Bản án số 32/2020/HS-ST ngày 20/08/2020 của TAND huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh về tội cướp giật tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 32/2020/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 32/2020/HS-ST ngày 20/08/2020 của TAND huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh về tội cướp giật tài sản
Tội danh: 136.Tội cướp giật tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Thạch Hà (TAND tỉnh Hà Tĩnh)
Số hiệu: 32/2020/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/08/2020
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ
TỈNH HÀ TĨNH
Bn án s: 32/2020/HS-ST
Ngày: 20/8/2020
CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hnh phúc
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH HÀ -TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phn Hi đồng xét x sơ thm gm có:
Thm phán - Ch to phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Hn.
Các Hi thm nhân dân:
1. Ông Trần Quang Cảnh, nghề nghiệp: Giáo viên.
2. Ông Võ Thanh Bình, nghề nghiệp: Cán bộ Đoàn thanh niên.
- Thư phiên toà: Bà Thị n Nga, Thư a án nhân n huyện
Thạch Hà.
- Đại din Vin kim sát nhân n huyện Thạch Hà tham gia phiên a:
Ông Bùi Đ Lâm, Kim sát viên.
Hôm nay, vào hồi 08 giờ ngày 20 tháng 8 năm 2020, tại Trụ sở- Toà án nhân
n huyện Thạch Hà, tỉnh Tĩnh m phiên toà xét x thẩm công khai vụ án
hình sự thẩm thụ số: 28/2020/TLST-HS, ngày 16 tháng 7 năm 2020 theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2020/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 8 năm
2020 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên Cao Xuân T, sinh ngày 07/8/1998; Giới tính: Nam.
Tại N, huyện H, tỉnh Hà nh.
i cư trú: Tn T, N, huyện H, tỉnh Tĩnh .
Nghnghiệp: Lao đng tự do; Trình độ học vấn: Lớp 6/12;
n tộc: Kinh; Tôn giáo: Kng; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Cao Văn B, sinh năm 1971 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1976.
Anh, chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình.
Vợ (sng chung như v chồng nng chưa đăng ký kết hôn) với ch Nguyn Th T T, sinh
năm 2002.
Con: Chưa có.
*Tin án, tin sự: Không.
*Nhân tn: Ny 21/01/2013 bCh tịch U ban nn dân huyn Thạch Hà, tnh Hà
Tĩnh ra quyết đnh số 402 đưa vào trường giáo dưng, cơ s giáo dc thi gian 18 tháng,
đã thi nh xong tháng 11/2014.
2
*Biện pháp ngăn chặn: Bị o bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 31/3/2020 cho
đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh. ( mặt tại
phiên tòa).
2. Họ và tên Nguyễn Văn O (Tên gọi khác Nguyễn Quang O), sinh ngày 01/5/1995;
Giới tính: Nam.
Tại S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
i cư trú: Thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Hành.
Nghnghiệp: Lao đng tự do; Trình độ học vấn: Lp 9/12;
n tộc: Kinh; Tôn giáo: Kng; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1964 và bà Cao Thị Y, sinh năm 1967.
Anh, chị em ruột: có 04 người, bị cáo là con thứ trong gia đình.
Vợ, con: Ca có.
*Tin án: Có 02 tin án, cth: Ti bn án hình s thẩm số 35/2017/HSST, ny
04/8/2017 của Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông xử phạt bị cáo 09 tháng
tù v tội Lm dng tín nhim chiếm đot tài sn; Ti bản án hình sự sơ thẩm s
472/2018/HSST, ny 24/10/2018 ca Tòa án nn n thành ph Vinh, tỉnh NghAn xử
pht bcáo 18 tng tù vtiTàng trữ ti phép cht ma túy’’. B cáo đã chp hành xong
hình pht nhưng chưa đưc xóa án tích.
*Tin sự: Không.
*Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 31/3/2020 cho
đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt tại
phiên tòa).
3. Họ và tên Nguyễn Hữu H, sinh ngày 01/4/2004; Giới tính: Nam.
Tại TLH, huyện H, tỉnh Hà nh.
i cư trú: Thôn T, TLH, huyện H, tỉnh nh.
Nghnghiệp: Lao đng tự do; Tnh độ học vấn: Lớp 8/12;
n tộc: Kinh; Tôn giáo: Kng; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Nguyễn Hữu V, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1974.
Anh, chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.
*Vợ, con: Chưa có.
*Tin án, tin sự: Không.
*Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể tngày 31/3/2020 cho
đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt tại
phiên tòa).
*Ni đi din hp pp ca bcáo Nguyn Hu H:
Bà Nguyn Th N, sinh năm 1974. (Có mt)
Nơi cư trú: Thôn T, TLH, huyn H, tỉnh Hà nh.
*Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu H ông Nguyễn Khánh Toàn - Trợ
giúp viên pháp lý thuộc Trung T Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).
*Người bị hại:
3
1. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1980; Nghề nghiệp: Lao động tdo. Nơi trú:
Xóm 4, Tiền Yên, huyện Hi Đ, thành phố Nội. Chị T uỷ quyền cho chị
Dương Thị Thuỷ, sinh năm 1980; Địa chỉ: Thôn Yên Trung, xã TLH, huyện Thạch
Hà, tỉnh Hà Tĩnh tham gia tố tụng. (Có mặt)
2. Chị Trần Thị Huyền Trang, sinh năm 2000; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Nơi cư trú: Thôn Trung H, xã TLH, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
3. Chị Nguyễn Thị Thuý Anh, sinh năm 1991; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Nơi cư trú: Tổ dân phố 3, phương Đại Nài, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh.
4. Anh Nguyễn Giáp Đô, sinh năm 2002;
Nơi cư trú: Thôn Sông H, xã Thạch Sơn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
(Chị Trang, chị Anh và anh Đcó Đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt)
*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1974; Nghề nghiệp: Lao động tự do.(Có mặt)
Nơi cư trú: Thôn T, xã TLH, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
2. Anh Nguyễn Tự Đ, sinh năm 1994; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
i cư trú: Thôn N, xã Thạch V, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh
(Anh Đ có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt)
3. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1989; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Nơi cư trú: Thôn Thanh L, xã Đỉnh Bàn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
(Anh Nguyễn Văn D có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt)
4. Anh Dƣơng Văn D, sinh năm 1986; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Nơi cư trú: Số nhà 197, đường Nguyễn B, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh.
(Anh Dương Văn D có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt)
5. Anh Ngô Phúc L, sinh năm 2000; Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh.
(Anh L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt)
6. Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 2001; Nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt)
Nơi cư trú: Thôn T, xã TLH, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh.
*Đại diện Uỷ ban nhân dân xã TLH, huyện Thạch Hà:
Trần Thị Yên, chức vụ: Phó
Chủ tịch. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian t ngày 25/3/2020 đến ngày 29/3/2020 các b cáo Cao Xuân
T, Nguyn Văn O Nguyn Hu H đã nhiu ln cùng nhau sử dng xe mô tô đ đi cưp
git tài sn, c th như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 25/3/2020, Cao Xuân T, nói với
Nguyễn Văn O Nguyễn Hữu H “Tý ta đi làm hè” ý của T là rủ O và H đi cướp
giật tài sản. O H hiểu ý T là rủ đi cướp giật tài sản, nên đồng ý. Đến khoảng 17
4
giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38H6-5401 chở Nguyễn Văn O
ngồi phía sau, còn Nguyễn Hữu H một mình điều khiển xe biển kiểm st
38M1-361.32. Trên đường đi thì O chuyển sang ngồi sau xe do H điều khiển.
Khi đi đến khu vực chợ Chiều thuộc địa phận xã TLH, huyện H, thì T phát hiện thấy
chị Nguyễn Thị T, ttại xóm 4, Tiền Yên, huyện Hi Đ, Nội điều khiển xe
máy điện ngược chiều, trên tay đang cầm 01 chiếc điện thoại di động. Thấy vậy, T
điều khiển xe mô quay trở lại, đồng thời nói với O H “có cái y này dễ lấy
này”, H hiểu ý nên điều khiển xe mô tô quay trở lại theo T, khi cả bọn đi đến chỗ
chị T nhưng thấy đông người nên H lái xe đi thẳng còn T dừng xe mô lại bên
đường. Khi chị Nguyễn Thị T điều khiển xe máy điện đi qua, T điều khiển xe mô tô
vượt lên giật lấy chiếc điện thoại di động của chị T, rồi điều khiển xe bỏ chạy. Khi
thấy T đã cướp giật được điện thoại di động của chị T thì O nói với H T giật được
rồi, chạy đi”, nên H điều khiển xe chạy theo, trên đường về T nói với H và O
“Khi nãy giật được cái OPPO”. Sau đó, T đưa chiếc điện thoại di động OPPO F11
PRO vừa cướp được đi đến cửa hàng điện thoại di động D Nguyễn” phường
Huy Tp, thành phố H, tại đây T bán cho anh Nguyễn Văn D, với giá 3.200.000
đồng. T đưa cho H số tiền 500.000 đồng, còn lại 2.700.000 đồng T, O H cùng
nhau tiêu xài nhân hết. Sau khi mua chiếc điện thoại di động nói trên, anh
Nguyễn n D đã bán cho một khách qua đường với giá 3.200.000đ nhưng không
rõ địa chỉ, nên không thu giữ được.
Theo kết luận số 15/KLĐG, ngày 27/4/2020 của Hội đồng định giá tài sản
trong tố tụng hình sự huyện Thạch thì chiếc điện thoại di động OPPO F11 PRO
nói trên có trị giá là 3.200.000 đồng.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 18 giờ 15 phút ngày 26/3/2020, khi Cao Xuân T
Nguyễn Văn O đang cùng nhau, O nói với T “Ta đi làm hè”, T đồng ý. Sau đó, T
điều khiển xe biển kiểm soát 38H6-5401 chở O ngồi phía sau, khi đi đến khu
vực quán Karaoke Hương Trà thuộc địa phận TLH, huyện H, phát hiện thấy chị
Trần Thị Huyền T đang điều khiển xe tô, trên tay cầm 01 điện thoại di động
Iphone 7Plus. Thấy vậy, T tăng ga, điều khiển xe chạy lên áp sát xe của chị
Trang, lúc này O dùng tay giật lấy chiếc điện thoại di động của chị T rồi tăng ga bỏ
chạy theo hướng đi vào huyện Cẩm Xuyên. Sau đó, T đã bán chiếc điện thoại này
cho anh Ngô Phúc L, trú tại xã C, huyện Cvới số tiền là 1.500.000 đồng. Số tiền này
T O đã tiêu xài nhân hết. Sau khi vụ án bị phát hiện, anh Ngô Phúc L đã tự
nguyện giao nộp lại chiếc điện thoại di động Iphone7Plus nói trên cho quan
Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Hà.
Theo kết luận số 15/KLĐG ngày 27/4/2020, của Hội đồng định giá tài sản
trong tố tụng hình sự huyện Thạch Hà thì chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus nói
trên có trị giá là 1.200.000 đồng.
Vụ thứ ba: Vào khoảng 18 giờ ngày 29/3/2020, khi cả 03 người đang cùng
phòng trọ thì Cao Xuân T nói với O H “Đi vòng hè” O H đồng ý. Sau đó, H
điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38M1-361.32 chở T, còn O một mình điều khiển
xe mô biển kiểm soát 38H6-5401. Trên đường đi thì O giao xe cho T, rồi
chuyển sang ngồi phía sau xe mô do H điều khiển. Khi đi đến địa phận phường
Huy Tập, thành phố H (trước khu vực tòa nhà VINCOM) phát hiện thấy chị
5
Nguyễn Thị Thúy A đang ngồi trên chiếc xe máy điện dng sát lề đường trên tay
đang cầm 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57. Thấy vậy cả bọn quay
trở lại, khi H điều khiển xe đi ngang qua vị trí chị Thúy A đang ngồi thì O
dùng tay giật chiếc điện thoại trên tay của chị A rồi bỏ chạy về phòng trọ cất dấu.
Mặc hành vi phạm tội của Cao Xuân T, Nguyễn Văn O Nguyễn Hữu H
tối ngày 29/3/2020 tại địa phận phường Huy Tập, thành phố H là thuộc thẩm
quyền xử của các quan tiến hành tố tụng thành phố H. Nhưng vì trong cùng
một vụ án nên quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã căn cứ khoản 4
Điều 163 Bộ luật Ttụng hình sự, chuyển tin báo nói trên cho Cơ quan Cảnh sát
điều tra Công an huyện Thạch Hà xử cùng vụ án.
Vụ thứ : Sau khi cướp giật được điện thoại của chị Nguyễn Thị Thúy A
thành phố H thì Cao Xuân T, Nguyễn Văn O Nguyễn Hữu H tiếp tục điều khiển
xe đi ra thị trấn H. Khi đi đến khu vực Cầu Cúc cbọn phát hiện thấy anh
Nguyễn Giáp Đ đang ngồi trên xe máy điện dừng bên đường, trên tay đang cầm điện
thoại di động nhãn hiệu VIVO màu trng. T, O và H điều khiển xe mô quay trở
lại, khi H điều khiển xe đi ngang qua vị trí anh Đ đang ngồi thì O dùng tay
giật lấy chiếc điện thoại của anh Đ rồi bỏ chạy đi về phòng trọ thành phố H. Sau
đó O đưa chiếc điện thoại di động VIVO vừa cướp giật được cho T cất giữ.
Sáng ngày 30/3/2020, O đưa chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57
đến quán cầm đồ Hng Anh” tại địa chỉ 197, đường Nguyễn B, thành phố H do anh
Dương Văn D làm chủ, cắm được số tiền 300.000 đồng. O đưa cho T 100.000 đồng,
còn lại 200.000 đồng dùng để mua khẩu trang mua xăng cho hai xe hết.
Còn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO cướp giật được của anh Nguyễn Giáp
Đthì T đem cho anh Nguyễn Hữu H (là anh trai của H) .
Sau khi vụ án bị phát hiện, anh Dương Văn D anh Nguyễn Hữu H đã tự
nguyện giao nộp lại hai chiếc điện thoại di động nói trên cho Cơ quan Cảnh sát điều
tra Công an huyện Thạch Hà.
Theo kết luận số 15/KLĐG, ngày 27/4/2020 của Hội đồng định giá tài sản
trong tố tụng hình sự huyện Thạch Hà thì chiếc điện thoại di động OPPO A57 trị
giá là 770.000 đồng và chiếc điện thoại di động VIVO có trị giá là 690.000 đồng.
Vật chứng thu giữ được, bao gồm: 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu
IPHONE, loại 7 Plus, màu hồng, sIMEI: 359171077504419, máy đã qua sử dụng;
01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO, loại A57, màu vàng đồng, số IMEI
1:865259030272096, số IMEI 2:865259030272088, máy đã qua sdụng; 01 chiếc
đin thoi di động, nhãn hiệu VIVO, loại X6S plus D, màu trắng, số IMEI 1:
862025039690619, số IMEI 2: 862025039690601, máy đã qua sdụng; 01 chiếc đin
thoại di đng nn hiu HUAWEI, màu đen, màn hình có nhiu vết nứt v, đã qua s
dng, có gắn s thuê bao 0859.769.120; 01 chiếc đin thoi di đng nhãn hiu ITEL, màu
đen, s IMEI1: 359623091013249; S EMEI2: 359623091013256; S EMEISV: 1, đã
qua sử dng, có gn s thuê bao 0362.614.748; 01 chiếc xe nhãn hiệu NAORI,
màu nâu, biển kiểm soát 38H6-5401, xe đã qua sử dụng (Kèm theo giấy chứng nhận
đăng xe); 01 chiếc xe nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE, màu sơn xanh
đen bạc, biển kiểm soát 38M1-361.32, xe đã qua sử dụng (Kèm theo giấy chứng
6
nhận đăng xe); 01 mũ i trai màu đỏ, tn mũ hàng ch Porsche”, đã qua s
dụng; 01 áo sơ mi dài tay màu trắng, có thêu dòng chữ “KOG”.
Đến ngày 17, 18 và 30/6/2020, xét thấy khôngnh ởng đến công tác điều tra,
truy tố, xét xử nên quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch đã trả lại i
sản cho c chủ sở hữu, cụ thể: Trả lại chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE
7 Plus cho chị Trần Thị Huyền T; Trlại chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO,
loi X6Splus D cho anh Nguyễn Gp Đ; Trả lại chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu
OPPO, loại A57 cho chị Nguyễn Thị Thúy A; Trả lại 01 chiếc xe mô nhãn hiệu
HONDA, loại xe WAVE, màu sơn xanh đen bạc, biển kiểm soát 38M1-361.32 cho
Nguyễn Thị N; Trả lại 01 chiếc xe nhãn hiệu NAORI, màu nâu, biển kiểm
soát 38H6-5401 cho anh Nguyễn Tự Đ.
Còn lại 01 chiếc đin thoi di động nhãn hiu HUAWEI, màu đen, n trong có
gn sthuê bao 0859.769.120; 01 chiếc điện thoi di đng nhãn hiu ITEL, màu đen, bên
trong có gắn s th bao 0362.614.748; 01 mũ lưi trai màu đỏ và 01 áo mi dài tay
màu trắng, thêu dòng chữ “KOG”. Đến ngày 15/7/2020, Viện kiểm sát nhân dân
huyện Thạch Hà đã ra quyết định chuyển số vật chứng này từ cơ quan Cảnh sát điu
tra Công an huyn Thạch Hà đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch để
quản lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi được nhận lại tài sản bị chiếm đoạt thì các bị
hại gồm chị Trần Thị Huyền T, chị Nguyễn Thị Thúy Avà anh Nguyễn Giáp
Đkhông yêu cầu bồi thường thêm. Đối với bị hại Nguyễn Thị T do không thu
giữ được tài sản là chiếc điện thoại đi động OPPOF11 PRO nên đã ủy quyền cho chị
ơng Thị T, trú tại thôn n Trung, TLH, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh đại diện u
cầu các bị cáo bồi thường trị giá thiệt hại chiếc điện thoại với số tiền 3.000.000 đồng.
Đến nay, gia đình bị cáo Nguyn Hữu H đã tự nguyện bồi thường cho chị T số tiền
3.000.000 đồng, hiện chị Thủy không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Ngoài ra những người liên quan gồm anh Dương Văn D chủ cửa hàng
cầm đồ Hng Anh 197, đường Nguyễn B, thành phố H; Anh Ngô Phúc L trú tại
C, huyện Ccũng kng có yêu cầu bồi thường gì về phần dân s.
Bản cáo trạng số 31/CT-VKSTH, ngày 15/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân
huyện Thạch đã truy tố các bị cáo Cao Xuân T Nguyễn Hữu H về tội “Cướp
giật tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 BLHS; Bị cáo Nguyễn n
O về tội Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d điểm i khoản 2 Điều 171
BLHS.
Tại phiên tòa thẩm hôm nay, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện
Thạch giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm ncáo trạng đã truy tố,
đồng thời phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như
nhân thân các bị cáo đề nghị HĐXX xáp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; Điều
17; Điều 58; Điểm g, o khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị
cáo Cao Xuân T mức án từ 48 tháng đến 54 tháng tù, thời hạn tính tngày b
cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 31/3/2020. Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171;
Điều 17; Điều 58; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt
bcáo Nguyễn Văn O mức án từ 60 tháng đến 66 tháng, thời hạn tính từ ngày bị
cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 31/3/2020. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171;
7
Điều 17; Điều 58; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 54; Điều 90; Điều 91 và Điều 101 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu H mức
án từ 18 tháng đến 24 tháng, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam
ngày 31/3/2020. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bồi thường
gì thêm nên miễn xét.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a, c khoản
2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu hóa giá nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di
động nhãn hiệu HUAWEL thu giữ của bị cáo Nguyễn Hữu H; 01 điện thoại di động
nhãn hiệu ITEL của bị cáo Cao Xuân T. Tịch thu tiêu hủy 02 sim điện thoại s
thuê bao là 0859.769.129 và 0362.614.748; 01 mũ lưỡi trai màu đỏ; 01 áo sơ mi dài
tay màu trắng.
Về khoản tiền thu lợi bất chính: Truy thu từ bị cáo Cao Xuân T số tiền
850.000đ, bị cáo Nguyễn Văn O số tiền 950.00 tiền thu lợi bất chính.
Về án phí: Các bị cáo Cao Xuân T, Nguyễn Văn O pH chịu án phí hình sự
thẩm theo quy định của pháp luật. Riêng bị cáo Nguyễn Hữu H khi phạm tội đang là
trẻ em nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa Trợ giúp viên pháp Nguyễn Khánh Toàn phát biểu bài bào
chữa cho bcáo Nguyễn Hữu H với nội dung Trợ giúp viên Hn toàn đồng tình với
quan điểm đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh đối với bị cáo Nguyễn
Hữu H. Đối với phần hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm
nhẹ cho bị cáo như: Bị cáo tham gia trong vụ án với vai trò đồng phạm giúp sức, khi
phạm tội đang là trẻ em, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã
tác động với gia đình bồi thường hậu quả thiệt hại cho người bị hại, Hn cảnh gia
đình nhiều khó khăn, tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền chị Thủy đề nghị Hội
đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. vậy, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị
cáo được hưởng mức án thấp nhất có thể để vừa răn đe, vừa giáo dục bị cáo, tạo cho
bị cáo cơ hội để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Tại phiên tòa, các bị cáo Cao Xuân T, Nguyễn Văn O và Nguyễn Hữu H đã
khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên thừa nhận quyết định truy
tố của Viện kiểm sát là đúng.
Tại phiên tòa Nguyễn ThN người đại điện hợp pháp của bị cáo Nguyễn
Hữu H không có ý kiến gì tranh lun vi quan điểm đ nghgii quyết vụ án ca Kim sát
viên, chxin Hội đng xét xxem t gim nh hình pht cho bcáo.
Tại phiên tòa chị Dương Thị Thủy người được bị hại y quyền Hn toàn đồng
tình với quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của Kiểm sát viên và không có ý kiến gì
tranh luận thêm, chỉ xin Hội đồng xét xxem xét giảm nhẹ hình phạt cho bcáo
Nguyễn Hữu H.
Tại phiên tòa người những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm
Nguyễn Thị N và anh Trần Văn H không có kiến gì tranh luận lại với quan điểm giải
quyết vụ án của Kiểm sát viên, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo Nguyễn Hữu H.
Tại phiên tòa bà Trần Thị Yên đại diện chính quyền Uỷ ban nhân dân xã TLH
trình bày: Qúa trình sinh sống tại địa phương bản thân gia đình bị cáo Nguyễn
Hữu H luôn chấp hành đầy đủ các quy định của địa phương, từ trước đến nay bị cáo
8
cũng chưa hề vi phạm pháp luật, gia đình thuộc diện khó khăn, bị cáo phạm tội là do
nhận thức pháp luật phần hạn chế do bị rủ lôi kéo. vậy, đề nghị Hội đồng
xét xử căn cứ quy định của pháp luật để xử phạt bị cáo một mức án phù hợp vừa có
tính răn đe lại vừa có tính giáo dục đối với bị cáo.
Bị cáo Cao Xuân T nói lời sau cùng: Kính thưa Hội đồng xét xử bị cáo đã
nhận thức được sai phạm của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình
phạt cho bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Văn O nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xxem xét
giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Hữu H nói lời sau cùng: Bị o xin Hội đồng xét xử xem xét
giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an huyện Thạch
Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Hà, Kiểm sát viên trong quá
trình điều tra, truy tđã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định
của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra tại phiên tòa các bị cáo, đại diện
hợp pháp của bị cáo, bị hại, Trợ giúp viên pháp lý, người quyền lợi nghĩa vụ
liên quan không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo Hội đồng xét xử nhận thấy: Tại phiên
tòa sơ thẩm hôm nay các bị cáo Cao Xuân T, Nguyễn Văn O và Nguyễn Hữu H khai
nhận trong khoảng thời gian từ ngày 25/3/2020 đến ngày 29/3/2020, trên các tuyến
đường thuộc địa phận các TLH, thị trấn Thạch Hà, huyện Thạch phường
Huy Tập, thành phố H các bcáo Cao Xuân T, Nguyễn Văn O Nguyễn Hữu
H đã nhiều lần cùng nhau sử dụng xe để thực hiện hành vi “Cướp giật tài
sản”, trong đó bị cáo T O thực hiện 04 lần, còn bị cáo H thực hiện 3 lần. Tổng trị
giá tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt của 04 người bị hại với tổng số tiền 5.860.000đ.
Riêng bị cáo Nguyễn Hữu H tham gia 3 lần với g trị tài sản chiếm đoạt
4.660.000đ. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay Hn toàn phù hợp
với nhau, phù hợp với lời khai của người bị hại, với vật chứng thu giđược các
tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.
Các bị cáo Cao Xuân T, Nguyễn Văn O và Nguyễn Hữu H là những người
đầy đủ năng lực trách nhiệm nh sự nhận thức được hành vi cướp giật tài sản
của người khác vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Các bị cáo sử
dụng xe mô tô làm phương tiện để cướp giật tài sản của những người đi đường thuộc
trường hợp sử dụng “thủ đoạn nguy hiểm nên nh vi của các bị o đã đủ yếu tố
cấu thành tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình
sự; Bị cáo O bị áp dụng thêm nh tiết tăng nặng định khung tái phạm nguy hiểm
quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 BLHS. Điểm d, i khoản 2 Điều 171 BLHS
quy định: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 đến
9
10 năm: d. Dùng thủ đoạn nguy hiểm”, i. Tái phạm nguy hiểm”. vậy, khẳng
định quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch đối với các bị
cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai.
[3]. Xem xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội Hội đồng xét xử t
thấy rằng hành vi các bị o đã thực hiện là nguy hiểm cho hội bất chấp hậu
quả xảy ra bất chấp cả sự trừng trị của pháp luật. Hành vi của các bị cáo đã xâm
phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật hình sự ghi
nhận bảo vệ, gây T hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây mất
trật tự trị an xã hội và tác động xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương.
Đây vụ án đồng phạm nhưng mang tính chất đồng phạm giản đơn trong
đó, bị o Cao Xuân T giữ vài trò chính, người rủ khởi xướng, trực tiếp thực
hiện hành vi chuẩn bị phương tiện đthực hiện việc cướp giật tài sản. Bị cáo
Nguyễn Văn O và Nguyễn Hữu H những người thực hành tích cực. Xét vnhân
thân bị cáo T O những người nhân thân xấu, trong đó bị cáo T từng bị đưa
vào trường giáo dưỡng, bị cáo O 02 tiền án về các tội “Lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên lần phạm tội này
thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. thế, khi quyết định hình phạt cũng cần
pH phân hóa vai trò trách nhiệm của từng bị cáo trong vụ án.
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo nghiêm trọng thể hiện sự táo bạo, liều
lĩnh coi thường pháp luật, vì vậy, cần thiết pH có mức hình phạt nghiêm khắc tương
xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện. Cần pH
cách ly các bị cáo ra khỏi hội một thời gian dài, nhằm thức tỉnh ý thức tôn trọng
chấp hành pháp luật của các bị cáo, góp phần đấu tranh, phòng ngừa ngăn chặn đối
với loại tội phạm này.
[4].Về xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị
cáo đều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên, bị cáo
T thêm tình tiết tăng nặng là xúi dục người chưa thành niên phạm tội. Đây là các
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, o khoản 1 Điều 52
BLHS. Các bị cáo đều tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, bị cáo H
thêm tình tiết giảm nhđã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả thiệt hại, thời
điểm phạm tội bị cáo đang độ tuổi vị thành niên mới chỉ mới 15 tuổi 11 tháng 25
ngày, người bị hại đnghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đây các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1
2 Điều 51 BLHS.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Các bcáo không ngh nghiệp ổn định, không
tài sản riêng hơn nữa bị cáo H người dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình
phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay, bị hại chị Trần Thị Huyền
Trang, chị Nguyễn Thị Thúy Avà anh Nguyễn Giáp Đvắng mặt nhưng qua hồ sơ th
hiện đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt các điện thoại I Phone 7Plus, OPPO loại
A57, VIVO loại X6S plus hiện không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng
xét xử không đặt ra xem xét. Đối với bị hại chị Nguyễn Thị T đã ủy quyền cho chị
Dương Thị Thủy yêu cầu các bị cáo pH bồi thường chiếc điện thoại nhãn hiệu
OPPO F11PRO với số tiền 3.000.000đ. Nay gia đình bị cáo cáo Nguyễn Hữu H đã
10
tự nguyện bồi thường số tiền này, tại phiên tòa chị T cũng không có yêu cầu gì thêm
nên miễn xét.
Ngoài ra, những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm anh Dương
Văn D và anh Ngô Phúc L là những người đã nhận cầm và mua lại các điện thoại di
động do các bị cáo đem bán, nay anh D anh L cũng không yêu cầu các bị cáo
trả lại số tiền này nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Đối với số tiền 3.000.000đ mà bị cáo Nguyễn Hữu H tác động với gia đình để
bồi thường cho người bị hại chị Nguyễn Thị T, tại phiên tòa bị cáo H và đại diện
hợp pháp của bị cáo H bà Nguyễn Thị N đã cho 02 bị cáo T và O số tiền mà gia đình
bị cáo H đã bỏ ra để bồi thường cho người bị hại. Vì vậy Hội đồng xét xử không đặt
ra xem xét.
[7].Về tiền thu lợi bất chính: Tại phiên tòa bị cáo Cao Xuân T khai nhận
nhận, sau khi cướp giật được chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11PRO
của chị Nguyễn Thị T, T đã đem bán cho Nguyễn Văn D với giá 3.200.000đ. Chiếc
điện thoại này sau đó anh D cũng đã bán lại cho một người khách qua đường với số
tiền 3.200.000đ, hiện nay không thu giữ được. Số tiền này các bị cáo đã chia nhau
tiêu xài hết, nay đại diện gia đình bị cáo H đã tự nguyện bỏ ra số tiền 3.000.000đ để
bồi thường cho người bị hại chị Nguyễn Thị T. Tại phiên tòa chị Dương Thị Thủy
người đại diện theo ủy quyền của chị T cũng không yêu cầu các b cáo pH bồi
thường thêm. Nguyễn Thị N đại diện hợp pháp của bị cáo H cũng đã tự
nguyện cho các bị cáo T O số tiền bà đã bỏ ra đã bồi thường cho bị hại. Các
bị o T, O H đã thực hiện việc bồi thường trách nhiệm dân sự cho chị Nguyễn
Thị T, vì thế không truy thu số tiền 3.200.000đ từ các bị cáo T, O và H.
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus mà T và O cướp giật
của chị Trần Thị Huyền T, T đem bán cho anh Ngô Phúc L với giá 1.500.000đ số
tiền này hai bị cáo T O chia nhau tiêu xài. Còn chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO
A57 cướp giật được của chị Nguyễn Thị Thúy Abị cáo O đem cắm cho anh Dương
Văn D được số tiền 300.000đ. Số tiền này Nguyễn Văn O đưa cho T 100.000đ còn
200.000đ O sử dụng vào mục đích cá nhân. Nay những người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan anh Ngô Phúc L Dương Văn D không yêu cầu các bị cáo pH trả lại
số tiền này, thế Hội đồng xét xxét thấy cần truy thu số tiền thu lợi bất chính
1.800.000đ từ các bị cáo T O để nộp Ngân sách Nhà nước. Trong đó, truy thu từ
bị cáo Cao Xuân T số tiền 850.000đ, còn bị cáo Nguyễn Văn O số tiền 950.000đ.
[8]. Về xử vật chứng: Đối với xe hiệu NAORI, màu nâu, Biển kiểm
soát 38H6-5401, là tài sản thuộc sở hữu của anh Nguyễn Tự Đ cho bị cáo Cao Xuân
T mượn. Còn chiếc xe nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn xanh, đen,
bạc, biển kiểm soát 38M1-361.32, tài sản của Nguyễn Thị N mẹ ruột bị cáo H
cho bị cáo mượn. Việc các bị cáo sử dụng 02 xe mô tô làm phương tiện phạm tội thì
anh Đ và bà Nguyệt Hn toàn không biết nên không có sở để xử lý đối với anh Đ,
Nguyệt và xe mô tô. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng trao trả 02 xe
nói trên cho chủ sở hữu. Sau khi nhận lại tài sản, anh Đ bà Nguyệt không
có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Qúa trình điều tra, quan điều tra đã thu giữ 02 điện thoại di động trong đó
thu giữ của bị cáo Nguyễn Hữu H 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, bên
11
trong có gắn thẻ sim có số thuê bao 0859.769.120 thu giữ của bị cáo Cao Xuân T
01 điện thoại di động nhãn hiệu ITEL, bên trong gắn thẻ sim có s thuê bao
0362.614.748, xác định đây các công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng liên
lạc với nhau để thực hiện hành vi cướp giật tài sản nên cần tịch thu hóa giá nộp ngân
sách Nhà nước. Đối với 02 chiếc thẻ sim số thuê bao 0859.769.120
0362.614.748 không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của
pháp luật.
Đối với 01 lưỡi trai 01 áo mi dài tay màu trắng thu giữ của bị cáo
Nguyễn Văn O tại phiên tòa bị cáo cũng không có nhu cầu nhận lại, hơn nữa các vật
này ng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp
luật.
[9]. Ván phí: Các bị cáo Cao Xuân T Nguyễn n O pH chịu án phí nh
sự thẩm theo quy định của pháp luật. Đối với bị cáo Nguyễn Văn O khi phạm tội
đang trem, tại phiên tòa đã đơn xin miễn án pthế Hội đồng xét xử miễn án
phí hình s thẩm cho bo Nguyn Hữu H.
Liên quan trong vụ án này còn có, anh Nguyễn Văn D chcửa hàng điện thoại
di động D Nguyn” người đã mua chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F11
PRO; Anh Ngô Phúc L người đã mua chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone
7 Plus; anh Dương Văn D là chủ cửa hàng cầm đồ Hng Anh, đã nhận cầm cắm chiếc
điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57; Anh Nguyễn Hữu H người được Cao
Xuân T cho chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, loại X6Splus đu là tài sản do
Cao Xuân T đồng bọn phạm tội mà . Tuy nhiên, quá trình giao dịch mua bán,
cho cầm cắm tanh Nguyn Văn D, anh Ngô Phúc L, anh Nguyễn Hữu H
anh Dương Văn D đều không biết là tài sản do phạm tội mà có nên không đủ căn cứ
để xem xét xử lý trách nhiệm hình sự đối với những người này.
Đối với anh Nguyễn Tự Đ, sinh năm 1994, cho bị cáo Cao Xuân T mượn
chiếc xe biển kiểm soát 38H6-5401 Nguyễn ThN cho con Nguyễn
Hữu H mượn chiếc xe biển kiểm soát 38M1-361.32, nhưng sau khi mượn xe
các bị cáo đã sử dụng làm phương tiện phạm tội. Tuy nhiên, khi cho mượn xe thì
anh Đ Nguyệt không biết các bị cáo sử dụng xe để làm phương tiện
phạm tội cũng không được hưởng lợi nên không đủ căn cứ để xử trách
nhiệm hình sự đối với những người này.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Cao Xuân T, Nguyễn Văn O
Nguyễn Hữu H phạm tội “Cướp giật tài sản”.
*Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 17; Điều 58; Điểm g, o khoản 1
Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Cao Xuân T 54 (Năm mươi
) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày
31/3/2020.
*Căn cứ vào điểm d, i khoản 2 Điều 171; Điều 17; Điều 58; Điểm g khoản 1
Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS xphạt bị cáo Nguyễn Văn O 60 (Sáu
12
mươi) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày
31/3/2020.
*Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171; Điều 17; Điều 58; Điểm g khoản 1
Điều 52; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 90, Điều 91 Điều
101 BLHS xphạt bị cáo Nguyễn Hữu H 24 (Hai mươi ) tháng tù. Thời hạn
tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 31/3/2020.
[3]. Về áp dụng các biện pháp tư pháp:
*Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm b khoản 2 Điều 106
BLTTHS truy thu nộp ngân sách Nnước tổng số tiền 1.800.000đ, trong đó từ bị
cáo Cao Xuân T số tiền 850.000đ (Tám trăm năm mươi ngàn đồng); Bcáo Nguyễn
Văn O số tiền 950.00 (Chín trăm năm mươi ngàn đồng) tiền thu lợi bất chính.
*Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; Điểm a, c khoản 2 Điều 106
BLTTHS:
- Tịch thu hóa giá nộp ngân sách Nhà nước: 01(Một) điện thoại di động nhãn
hiệu ITEL (thu giữ của bcáo Cao Xuân T); 01(Một) điện thoại di động nhãn hiệu
HUAWEI (thu giữ của bị cáo Nguyễn Hữu H).
- Tịch thu tiêu hủy: 01(Một) mũ lưỡi trai, 01(Một) áo mi dài tay màu trắng
(thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn O); 01(Một) thẻ sim điện thoại di động số thuê
bao 0362.614.748 (thu giữ của bị cáo Cao Xuân T); 01(Một) thẻ sim điện thoại di
động có số thuê bao 0859.769.120 (thu giữ của bị cáo Nguyễn Hữu H).
(Đặc điểm, tình trạng tang vật tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày
15/7/2020 giữa quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thạch Chi cục thi
hành án dân sự huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh)
[3]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm
đ, khoản 1 Điều 12; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp quản sử dụng án phí lệ phí Tòa án xử buộc các bị cáo Cao Xuân T
Nguyễn Văn O mỗi bị cáo pH chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình
sự sơ thẩm; Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Hữu H.
[4]. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo, Đại diện hợp pháp của bị cáo, Trợ
giúp viên pháp lý, Bị hại, Đại diện hợp pháp của bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày,
kể từ ngày tuyên án.
Đối với người bị hại, người quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại
phiên tòa quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, ktừ ngày nhận được bản
án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
- Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
13
- TAND tỉnh Hà Tĩnh;
- S Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh;
- VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
- VKSND huyn Thch Hà;
- Công an huyn Thch Hà;
- Chi cc Thi hành án dân s huyn Thch Hà;
- Tr giúp viên pháp lý;
- B cáo;
- Người đại din hp pháp ca b o;
- B hi;
- Người có quyn lợi và nghĩa vụ liên quan;
- Văn phòng Tòa án(để công b cổng TTĐT)
- Lưu HSVA+VT.
Nguyễn Khắc Hn
Tải về
Bản án số 32/2020/HS-ST Bản án số 32/2020/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất