Bản án số 32/2025/DS-ST ngày 19/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 32/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 32/2025/DS-ST ngày 19/09/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk
Số hiệu: 32/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 19/09/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung của nguyên đơn - Bà Phạm Thị Ph; 1.1. Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phạm Thị Ph với ông Nguyễn Hữu Ph và bà Phạm Thị H, ngày 17/10/2022, có hiệu lực pháp luật; Bà Phạm Thị Ph được quyền quản lý, sử dụng, canh tác diện tích đất 3.985m2 thuộc thửa đất số 154, tờ bản đồ số 35 (1/2000) tại xã Krông Buk, huyện Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã Ea Kly, tỉnh Đắk Lắk), do ông Nguyễn Hữu Ph và bà Phạm Thị H đã chuyển nhượng; 1.2. Buộc bà Phạm Thị H và các ông (bà) Nguyễn Thị Mai C1, Nguyễn Thị Sơn C2, Nguyễn Thị Tam C3, Nguyễn Hữu Đ phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 17/10/2022
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN N
KHU VC 4 - ĐK LẮK
Số: 32/2025/DS-ST
Ngày 19/9/2025
V/v “Tranh chấp hp đng
chuyển nhượng QSD đất
CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
Đc lập - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Đức
Các hội thẩm nhân dân: Phan Thị Nhường; Bà Hoàng Thị Hường.
- Thư phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhị - Thư Tòa án nhân dân khu
vực 4 - Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk tham gia phiên
tòa:Nguyễn Thùy Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 19/9/2025, tại Toà án nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk (trước đây
Toà án nhân dân huyện Krông Pắc, tỉnh Đắk Lắk), xét xử thẩm công khai vụ
án thụ số: 289/2024/TLST-DS ngày 18/10/2024, về việc “Tranh chấp hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử s
33/2025/QĐXXST-DS ngày 22/8/2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Phạm Thị Ph, sinh năm 1963.
Địa chỉ: Thôn Ch, xã B, huyện P (nay là thôn Ch, xã K), tỉnh Đắk Lắk.
Người đại diện tham gia tố tụng theo uỷ quyền: Hoàng Thị H, sinh
năm 1995 - (Có đơn xin xét x vng mặt).
Địa chỉ liên lạc: 43/1 Kh, phường L, tỉnh Đắk Lắk.
* Bị đơn:
1. Bà Phạm Thị H, sinh năm 1968
Cùng địa chỉ: Thôn Ch, B, huyện P (nay thôn Ch, K), tỉnh Đắk
Lắk.
Người đại diện tham gia tố tụng theo uỷ quyền: Nguyễn Thị H, sinh
năm 1995 - (Có đơn xin xét x vng mặt)
Địa ch liên lạc: 164 Tr, png Th, tỉnh Đắk Lắk.
2
2. Bà Nguyễn ThMai C1, sinh năm 1995; Bà Nguyễn Thị Sơn C2, sinh
năm 1999; Bà Nguyễn ThTam C3, sinh năm 2002; Ông Nguyễn Hữu Đ, sinh
năm 2006 ( nời tha kế quyn và nghĩa vụ của ông Nguyễn Hữu Ph - đã chết)
(Bà Mai C1, Sơn C2, bà Tam C3, ông Đ đu có đơn xin xét xvng mặt)
Cùng địa chỉ liên lạc: Thôn Ch, xã B, huyện P (nay là thôn Ch, xã K), tỉnh
Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ trong
hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
* Phía nguyên đơn - Phạm Thị Ph người đại diện theo ủy quyền
có ý kiến:
Bà Phạm Thị Ph vợ chồng Phạm Thị H ông Nguyễn Hữu Ph,
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 17/10/2022 (viết tắt hợp
đồng chuyển nhượng), với nội dung như sau: Bà H ông Ph đồng ý thống nhất
chuyển nhượng cho bà Ph toàn bộ quyền sử dụng (QSD) thửa đất số 154, tờ bản
đồ số 35 (1/2000) có diện tích 3.985m
2
tại thôn Ch, xã B, huyện P, tỉnh Đắk Lắk
(viết tắt là QSD thửa đất 154) với giá 200.000.000 đồng. Ngay khi ký hợp đồng,
Ph thanh toán cho vợ chồng ông Ph 180.000.000 đồng được vợ chồng
H ông Ph bàn giao đất để quản sử dụng từ đó đến nay. Hai bên thống nhất
trong vòng 03 tháng vợ chồng ông Ph sẽ giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng
(GCNQSD) đất cho Ph để tiến hành thủ tục sang tên Ph sẽ thanh toán
nốt số tiền còn lại là 20.000.000 đồng.
Hết thời gian thỏa thuận, vợ chồng bà H không giao GCNQSD đất cho
Ph nên đến nay Ph vẫn không thể hoàn tất thủ tục chuyển nhượng sang tên
QSD đất.
Để đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của mình, Ph đã làm đơn khởi
kiện đề nghị Tòa án xem xét giải quyết: Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất ngày 17/10/2022, giữa bà Phạm Thị Ph với vợ chồng
Phạm Thị H ông Nguyễn Hữu Ph đối với thửa đất số 154, tờ bản đồ số 35
(1/2000) có diện tích 3.985m
2
tại thôn Ch, xã B, huyện P, tỉnh Đắk Lắk.
Đối với số tiền 20.000.000 đồng còn lại (trong số tiền chuyển nhượng
QSD đất bà Ph chưa thanh toán) thì giữa bà Ph và bà H thống nhất tự thoả thuận,
thực hiện với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Phía bị đơn - Phạm Thị H người đại diện theo ủy quyền ý
kiến:
Bà Phạm Thị H và chồng là ông Nguyễn Hữu Ph (đã chết ngày 06/5/2023)
04 người con chung là: Nguyễn Thị Mai C1, sinh ngày 10/8/1995; Nguyễn
Thị Sơn C2, sinh ngày 26/02/1999; Nguyễn Thị Tam C3, sinh ngày 04/9/2002;
Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 15/4/2006.
3
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng H ông Ph tài sản chung
QSD đất theo GCNQSD đất số CS 001236 (do Sở Tài nguyên Môi trường
tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 15/8/2019, đăng ký biến động sang tên ông Nguyễn Hữu
Ph ngày 11/10/2019, đối với thửa đất số 154, tờ bản đồ số 35 (1/2000), diện tích
3.985m
2
, tại thôn Ch, B, huyện P, tỉnh Đắk Lắk - viết tắt là GCNQSD đất số
CS 001236); Nguồn gốc đất do vợ chồng Phạm Thị H nhận chuyển nhượng
của bà Č Kbuôr.
Sau khi nhận chuyển nhượng QSD đất, do không điều kiện canh tác
nên ông Ph có bàn với bà H về việc chuyển nhượng lại thửa đất nêu trên thì bà H
đồng ý. Sau đó, ông Ph nói với H về việc sẽ nhượng lại thửa đất cho bà Ph
với giá 200.000.000 đồng. Do bà H bận việc buôn bán nên không trực tiếp thỏa
thuận về việc chuyển nhượng QSD đất do ông Ph tự trao đổi, thống nhất với
bên nhận chuyển nhượng.
Ngày 17/10/2022, vợ chồng H đã Hợp đồng chuyển nhượng QSD
đất cho bà Ph. Nội dung thỏa thuận chuyển nhượng QSD đất cụ thể như sau: Vợ
chồng H ông Ph chuyển nhượng cho bà Ph QSD thửa đất 154 với giá
200.000.000 đồng; Vợ chồng H đã nhận số tiền 180.000.000 đồng, còn lại
20.000.000 đồng hẹn trong thời gian 03 tháng giao bìa đỏ làm thủ tục sang
nhượng thì Ph trả đủ. Vợ chồng H, ông Ph đã giao đất cho Ph tại thời
điểm lập hợp đồng chuyển nhượng. Bà Ph đã nhận đất để quản lý canh tác ổn
định từ đó đến nay.
Sau một thời gian, bà Ph có yêu cầu vợ chồng H giao bản gốc
GCNQSD đất để làm thủ tục sang tên thì H mới được ông Ph cho biết bìa đỏ
(GCNQSD đất) do UBND Krông Búk giữ. Lúc này H hỏi cụ thể thì mới
biết việc thỏa thuận giữa ông Ph và UBND xã Krông Búk, như sau:
Ông Ph đã tự thỏa thuận đổi 3.985m
2
thuộc thửa đất số 154, tờ bản đồ số
35 tại Krông Búk cho UBND xã Krông Búk để UBND xây dựng bãi rác
tập trung của xã. Đổi lại, UBND xã Krông Búk sẽ giao cho ông Ph quản tài
sản trên đất Chợ Lồng Km44, Krông Búk trong thời hạn 10 năm, từ năm
2020 đến năm 2030. Ông Ph đã giao GCNQSD đất cho UBND Krông Búk.
Tuy nhiên sau đó, người dân phản đối việc xây dựng bãi rác nên việc trao đổi
đất để xây dựng bãi rác không thành công, ông Ph cũng không được giao tài sản
trên đất chợ Lồng. việc thỏa thuận không thành đã bị hủy bnên trước đó
ông Ph không nói cho H biết, giấy tờ cũng hoàn toàn do một mình ông Ph
tên. Ông Ph cũng nói rằng đã nhiều lần đòi lại GCNQSD đất nhưng UBND
Krông Kúk vẫn đang làm th tục trả lại.
Sau đó, ông Ph bị bệnh phải lo điều trị nên không thể tiếp tục giải quyết
nhận lại giấy tờ với UBND Krông Búk. Ngày 06/5/2023, ông Ph chết. Sau
khi hoàn tất tang sự cho chồng n định lại tinh thần, H mới kiểm tra lại
giấy tờ tiếp tục liên hệ UBND Krông Búk để nhận lại GCNQSD đất. Tuy
nhiên, phía UBND Krông Búk không trả lời bằng văn bản cho H chỉ
nói miệng bảo bà H về đợi. Đến nay, UBND Krông Búk vẫn chưa giao lại
bản gốc GCNQSD đất cho bà H.
4
Liên quan đến nội dung bà Ph khởi kiện thì H c định việc chuyển
nhượng QSD đất giữa vợ chồng bà H và ông Ph với Ph là đúng sự thật, bà H
không ý kiến phản đối . Ktừ khi chuyển nhượng QSD đất đến nay, hai
bên cũng không tranh chấp vQSD đất đã chuyển nhượng. Tuy nhiên,
do khiến vợ chồng H không thgiao a đỏ cho bà Ph hoàn toàn khách
quan (do UBND Krông Búk cơ quan chức năng chưa giao lại bản gốc
GCNQSD đất cho vợ chồng H). Do đó, đề nghị a án giải quyết yêu cầu
khởi kiện của Ph theo đúng quy định của pháp luật.
Đối với số tiền mua đất còn lại 20.000.000 đồng chưa thanh toán thì giữa
H Ph thống nhất tự thoả thuận với nhau, không yêu cầu giải quyết;
Trường hợp không thống nhất được sẽ khởi kiện thành vụ án khác.
* Phía b đơn - Ông (bà) Nguyễn Thị Mai Ca, Nguyễn Thị Sơn Ca,
Nguyễn Thị Tam Ca, Nguyễn Hữu Đức có ý kiến:
Chúng tôi: Nguyễn Thị Mai C1, Nguyễn Thị Sơn C2, Nguyễn Thị Tam
C3, Nguyễn Hữu Đ con đẻ của bà H ông Ph. Bố mẹ chúng tôi có tài sản
chung GCNQSD đất sCS 001236; Nguồn gốc đất do bố mẹ chúng tôi nhận
chuyển nhượng. Chúng tôi xác định QSD đất nói trên là tài sản của bố mẹ chúng
tôi là bà H ông Ph, không liên quan đến chúng tôi.
Đến năm 2022, chúng tôi nghe bố mẹ nói không điều kiện canh
tác đất nên đã chuyển nhượng toàn bộ QSD đất nêu trên cho Ph với giá
chuyển nhượng 200.000.000 đồng. Bố mẹ tôi đã bàn giao đất cho Ph quản
sử dụng. Chúng tôi đu biết việc chuyển nhượng QSD đất như trên nhưng
không ai có ý kiến phản đối gì, vì đất của bố mẹ thì bố mẹ tự quyết định.
Ngày 06/5/2023, bố chúng tôi là ông Ph chết. Sau một thời gian, chúng tôi
nghe mẹ nói về việc Ph yêu cầu mẹ chúng i làm thủ tục sang tên
GCNQSD đất thửa đất đã chuyển nhượng cho Ph. Tuy nhiên, khi mẹ chúng
tôi kiểm tra hồ giấy tờ bố chúng tôi để lại mới biết việc GCNQSD đất số CS
001236 vẫn do UBND Krông Búk giữ. Nguyên nhân do trước đó vào năm
2019, bố chúng tôi đã thỏa thuận đổi QSD thửa đất số 154 cho UBND xã Krông
Búk để UBND xây dựng bãi rác tập trung của xã; Đổi lại, UBND Krông
Búk sẽ giao cho bố chúng tôi quản lý tài sản trên đất Chợ Lồng Km44, xã Krông
Búk trong thời hạn 10 năm từ năm 2020 đến năm 2030. Sau đó, việc thỏa thuận
bị hủy bỏ, tuy nhiên UBND Krông Búk vẫn chưa giao lại GCNQSD đất cho
bố chúng tôi nên chưa thể làm thủ tục sang tên cho bà Ph.
Nay Ph khởi kiện bố mẹ chúng tôi thì gia đình chúng tôi vẫn xác định
việc chuyển nhượng QSD đất cho Ph đúng sự thật, chúng tôi không tranh
chấp gì về việc chuyển nhượng QSD đất trên. Về việc bố mẹ chúng tôi chưa làm
thủ tục sang tên cho Ph do quan chức năng (UBND Krông Búk, nay
Ea Kly) chưa giao lại GCNQSD đất. Đnghị Tòa án giải quyết yêu cầu
khởi kiện của Ph theo đúng quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, UBND xã Krông Búk (nay là xã Ea Kly) cung
cấp các văn bản:
5
Tại Quyết định số 255/QĐ-UBND ngày 16/01/2020 của UBND huyện
Krông Pc đã quyết định thu hồi đất (do người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất)
đối với diện tích 3.985m
2
thuộc thửa đất số 154, tờ bản đồ số 35 thu hồi
GCNQSD đất số CS 001236.
Tuy nhiên tại Báo cáo số 82/BC-UBND ngày 06/10/2022 của UBND
Krông Búk (báo cáo UBND huyện Krông Pc; Phòng Tài nguyên và Môi trường
huyện) nội dung: Năm 2020 UBND Krông Buk đ nghị UBND huyện
Krông Pắc quy hoạch bãi rác tập trung của tại thửa đất số 154 tờ bản đồ số
35 diện tích 3.985m
2
, địa chỉ thửa đất tại buôn Ea Oh, xã Krông Buk của ông Ph
thường trú tại thôn Chợ Krông Buk tại Tờ trình số 07/TTr-UBND, ngày
06/10/2020 của UBND xã Krông Buk.
Ngày 10/12/2020 ông Ph đơn xin hiến đất để xây dựng bãi rác tập
trung của đối với thửa đất 154 tbản đồ số 35 diện tích 3.985m
2
. Tuy nhiên
trong quá trình triển khai thực hiện một số vướng mắc trong việc triển khai
thi công công trình Bãi rác tập trung xã Krông Buk như sau:
1. Một số hộ dân buôn Ea Oh có ý kiến khi xây dựng bãi rác tập trung của
xã không lấy ý kiến của nhân dân.
2. Một số hộ dân không đồng ý làm bãi rác cho rằng sẽ làm ô nhiễm
môi trường, ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, sức khỏe của người dân xung
quanh bãi rác.
3. Con đường đi vào bãi rác nhỏ hẹp không giải tỏa được đụng tới đến
hoa màu của con đồng bào dân tộc tại chỗ và ra ngăn cản không cho làm.
4. Một số thôn buôn đã hợp đồng với đơn vị thu gom rác tại Ea Phê;
xã Ea Kly và một số thôn, buôn nhân dân tự chôn lấp, xử lý rác thải tại nhà, trên
địa bàn xã nên không có nhu cầu xây dựng bãi rác tập trung.
Về tính pháp lý: Do không chuyển được mc đích sử dụng đất từ đất trồng
cây hàng năm khác sang đất chôn lấp rác thải. Việc đánh giá tác động môi
trường để làm bãi rác tập trung không thực hiện được.
Nay, ông Ph lấy lại đất để sản xuất ng nghiệp và đề nghị trả lại
GCNQSD đất số CS 001236. Vì vậy UBND xã Krông Buk đã lập tờ trình đề nghị
UBND huyện Krông Pắc; Phòng Tài nguyên Môi trường huyện Krông Pắc
hủy bỏ quy hoạch bãi rác tập trung Krông Buk tại vị trí thửa đất nêu trên để
trả lại đất chô ông Ph.
Tại Báo cáo số 38/BC-UBND ngày 21/5/2025 của UBND Krông k
(báo o UBND huyện Krông Pc; Phòng Nông nghiệp Môi trường huyện
Krông Pc) tiếp tục đề nghị: ...Do không thực hiện xây dựng i rác. Nay gia đình
ông Nguyễn Hữu Ph ly lại đất để sản xuất nông nghiệp đề nghị trả lại
GCNQSD đất số CS 001236. Vì vậy UBND Krông Buk đề nghị UBND huyện
Krông Pc; Phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện Krông Pắc xem xét hủy bỏ
quy hoạch bãi rác tập trung Krông Buk tại vị trị thửa đất u trên cấp lại
6
GCNQSD đất cho gia đình ông Ph đúng theo quy dịnh của pháp luật nhằm đảm
bảo quyền lợi chính đáng cho gia đình ông Ph.
Tại Báo cáo số 44/BC-UBND ngày 12/6/2025 của UBND Krông Búk
(gửi Tòa án nhân dân huyện Krông Pc) nội dung: Ngày 10/12/2020 ông Ph
đơn xin hiến đất để y dựng bãi rác tập trung của đổi với QSD thửa đất
154 theo GCNQSD đất số CS 001236.
Ông Ph giao GCNQSD đất số CS 001236 cho Phòng Tài nguyên Môi
trường huyện Krông Pắc, nay là Phòng Nông nghiệp Môi trường huyện
Krông Pắc lưu giữ (không giao GCNQSD đất số CS 001236 cho UBND
Krông Buk).
Ngày 06/10/2022, UBND Krông k đã lập Báo cáo s 82/BC-UBND
về việc đề nghị hủy bỏ quy hoạch bãi rác tập trung Krông Buk để tr lại đất
cho ông Ph sử dụng.
* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có ý kiến bổ sung:
Căn cứ các Báo cáo số 82/BC-UBND ngày 06/10/2022 của UBND
Krông Búk (báo cáo UBND huyện Krông Pc; Phòng Tài nguyên Môi trường
huyện) o cáo số 38/BC-UBND ngày 21/5/2025 của UBND Krông Búk
(báo o UBND huyện Krông Pc; Phòng Nông nghiệp Môi trường huyện
Krông Pc) đều có nội dung đề nghị: ...Do không thực hiện xây dựng bãi rác. Nay
gia đình ông Ph ly lại đất để sản xuất nông nghiệp và đề nghtrả lại GCNQSD
đất số CS 001236. Vì vậy UBND xã Krông Buk đề nghị UBND huyện Krông Pc;
Phòng Nông nghiệp Môi trường huyện Krông Pắc xem xét hủy bỏ quy hoạch
bãi rác tập trung xã Krông Buk tại vị trị thửa đất u trên cấp lại GCNQSD
đất cho gia đình ông Ph đúng theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền
lợi chính đáng cho gia đình ông Ph.
n cứ thực tế hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa Ph với ông Ph
H; Căn cứ thực tế bà Ph đã thanh toán tiền, nhận n giao - quản lý sử dụng đất
ổn định không tranh chấp, phù hợp quy hoạch sử dụng đất; Hiện nay bà H c
con Mai C1, Sơn C2, Tam C3, Hữu Đ (là người thừa kế quyền nghĩa vụ của
ông Ph) đều nguyện vọng công nhận tiếp tục hợp đồng chuyển nhượng QSD
đất cho Ph. Do đó phía nguyên đơn đề nghHội đồng t xử: ng nhận Hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 17/10/2022, giữa bà Ph với ông Ph
H hiệu lực pháp luật; Ph được quyền quản , sử dụng, canh c diện
ch đất 3.985m
2
(thuộc thửa đất số 154, tờ bản đồ số 35 (1/2000) tại Ea Kly,
tỉnh Đắk Lắk), do ông Ph H đã chuyển nhượng.
Buộc bà H và bà Mai C1, bà Sơn C2, bà Tam C3, ông Hữu Đ phải tiếp tục
thực hiện hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày 17/10/2022 phối hợp với
Ph liên hệ các quan thẩm quyền để cấp GCNQSD đất, hoàn thành thủ
tục chuyển nhượng, sang tên GCNQSD đất (đối với diện tích đất 3.985m
2
(thuộc
thửa đất số 154, tờ bản đồ s35 (1/2000) tại Ea Kly, tỉnh Đắk Lắk) cho
Ph.
7
Riêng đối với số tiền phía nguyên đơn nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm
định tại chỗ 2.000.000 đồng (đã chi phí hết). Do phía bị đơn hợp tác giải
quyết vụ án nên phía nguyên đơn tự nguyện chịu khoản tiền này.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Đắk Lắk phát
biểu quan điểm như sau:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên
tòa của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến
trước thời điểm HĐXX nghị án đã chấp hành đúng quy định ca BLTTDS.
Về thm quyền giải quyết quan hpp luật: Đây làTranh chp hợp đồng
chuyển nhượng QSD đấtthuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nn n khu vực
4 - Đắk Lắk (tớc đây a án nn n huyện Kng Pắc) theo quy định tại
khon 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điu 39 BLTTDS.
Căn cứ Điều 116, 117, 119, 129, 500, 501, 502, 503 Bộ luật dân sự năm 2015;
Điều 166, 167, 188 Luật đất đai 2013; Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu
cầu khởi kiện của nguyên đơn - Bà Phạm Thị Ph;
Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 17/10/2022,
giữa bà Phạm Thị Ph với ông Nguyễn Hữu Ph và bà Phạm Thị H hiệu lực pháp
luật; Bà Phạm Thị Ph được quyền quản lý, sử dụng, canh tác diện tích đất
3.985m
2
(thuộc thửa đất số 154, tờ bản đồ số 35 (1/2000) tại thôn Ch, K, tỉnh
Đắk Lắk), do ông Nguyễn Hữu Ph bà Phạm Thị H đã chuyển nhượng;
Buộc bà Phạm Thị H các ông (bà) Nguyễn Thị Mai C1, Nguyễn Thị
Sơn C2, Nguyễn Thị Tam C3, Nguyễn Hữu Đ phải tiếp tục thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng QSD đất ngày 17/10/2022 phối hợp với Ph liên hệ các
quan thẩm quyền đ cấp GCNQSD đất, hoàn thành thủ tục chuyển nhượng,
sang tên GCNQSD đất (đối với diện tích đất 3.985m
2
thuộc thửa đất số 154, tờ
bản đồ số 35 (1/2000) tại Ea Kly, tỉnh Đắk Lắk) cho Ph theo quy định của
pháp luật.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu cáci liệu, chng cứ có trong hồ vụ án và căn co
kết qu thẩm tra công khai các i liệu, chứng cứ tại phn a, HĐXX nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp thẩm quyền giải quyết:
Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn xác nhận của bị đơn, căn cứ h
ván, HĐXX xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án “Tranh
chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất”, thuộc thẩm quyền giải quyết của a
án nhân n khu vực 4 - Đắk Lắk (tớc đây là a án nhân n huyện Kng Pắc,
tỉnh Đắk Lắk) theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và
điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.
[2]. Về thủ tục tố tụng:
8
Tại phiên toà, người đại diện của Ph, người đại diện của H, Mai
C1, bà Sơn C2, bà Tam C3, ông Đ đều có đơn xin xét xử vắng mt; Do đó HĐXX
tiếp tục giải quyết vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227,
khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Vnội dung:
Vợ chồng H ông Ph 04 người con chung là: Mai C1, Sơn C2, Tam
C3, Hữu Đ. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng H ông Ph tài sản chung
QSD thửa đất số 154 theo GCNQSD đất sCS 001236, nhận chuyển nhượng
của bà Č Kbuôr.
Vào ngày 17/10/2022, vợ chồng ông Ph, H Hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất với Ph, nội dung như sau: ông Ph và H đồng ý
thống nhất chuyển nhượng cho Ph toàn bộ QSD thửa đất số 154 với giá
200.000.000 đồng. Sau khi hợp đồng, bà Ph thanh toán cho vợ chồng ông Ph
H 180.000.000 đồng được vợ chồng ông Ph bà H bàn giao đất để bà Ph
quản sử dụng ổn định đến nay không tranh chấp với ai. Đối với số tiền
còn lại 20.000.000 đồng, các bên thống nhất trong vòng 03 tháng vợ chồng
ông Ph sẽ giao GCNQSD đất cho Ph để tiến hành thủ tục sang tên Ph
trả hết số tiền còn lại.
Căn cứ lời trình bày xác nhận của phía nguyên đơn, phía bị đơn; Căn cứ
hiện trạng quản lý sử dụng đất của Ph, HĐXX xác định: Việc chuyển
nhượng - nhận chuyển nhượng QSD đất nói trên giữa các bên là theo nhu cầu
thực tế của các bên đã thực hiện bàn giao - nhận đất xong từ cuối m 2022,
bên mua đã thanh toán hơn 2/3 nghĩa vụ (180.000.000đ/200.000.000đ), không
ai ý kiến hay tranh chấp . Qtrình giải quyết vụ án, bà H các con
Mai C1, Sơn C2, bà Tam C3, ông Hữu Đ (người thừa kế quyền nghĩa
vụ của ông Ph đã chết) đều đồng ý với yêu cầu của Ph : Công nhận và tiếp
tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng QSD đất, sang tên GCNQSD đất cho
Ph; Còn Ph đã nhận đất, sử dụng đất ổn định, phù hợp quy hoạch sử dụng
đất, đủ điều kiện chuyển nhượng, đúng quy định của pháp luật...
Do đó, căn cứ theo quy định Điều 129 các Điều 117, 401, 500, 501,
502 Bộ luật dân sự 2015, HĐXX cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ph,
công nhận hiệu lực đối với hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa các bên;
Ph được quyền quản , sdụng diện ch đất do bà H ông Ph đã chuyển
nhượng; Đồng thời bà H các con phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển
nhượng QSD đất và phối hợp cùng H liên h quan n nước thẩm
quyền để hoàn thành thủ tục cấp lại, sangn GCNQSD đất cho bà Ph.
Mặt khác, HĐXX xét thấy: Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất ngày
17/10/2022 nói trên được công nhận hiệu lực pháp luật thực tế các bên đã
thực hiện giao - nhận QSD đất từ cuối năm 2022 nên được pháp luật bảo vệ.
Phía gia đình H chưa bàn giao GCNQSD đất cho Ph để hoàn thiện thủ tục
cấp GCNQSD đất do khách quan là: Năm 2020 ông Ph thỏa thuận hiến
đất (QSD thửa đất 154) để UBND Krông Buk xây dựng bãi rác tập trung của
9
xã; Đồng thời ông Ph đã giao lại GCNQSD đất cho quan chức năng. Tuy
nhiên đến ngày 06/10/2022, do không thực hiện xây dựng bãi rác gia đình
ông Ph ly lại đất để sản xuất nông nên UBND Krông Buk đã đồng ý đ
nghị UBND huyện Krông Pc, Phòng Nông nghiệp và Môi trường huyện Krông
Pắc cấp lại GCNQSD đất cho gia đình ông Ph đúng theo quy định của pháp luật.
đến nay do thay đổi UBND huyện, các quan chức năng nên chưa
thực hiện việc cấp GCNQSD đất lại để giao lại cho gia đình H. Như vậy, để
đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, ngay tình của Ph gia đình bà H theo hợp
đồng đã chuyển nhượng, cần kiến nghị các quan thẩm quyền cấp
GCNQSD đất (đối với QSD thửa đất 154) cấp cho H (để H thực hiện thủ
tục sang tên GCNQSD đất cho Ph) hoặc cấp cho Ph (theo hợp đồng
chuyển nhượng QSD đất đã được công nhận).
[4]. Về các nội dung liên quan khác:
- Đối với số tiền 20.000.000 đồng còn lại (trong stiền chuyển nhượng
QSD đất bà Ph chưa thanh toán) thì giữa Ph và bà H thống nhất tự thoả thuận,
thực hiện với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Do đó HĐXX không đề
cập, giải quyết. Trường hợp tranh chấp thì các bên quyền khởi kiện bằng
vụ án khác (khi đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo).
- Về nghĩa vụ nộp các khoản thuế, phí: Qtrình hợp đồng chuyển
nhượng QSD đất đến khi giải quyết vụ án, giữa các bên không ghi nhận cụ
thể, cũng không tranh chấp về nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước. Do đó khi
thực hiện thủ tục cấp, sang tên GCNQSD đất thì mỗi bên nghĩa vụ nộp các
khoản thuế, phí theo quy định của pháp luật theo thông báo cụ thể (sau này
khi làm thủ tục) tại quan thẩm quyền. HĐXX không đề cập, giải quyết về
nội dung này.
[5]. Về chi phí tố tụng khác:
Đối với số tiền phía nguyên đơn nộp tạm ứng chi phí xem xét thẩm định
tại chỗ 2.000.000 đồng (đã chi phí hết); Phía nguyên đơn tự nguyện chịu
khoản tiền này nên cần chấp nhận.
[6]. Về án phí:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bđơn phải nộp 300.000
đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm;
Nguyên đơn không phải nộp án phí dân sự sơ thẩmđược miễn nộp tạm
ứng án phí.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39 và các Điều 147, 157, 165, 227, 228, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 116, 117, 119, 129, 401, 500, 501, 502, 503 Bộ luật dân
sự 2015; Khoản 3 Điều 100, các Điều 166, 167, 169, 188 Luật đất đai 2013;
10
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, qun lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung của nguyên đơn -
Phạm Thị Ph;
1.1. Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa
Phạm Thị Ph với ông Nguyễn Hữu Ph Phạm Thị H, ngày 17/10/2022,
hiệu lực pháp luật;
Phạm Thị Ph được quyền quản lý, sử dụng, canh tác diện tích đất
3.985m
2
thuộc thửa đất số 154, tờ bản đồ số 35 (1/2000) tại xã Krông Buk, huyện
Krông Pắk, tỉnh Đắk Lắk (nay Ea Kly, tỉnh Đắk Lắk), do ông Nguyễn Hữu
Ph bà Phạm Thị H đã chuyển nhượng;
1.2. Buộc bà Phạm Thị H các ông (bà) Nguyễn Thị Mai C1, Nguyễn Thị
Sơn C2, Nguyễn ThTam C3, Nguyễn Hữu Đ phải tiếp tục thực hiện hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 17/10/2022 phối hợp với Phạm Thị
Ph liên hệ c cơ quan thẩm quyền để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cũ) số CS 001236, do Sở Tài nguyên Môi
trường tỉnh Đắk Lắk cấp ngày 15/8/2019, đăng ký biến động sang n ông Nguyễn
Hữu Ph ny 11/10/2019), hoàn tnh thủ tục chuyển nhượng, sang tên giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất ối với thửa đất số 154, tờ bản đồ số 35 (1/2000), tại:
ng Buk, huyện Krông Pắc (nay Ea Kly, tỉnh Đắk Lắk), diện ch 3.985m
2
đất trồng cây hàng năm kc) cho Phạm ThPh.
Kiến ngh cơ quan có thm quyền cấp giấy chng nhn quyn sử dụng đất
(đối với tha đất số 154, tờ bản đồ s35 (1/2000), địa chỉ thửa đất: Kông Buk,
huyn Kng Pắc, tỉnh Đắk Lắk (nay là Ea Kly, tỉnh Đắk Lắk), diện tích 3.985m
2
đất trng y ng m khác) cho bà Phạm Thị Ph theo quy định của pháp luật.
2. Về chi phí tố tụng khác:
Bà Phạm Thị Ph tự nguyện chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, số tiền
là 2.000.000 đồng (đã nộp và thực hiện xong).
3. Về án phí:
- Phạm Thị Ph không phải chu án phí dân s sơ thẩm.
- Bà Phạm ThH và các ông (bà) Nguyn ThMai C1, Nguyn ThSơn C2,
Nguyễn Thị Tam C3, Nguyễn Hữu Đ phi nộp 300.000 đng án phí n sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt quyền kháng cáo trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Tờng hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thị hành án dân sự, người phải thi hành ánn
sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền u cầu thi nh án, tnguyện thi ành
án hoặc bị ỡng chế thi hành án theo quy định tại c Điều 6; Điều 7 Điều 9
11
Luật Thi nh án dân sự; Thời hiệu thi nh án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh ĐắkLắk; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh ĐắkLắk; (Đã ký, đóng dấu)
- VKSND khu vực 4-Đắk Lắk;
- THADS Đắk Lắk;
- Các đương sự;
- Lưu: HS vụ án.
Vũ Văn Đức
Tải về
Bản án số 32/2025/DS-ST Bản án số 32/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 32/2025/DS-ST Bản án số 32/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất