chị Đ thống nhất trong trường hợp nếu Tòa án giải quyết giao
phần diện tích đất tranh chấp cho bên ông K, thì bên chị Đ sẽ tự nguyện di dời
các tài sản (nếu có) ra khỏi diện tích đất tranh chấp để giao trả lại đất.
* Theo Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ, hòa giải cùng ngày 19/11/2021 tại phiên tòa, người đại diện theo ủy
quyền của bị đơn Nguyễn Văn K, anh Nguyễn Văn Tr trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 05, tờ bản đồ số 24, diện tích 301,1m
2
trước đây
của ông Nguyễn n H (cha ruột ông Nguyễn Văn K) tặng cho ông K. Sau đó,
ông K được UBND huyện Lấp cấp giấy chứng nhận QS cấp đổi
nhiều lần nhưng lần cuối cùng ngày 05/7/2018. Trong các lần cấp đổi thì
tiến hành đo đạc. Ranh đất từ thời ông H thửa đất này trước đây ông K
cũng đã bị thi nh án vào ngày 06/6/2014 nên thi nh án xác định ranh
các cây trụ đá ranh từ trước đến nay. Ranh đất đầu trên đầu dưới do ông
H, N, ông H đã xác nhận trụ đá ranh đã lâu. Thửa đất tranh chấp trên
đã được quan thi hành án xác nhận và có tứ cận ký tên là ông Trần Minh L,
ông Phan n S, bà Phan Cẩm P theo Biên bản của Chi cục Thi hành án dân sự
huyện Lấp V. Sau đó, ông K mua thửa đất đó lại sử dụng nguyên hiện trạng
cho đến nay không di dời các trđá ranh, nên ông K không đồng ý với
yêu cầu của anh Mai Văn Chánh T chị Phan ThAnh Đ. Thửa đất này hiện
nay không có cho ai thuê hay cố đất hoặc thế chấp ngân hàng, nhưng đã chuyển
nhượng cho ông Chế Văn Kh vào ngày 09/6/2020 và hiện nay ông K đang tranh
chấp về hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ với ông Kh.
Nguồn gốc thửa đất s10, tờ bản đồ số 24, diện tích 135,8m
2
do ông
Nguyễn Văn K Phan Thị Ngọc H1 được Sở Tài nguyên Môi trường
tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo kết quả thi hành án của Bản
án dân sự phúc thẩm số 408/2019/DS-PT ngày 07/11/2019 của Tòa án nhân
dân tỉnh Đồng Tháp về việc Tranh chấp QSDĐ bồi thường thiệt hại về tài
sản”. Ông K, H1 nhận thửa đất này từ thi hành án nên đã ranh đất
6
ràng ông K, H1 sử dụng nguyên hiện trạng cho đến nay không di
dời các trụ đá ranh, nên ông K bà H1 không đồng ý với yêu cầu của anh
Mai Văn Chánh T. Sau khi ông K, H1 được cấp giấy chứng nhận QSDĐ,
thì ông K, bà H1 có tiến hành xây dựng nền gạch vào khoảng năm 2018. Thửa
đất này hiện nay, ông K, H1 không có cho ai thuê hay cố đất hoặc thế chấp
ngân hàng.
Ông K, H1 thống nhất với Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ các
ngày 11/12/2020, ngày 08/4/2021, Biên bản khảo sát ngày 21/12/2021 của Tòa
án nhân dân huyện Lấp Vò, đồ đo đạc ngày 20/5/2021 của Chi nhánh Văn
phòng đăng đất đai huyện Lấp Biên bản định g tài sản ngày
27/5/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện Lấp Vò.
Ông K, H1 khẳng định trên phần diện tích đất tranh chấp đến nay
không có phát sinh thêm cây trồng, vật kiến trúc hay bất kỳ vật thể nào khác so
với Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ các ngày 11/12/2020, ngày 08/4/2021,
Biên bản khảo sát ngày 21/12/2021 của Tòa án nhân n huyện Lấp Vò. Ngoài
ra, anh Tr thống nhất trong trường hợp nếu a án giải quyết giao phần diện
tích đất tranh chấp cho bên anh T, chị Đ, thì bên ông K, H1 sẽ tự nguyện di
dời cáci sản (nếu có) ra khỏi diện tích đất tranh chấp để giao trả lại đất.
* Theo Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng
cứ, hòa giải cùng ngày 19/11/2021 tại phiên tòa, người đại diện theo ủy
quyền của người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Thị Ngọc H1, anh
Nguyễnn Tr trìnhy:
Bà H1 là vợ của ông K. Bà H1 với ông K cùng đứng tên sở hữu chung đối
với thửa đất số 10, tờ bản đồ số 24, diện tích 135,8m
2
được Sở Tài nguyên
Môi trường tỉnh Đồng Tháp cấp ngày 15/9/2020. H1 thống nhất với tất cả
các ý kiến trình bày của ông K nên không có ý kiến trình bày bổ sung.
* Theo Biên bản lấy lời khai đương sự ngày 23/4/2021, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan Chế Văn Kh trình bày:
Vào ngày 09/6/2020, ông Nguyễn Văn K Phan Thị Ngọc H1
chuyển nhượng thửa đất số 05, tờ bản đồ số 24, diện tích 301,1m
2
cho ông
Chế Văn Kh các bên làm hợp đồng công chứng tại Văn phòng công
chứng Huỳnh Thị Kim L. Việc chuyển nhượng đất giữa ông Kh với ông K,
H1 đã tranh chấp đang được Tòa án giải quyết. Ông Kh không yêu
cầu hay tranh chấp gì trong vụ án này và thống nhất với kết quả giải quyết của
Tòa án. Đồng thời, ông Kh xin được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc,
xét xử của Tòa án trong vụ án này, do ông Kh bận công việc làm ăn.
* Theo Biên bản lấy lời khai đương sự ngày 16/3/2021, người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn CC trình bày:
7
Anh C thuê toàn bộ diện tích của thửa đất s93, tbản đồ số 20 của anh
Mai Văn Chánh T với số tiền 110.000.000 đồng trong thời hạn 05 năm kể từ
khoảng tháng 9-10/2020. Do khi phát sinh việc tranh chấp ranh đất giữa anh T
với bên ông Nguyễn Văn K, Phan Thị Ngọc H1 nên đến nay anh C với anh
T vẫn chưa làm hợp đồng bằng văn bản mà chỉ thỏa thuận miệng anh C
đã nhận mặt bằng để trồng cây kiểng. Anh C với anh T thỏa thuận anh T
giao mặt bằng cho anh C làm trước 02 năm, đến năm thứ 03 thì anh C mới
giao tiền. Anh C biết sự việc tranh chấp ranh đất giữa anh T với ông K,
H1 ngày Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ thì anh C cũng mặt. Anh C
không ý kiến hay bất cứ yêu cầu trong vụ án tranh chấp ranh đất giữa
anh T với ông K, H1 anh C xin được vắng mặt trong tất cả các lần Tòa
án làm việc, hòa giải, tiếp cận công khai chứng cứ và xét xử.
* Theo văn bản trình bày ý kiến ngày 26/10/2020, người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại cổ phần Công T - Chi nhánh
Đồng Tháp trình bày:
Ngân hàng Thương mại cổ phần Công T - Chi nhánh Đồng Tháp yêu cầu
không tham gia vụ kiện này và xin vắng mặt tại các buổi làm việc, hòa giải và
xét xử vụ án này.
Tại quyết định bản án dân sự thẩm số: 01/2022/DS-ST ngày 05 tháng
01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò đã tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Mai Văn Chánh T yêu cầu ông
Nguyễn Văn K trả lại phần đất lấn chiếm thứ nhất diện tích 06m
2
trong phạm
vi các mốc từ M25, M31, M30, M28, M27, M26 về M25; yêu cầu ông
Nguyễn Văn K Phan Thị Ngọc H1 trả lại phần đất lấn chiếm thứ hai
diện tích 4,4m
2
trong phạm vi các mốc từ M4, M32, M31, M25 về M4.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Anh Đ yêu cầu ông
Nguyễn Văn K trả lại phần đất lấn chiếm diện tích 10,9m
2
trong phạm vi các
mốc từ M18, M27, M28 về M18;
Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 93, tờ bản đồ số
20 của anh Mai Văn Chánh T với các thửa đất số 10, tờ bản đồ s24 của ông
Nguyễn Văn K, Phan Thị Ngọc H1 thửa đất số 05, tờ bản đồ số 24 của
ông Nguyễn Văn K và thửa đất số 06, tờ bản đồ số 24 của chị Phan Thị Anh Đ
là đường thẳng nối từ mốc M4, M5, M6, M7, M8, M9, M10, M11, M12, M13,
M14, M15, M16, M29, M28, M27, M26, M25 về M4, đất tọa lạc tại ấp An
Lợi B, xã Định Yên, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 06, tờ bản đồ số
24 của chị Phan Thị Anh Đ với các thửa đất số 05, tờ bản đsố 24 của ông
8
Nguyễn Văn K và thửa đất số 93, tờ bản đồ số 20 của anh Mai Văn Chánh T
đường thẳng nối từ mốc M17, M18, M27, M28, M29, M16 về M17, đất tọa
lạc tại ấp An Lợi B, xã Định Yên, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
Ranh đất được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không
gian, i sản của c n lấn chiếm ranh đất phải di dời theo quy định của pháp
luật.
(Kèm theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ các ngày 11/12/2020,
08/4/2021, Biên bản khảo sát lại đất tranh chấp ngày 21/12/2021 của Tòa án
nhân dân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp đồ đo đạc hiện trạng đất
tranh chấp ngày 20/5/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện
Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp)
Anh Mai Văn Chánh T, chị Phan Thị Anh Đ ông Nguyễn Văn K được
quyền đến quan nhà nước thẩm quyền để điều chỉnh lại quyền sử dụng
đất và đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí và tạm ứng án phí:
- Ông Nguyễn Văn K Phan ThNgọc H1 phải chịu 300.000 đồng
(Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự thẩm.
- Anh Mai Văn Chánh T được nhận lại số tiền 300.000 đồng (Ba trăm
nghìn đồng) anh T đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí,
lệ phí Tòa án số BI/2019/0009688, quyển số 0194, ngày 16/10/2020 của Chi
cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
- Chị Phan Thị Anh Đ được nhận lại số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) mà anh T đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
Tòa án số BI/2019/0009694, quyển số 0194, ngày 19/10/2020 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
4. Về chi phí tố tụng và tạm ứng chi phí tố tụng:
- Ông Nguyễn Văn K và Phan Thị Ngọc H1 cùng nghĩa vụ chịu s
tiền 1.400.000 đồng (Một triệu, bốn trăm nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm
định tại chỗ; 10.275.000 đồng (Mười triệu, hai trăm bảy mươi lăm nghìn
đồng) chi phí đo đạc 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đng) chi phí thẩm
định giá tài sản. Tổng cộng 12.275.000 đồng (Mười hai triệu, hai trăm bảy
mươi lăm nghìn đồng).
- Anh Mai Văn Chánh T đã nộp tạm ứng chi xong số tiền 800.000
đồng (Tám trăm nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, 6.619.000
đồng (Sáu triệu, sáu trăm mười chín nghìn đồng) chi phí đo đạc 600.000
đồng (Sáu trăm nghìn đồng) chi phí thẩm định giá tài sản. Tổng cộng
8.019.000 đồng (Tám triệu, không trăm mười chín nghìn đồng).
9
- Chị Phan Thị Anh Đ đã nộp tạm ứng chi xong số tiền 600.000 đồng
(Sáu trăm nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 3.656.000 đồng
(Ba triệu, sáu trăm năm mươi sáu nghìn đồng) chi phí đo đạc. Tổng cộng
4.256.000 đồng (Bốn triệu, hai trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
- Buộc ông Nguyễn Văn K Phan Thị Ngọc H1 cùng nghĩa vụ
hoàn trả cho anh Mai Văn Chánh T số tiền 8.019.000 đồng (Tám triệu, không
trăm mười chín nghìn đồng) chị Phan Thị Anh Đ số tiền 4.256.000 đồng
(Bốn triệu, hai trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
Ngoài ra bản án thẩm còn tuyên về thời hạn, quyền kháng cáo
quyền, nghĩa vụ, thời hiệu thi hành án của các đương sự.
Sau khi xét x sơ thẩm, ny 14 tng 01 m 2022 ông Nguyn Văn K là bị
đơn kháng cáo đối vi bản án sơ thẩm số: 01/2022/DS-ST ngày 05 tháng 01 m
2022 ca a án nhân n huyn Lp Vò, tỉnh Đng Tp. Ông Nguyễn n K
yêu cầu Tòa án cấp pc thẩm, sửa bản án sơ thẩm không chấp nhn yêu cầu khi
kiện ca anh Mai n Chánh T, chPhan ThAnh Đ.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự không thỏa thuận được với nhau
về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh, phát biểu
việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đảm bảo đúng quy
định của Bộ luật tố tụng dân sự, các đương sự tham gia tố tụng chấp hành tốt
quy định của pháp luật và đề xuất hướng giải quyết là không chấp nhận kháng
cáo của ông Nguyễn Văn K, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ, được kiểm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của Kiểm
sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Phần đất của anh T thửa đất số 93, tờ bản đồ số 20, tiếp với với đất
của ông K thửa đất số 5 thửa đất số 10, tờ bản đồ số 24 ất của ông K
bà H1). Phần đất của chị Đ thửa đất số 6, tờ bản đồ số 24 tiếp giáp với đất của
ông K thửa đất số 5, tờ bản đồ số 24, trong quá trình sử dụng xảy ra tranh chấp
giữa anh T với ông K và giữa chị Đ với ông K.
[2] Về nguồn gốc đất của anh T thửa 93, diện tích 4.952m
2
của ông
Phan Văn Sậy chuyển nhượng cho anh T vào năm 2017. Anh T được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 14/12/2017.
[3] Về nguồn gốc đất của chị Đ thửa số 6, diện tích 230,9m
2
là của
Trần Thị Đành mẹ của chị Đ. Đành chết chị Đ tiến hành thủ tục thừa kế
10
và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/7/2020.
[4] Về nguồn gốc đất của ông K thửa số 5, của ông Nguyễn Văn Hồng
cha của ông K. Ngày 27/02/2007, ông Hồng tặng cho ông K ông K được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 250m
2
, năm 2018 ông K
được cấp đổi thửa 515 đổi thành thửa số 5, diện tích 301,1m
2
ông K được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/7/2018.
[5] Về nguồn gốc đất của ông K, bà H1 thửa đất số 10, diện tích 135,8m
2
,
ông K H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/9/2020,
theo Bản án phúc thẩm số 408/2019/DS-PT ngày 07/11/2019 của Tòa án nhân
dân tỉnh Đồng Tháp.
[6] Xét kháng cáo của ông K yêu cầu xác định ranh đất giữa đất của ông
K với đất của anh T các mốc M4-M32-M31-M25 ranh giới quyền s
dụng đất giữa đất của ông K, bà H1 với anh T là các mốc M31-M30-M28. Xét
thấy, theo Bản án phúc thẩm số 408/2019/DS-PT ngày 07/11/2019, buộc anh
T, chị H trả lại cho ông K và bà H1 diện tích 135,8m
2
thể hiện từ các mốc M8-
M9-M10-M2-M3-M4-M13-M12-M5-M6-M7-M8 theo đồ đo đạc ngày
26/4/2019 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Lấp Vò. Mốc M2
và mốc M3 là trụ đá tiếp giáp với đất của anh T thửa 93.
[7] Theo công n số 1628/CNHLVO, ngày 13/6/2022 của Chi nhánh
Văn phòng Đăng huyện Lấp xác định: Mốc M2 theo đồ đo đạc ngày
26/4/2019 trùng với mốc M4 của sơ đồ đo đạc ngày 20/5/2021 và mốc M3
theo đồ đo đạc ngày 26/4/2019 trùng với mốc M25 của đồ đo đạc ngày
20/5/2021. Điều đó, chứng tỏ ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất của ông K
thửa số đất số 10 với đất của anh T thửa đất số 93 tại vị trí mốc 4 mốc
25.
[8] Đối với kháng cáo của ông K yêu cầu xác định ranh đất giữa đất của
anh K với đất của chị Đ các mốc M30-M28-M18. Xét thấy, vphía ông K
chị Đ thống nhất ranh đất phía trước tại vị trí mốc M18. Phần đất của ông
K, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 5, chiều dài tiếp
giáp thửa số 6 của chị Đ 48m, chiều ngang tiếp giáp thửa 93 của anh T
6m. Đất của chị Đ theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 6 chiều
ngang sau giáp thửa 93 của anh T là 5,01m, nhưng theo đồ đo đạc ngày
20/5/2021 thì chiều ngang sau đất của ông K từ mốc M25 đến mốc M27
6,12m thừa 0,12m; đất của chị Đ chiều ngang sau từ mốc M27 đến mốc M29
là 4.99m thiếu 0,02m, nên việc chị Đ xác định ranh là tại vị trí mốc 27 là có cơ
sở.
[9] Về chiều đất của ông K, (phía tiếp giáp với đất của chị Đ) theo giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất là 48m, nhưng theo sơ đồ đo đạc ngày
11
20/5/2021 thì từ mốc M18 đến mốc M27 là 48,38m thừa 0,38m. Về phía chị Đ
xác định chiều dài tại vị trí mốc M27 là ranh chung giữa đất chị Đ, đất của anh
T đất của ông K, nên việc ông K xác định ranh đất tại vị trí mốc M30
không sở, không phù hợp với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của
ông K, nên Hội đồng xét xkhông chấp nhận kháng cáo của ông K. Xác định
ranh đất giữa đất của anh K với đất của chị Đ đường thẳng nối từ mốc 18
đến mc 27.
[10] Anh T tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất với ông K, bà H1 tại
thửa đất số 93 với thửa đất số 10 thửa đất số 5. Chị Đ tranh chấp ranh giới
quyền sdụng đất với ông K tại thửa đất số 6 thửa đất số 5, nhưng án
thẩm tuyên xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 93 với thửa
đất số 10 và thửa đất số 05 đường thẳng nối từ mốc M4, M5, M6, M7, M8,
M9, M10, M11, M12, M13, M14, M15, M16, M29, M28, M27, M26, M25 về
M4. Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 06 với thửa đất số
05 thửa đất số 93 đường thẳng nối từ mốc M17, M18, M27, M28, M29,
M16 về M17 không phù hợp bởi vì: Từ mốc M4 đến mốc M16 và mốc
M29-M28-M27-M26-M25, thì đất của anh T không có tiếp giáp đất của ông K
tiếp giáp với nhiều chủ sử dụng đất khác tmốc M27-M28-M29-M17
đất của chị Đ cũng không tiếp giáp với ông K mà tiếp giáp với nhiều chủ s
dụng đất khác, nên Hội đồng xét xử sửa cách tuyên án.
[11] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là
không chấp nhận kháng cáo của ông K, giữ nguyên án thẩm (sửa cách
tuyên án) là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những sở trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của
ông Nguyễn Văn K, sửa án sơ thẩm về cách tuyên án.
Các phần còn lại của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo kháng nghị.
Do kháng cáo của ông K không được chấp nhận, nên ông K phải chịu
tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 175 Bộ Luật Dân sự; Điều 166 Luật Đất đai; khoản 9 Điều
26, Điều 147 khoản 2, Điều 148; khoản 2, Điều 308 157 Bộ luật tố tụng
dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án:
12
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn K.
Sửa Bản án dân sự thẩm số: 01/2022/DS-ST ngày 05 tháng 01 năm
2022 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Mai Văn Chánh T yêu cầu ông
Nguyễn Văn K trả lại phần đất lấn chiếm thứ nhất diện tích 06m
2
trong phạm
vi các mốc từ M25, M31, M30, M28, M27, M26 về M25; yêu cầu ông
Nguyễn Văn K Phan Thị Ngọc H1 trả lại phần đất lấn chiếm thứ hai
diện tích 4,4m
2
trong phạm vi các mốc từ M4, M32, M31, M25 về M4.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phan Thị Anh Đ yêu cầu ông
Nguyễn Văn K trả lại phần đất lấn chiếm diện tích 10,9m
2
trong phạm vi các
mốc từ M18, M27, M28 về M18;
Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 93, tờ bản đsố
20 của anh Mai Văn Chánh T với các thửa đất số 10, tờ bản đồ s24 của ông
Nguyễn Văn K, Phan Thị Ngọc H1 thửa đất số 05, tờ bản đồ số 24 của
ông Nguyễn Văn K là đường thẳng nối từ mốc M4-M25-M26-M27, đất tại ấp
An Lợi B, xã Định Yên, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa thửa đất số 06, tờ bản đồ số
24 của chị Phan Thị Anh Đ với các thửa đất số 05, tờ bản đsố 24 của ông
Nguyễn Văn K đường thẳng nối từ mốc M17-M18, đất tại ấp An Lợi B,
Định Yên, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
Ranh đất được sử dụng theo chiều thẳng đứng nh từ không gian đến ng
đất, tài sản củac bên lấn chiếm ranh đất (nếu có) phải di dời theo quy định của
pháp luật.
(Kèm theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ các ngày 11/12/2020,
08/4/2021, Biên bản khảo sát lại đất tranh chấp ngày 21/12/2021 của Tòa án
nhân dân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp đồ đo đạc hiện trạng đất
tranh chấp ngày 20/5/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng đất đai huyện
Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp)
Anh Mai Văn Chánh T, chị Phan Thị Anh Đ ông Nguyễn Văn K được
quyền đến quan nhà nước thẩm quyền để điều chỉnh lại quyền sử dụng
đất và đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
3. Về án phí và tạm ứng án phí:
- Ông Nguyễn Văn K bà Phan ThNgọc H1 phải chịu 300.000 đồng
(Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự thẩm.
- Anh Mai Văn Chánh T được nhận lại số tiền 300.000 đồng (Ba trăm
nghìn đồng) anh T đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí,
lệ phí Tòa án số BI/2019/0009688, quyển số 0194, ngày 16/10/2020 của Chi
cục Thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
13
- Chị Phan Thị Anh Đ được nhận lại số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) mà anh T đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí
Tòa án số BI/2019/0009694, quyển số 0194, ngày 19/10/2020 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
- Ông K phải chịu 300.000 đồng tiền án phí án sự phúc thẩm. Số tiền tạm
ứng án phí dân sự phúc thẩm ông K đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số
0008526, ngày 18/01/2022, được trừ vào tiền án phí.
4. Về chi phí tố tụng và tạm ứng chi phí tố tụng:
- Ông Nguyễn Văn K Phan Thị Ngọc H1 phải chịu chi phí xem xét
thẩm định, đo đạc, định giá, tổng cộng ông K và H1 12.275.000 đồng
(Mười hai triệu, hai trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) gồm: Chi phí xem xét
thẩm định tại chỗ 1.400.000 đồng, chi phí đo đạc 10.275.000 đồng chi phí
thẩm định giá tài sản 600.000 đồng.
- Anh Mai Văn Chánh T đã nộp tạm ứng tổng cộng là 8.019.000 đồng,
chị Phan Thị Anh Đ đã nộp tạm ứng tổng cộng 4.256.000 đồng đã chi
xong. Nên buộc ông Nguyễn Văn K Phan Thị Ngọc H1 cùng nghĩa
vụ hoàn trả cho anh Mai Văn Chánh T số tiền 8.019.000 đồng (Tám triệu,
không trăm mười chín nghìn đồng) hoàn trả chị Phan Thị Anh Đ số tiền
4.256.000 đồng (Bốn triệu, hai trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
Kể tngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án
người phải thi hành án chưa thi hành án xong, thì hàng tháng người phải thi
hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất
quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại
Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải
thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,
tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
Điều 6, 7, 7a, 7b Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- VKSND Tỉnh;
- TAND huyện Lấp Vò;
- CCTHADS huyện Lấp Vò;
- Phòng KTNV-THA TA Tỉnh;
- Các đương sự;
- Lưu: hồ sơ vụ án (T).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚCTHẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Tấn Tặng
14
Tải về
Bản án số 329/2022/DS-PT Bản án số 329/2022/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất