Bản án số 31/2023/HNGĐ-ST ngày 18/09/2023 của TAND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 31/2023/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 31/2023/HNGĐ-ST ngày 18/09/2023 của TAND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Mộ Đức (TAND tỉnh Quảng Ngãi)
Số hiệu: 31/2023/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 18/09/2023
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: anh Ngô Văn Q yêu cầu ly hôn chị Huỳnh Thị Trúc N
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN MỘ ĐỨC Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 31/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 18- 9- 2023
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Thanh Sang.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Trường Chinh
2. Bà Nguyễn Thị Thu Dung
- Thư phiên tòa: Thị Bích Thuyền Thư Tòa án nhân dân
huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M Đức, tỉnh Quảng Ngãi
tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Tài- Kiểm sát viên
Ngày 18 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức,
tỉnh Quảng Ngãi xét xử thẩm công khai vụ án thụ lý số: 88/2023/TLST-
HNGĐ, ngày 07 tháng 6 năm 2023 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 30
tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Ngô Văn Q; địa chỉ: T 2, xã E, huyện E, tỉnh Đ
2. Bị đơn: Chị Huỳnh Thị Trúc N; địa chỉ: Thôn P, Đ, huyện M, tỉnh
Quảng Ngãi.
Nguyên đơn và bị đơn đều có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 31/5/2023, các lời khai trong quá trình giải
quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Ngô Văn Quân trình bày:
Anh chị N tìm hiểu, yêu thương nhau khoảng 1 năm thì được gia đình
hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán, tự nguyện đăng kết hôn
ngày 01/02/2019 tại UBND xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi kết hôn thì vợ
chồng cùng nhau làm ăn tại thành phố Hồ Chí Minh, thời gian đầu vợ chồng
chung sống hạnh phúc, sau đó thì luôn xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân bất
đồng quan điểm về mọi mặt, không hợp tính nhau, mặc dù đã được gia đình hai
2
bên hòa giải, động viên nhưng vẫn không kết quả. Nên anh chị Ngân đã
sống ly thân từ tháng 9 năm 2021 cho đến nay, phần ai người nấy sống, không
còn quan tâm đến nhau. Nay anh yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức giải
quyết cho anh ly hôn với chị Huỳnh Thị Trúc N.
Về con chung: 02 con chung tên Ngô Huỳnh Quốc A, sinh ngày
17/3/2019 Ngô Huỳnh Như Ý, sinh ngày 09/12/2021. Khi ch N chung sống
với anh tại tỉnh Đắk Lắk thì vợ chồng mâu thuẫn nên chị Ng ôm cháu Ý về nhà
cha mẹ đẻ của chị huyện M, tỉnh Quảng Ngãi sống, còn cháu A chung sống
với anh một thời gian thì chị N yêu cầu anh dẫn cháu A về Quảng Ngãi sống
với chị N cho đến nay; cháu A bị chậm nói, tăng động không thể nào phát triển
bình thường nnhững đứa trẻ khác. Khi ly hôn anh yêu cầu được nuôi cả 02
con chung, anh không yêu cầu chị N cấp dưỡng cho con. Trường hợp Tòa án
giao cho anh chị N mỗi người nuôi một cháu thì anh nguyện vọng được
nuôi cháu A. Vì anh đủ điều kiện kinh tế, chỗ ổn định, cũng như điều kiện
về chăm sóc y tế và nơi học tập cho trẻ chậm phát triển tại thành phố Hồ Chí
Minh để lo cho con tốt hơn chị N nên anh yêu cầu Tòa án giao con chung tên A
cho anh nuôi dưỡng, anh không yêu cầu chị N cấp dưỡng cho con chị Ngân
không điều kiện kinh tế cũng như không thời gian đchăm lo cho con,
anh yêu cầu chị N đưa cháu A đi khám chữa bệnh tại thành phố Hồ Chí
Minh nhưng chị N không đồng ý; anh giao con chung tên Ý cho chị N nuôi
dưỡng, anh tự nguyện cấp dưỡng cho con tên Ý mỗi tháng 3.000.000 đồng (Ba
triệu đồng) cho đến khi cháu Ý đủ 18 tuổi. Hiện nay anh đang làm ăn sinh
sống tại thành phố Hồ Chí Minh, lương bình quân tháng 30.000.000 đồng, anh
làm việc văn phòng, giờ hành chính nên thời gian chăm lo cho cháu tốt hơn
chị N.
Về tài sản chung: Không có
Nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 16/6/2023, quá trình giải quyết vụ án tại phiên
tòa, bị đơn là chị Huỳnh Thị Trúc Ng trình bày:
Chị công nhận lời trình bày của anh Q về quan hệ hôn nhân là đúng. Anh,
chị có đăng ký kết hôn tại UBND E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk ngày 01/02/2019
trên cơ sở tự nguyện. Trong thời gian chung sống thì có nhiều mâu thuẫn xảy ra
như không hợp nhau về tính cách, không cùng quan điểm nên từ đó sống không
hạnh phúc. Chị anh Q đã ly thân từ tháng 9 năm 2021 cho đến nay, chị
dẫn con vquê xã Đ, huyện Mộ Đức sống cho đến nay, không còn quan tâm
đến nhau. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn thương yêu nhau nên anh Q
yêu cầu ly hôn, chị đồng ý.
Về con chung: 02 con chung tên Ngô Huỳnh Quốc A, sinh ngày
17/3/2019 và Ngô Huỳnh Như Ý, sinh ngày 09/12/2021. Khi chị anh Q sống
ly thân nhau, nhưng anh Q thường xuyên về thăm nom con nhưng thời gian
thăm không dài, anh Q chu cấp tiền cho chị chăm lo cho các con. Hiện nay
02 con chung đang sống với chị N. Riêng cháu A từ nhỏ đến giờ chung sống
với ông bà Ngoại, do ông bà Ngoại chăm sóc, do chị và anh Q phải đi làm ăn tại
thành phố Hồ Chí Minh. Hơn nữa hiện nay cháu A đang chậm phát triển hơn
3
những đứa trẻ so với tuổi, nên cần schăm sóc của người mẹ cháu đã
quen sống với môi trường hiện nay. Đồng thời chị nghề nghiệp ổn định,
thời gian và điều kiện để chăm lo cho con tốt. Nên anh Q yêu cầu được nuôi
dưỡng con chung tên A, chị không đồng ý. Vì tuy anh Q có điều kiều về kinh tế
nhưng không có thời gian, gần gũi để chăm lo cho con tốt hơn người mẹ. Khi ly
hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung. Chị yêu cầu anh Q phải
nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, mỗi cháu mỗi tháng 1.500.000 đồng
(3.000.000/tháng/02 con chung) cho đến khi các con đủ 18 tuổi. Trường hợp
Tòa án giao cho mỗi người nuôi 01 con chung thì chị yêu cầu được nuôi cháu
Ý, giao cho anh Q nuôi cháu A; chị đồng ý anh Q cấp dưỡng cho cháu Ý mỗi
tháng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng). Hiện nay chị đang làm nghề salon tại T,
huyện M, thu nhập bình quân 7.000.000 đồng/tháng. Chị chung sống với ba mẹ
đẻ của chị tại xã Đ.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử Thư phiên tòa tuân theo
đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn, bị đơn
chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận ly hôn giữa anh
Ngô Văn Q và chị Huỳnh Thị Trúc N
Về con chung: Giao cháu Ngô Huỳnh Quốc A, sinh ngày 17/3/2019;
cháu Ngô Huỳnh Như Ý, sinh ngày 09/12/2021 cho chị Ng trực tiếp trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Q phải nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu
A, cháu Ý mỗi tháng mỗi cháu 1.500.000đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng)
cho đến khi cháu A, cháu Ý đủ 18 tuổi. Thời gian cấp đưỡng tính từ ngày
18/9/2023.
Về tài sản chung; nợ chung: Các đương sự khai không có nên không xét.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ ván được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Tại thời điểm anh Ngô Văn Q khởi kiện “Ly n, tranh chấp về
nuôi con” với chị Huỳnh Thị Trúc N đang cư trú tại thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh
Quảng Ngãi. Do đó, Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức thụ vụ án theo yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn anh Ngô Văn Q là đúng thẩm quyền theo quy định tại
khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
4
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Văn Q chị Huỳnh Thị Trúc N tự
nguyện kết hôn, đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện E, tỉnh
Đắk Lắk vào ngày ngày 01 tháng 02 năm 2019. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa
anh Ngô Văn Q và chị Huỳnh Thị Trúc N là hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của anh Ngô Văn Q, ý kiến của bị đơn chị Huỳnh Thị
Trúc N, Hội đồng xét xử thấy rằng: Anh, chị đều thừa nhận sau khi kết hôn,
thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì xảy ra mâu thuẫn,
nguyên nhân bất đồng quan điểm vmọi mặt, không hợp tính nhau, mặc
anh chị đã được gia đình hai bên hòa giải, động viên nhưng vẫn không kết
quả. Nên anh, chị đã sống ly thân từ tháng 9 năm 2021 cho đến nay, phần ai lo
cho cuộc sống của người đó, không còn quan tâm đến nhau nên từ đó cuộc sống
vợ chồng không có hạnh phúc.
Từ những nhận định trên, căn cứ xác định: Mâu thuẫn giữa nguyên
đơn bđơn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn
nhân không đạt được. Nay anh Ngô Văn Q yêu cầu được ly hôn với chị Huỳnh
Thị Trúc N, chị N cũng đồng ý ly hôn phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và
gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xghi nhận stự nguyện thỏa thuận ly
hôn giữa anh Q và chị N.
[2.2] Về con chung: Theo lời khai của nguyên đơn, bị đơn và những tài
liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định anh Q và chị N có 02 con
chung tên Ngô Huỳnh Quốc A, sinh ngày 17/3/2019 Ngô Huỳnh N Ý,
sinh ngày 09/12/2021. Các bên đương sự đều xác nhận từ khi vợ chồng sống ly
thân cho đến nay, thời gian đầu cháu A chung sống với anh Q được mấy tháng
nhưng sau đó thì cháu A và cháu Ý chung sống với chị N, nhưng anh Q vẫn
thường xuyên về thăm nom chăm sóc các cháu, gửi tiền cho chị Ngân chăm sóc
02 con chung; cháu A bị chậm nói, tăng động không thể nào phát triển bình
thường như những đứa trẻ khác. Xét yêu cầu của anh Q khi ly hôn, anh Q
nguyện vọng được nuôi 02 con chung vì anh cho rằng chị N không đủ điều kiện
kinh tế để chăm sóc cho 02 con được tốt, nhất là cháu A. Đồng thời anh Q có đ
điều kiện kinh tế, chỗ ổn định và điều kiện chăm sóc y tế tốt tại thành phố Hồ
Chí Minh để lo cho cháu A phát triển bình thường. Chị N cũng thừa nhận điều
kiện kinh tế của anh Q tốt hơn chị, nhưng chị vẫn yêu cầu nuôi cả 02 con
chung. Hội đồng xét x thấy rằng: Anh Q và chị N đều có nguyện vọng nuôi cả
02 cháu, nhưng trường hợp Hội đồng xét xử giao mỗi bên nuôi dưỡng một cháu
thì anh Q nguyện vọng nuôi cháu A, chị N nguyện vọng nuôi cháu Ý;
việc giao con chung cho ai phải đảm bảo về mọi mặt cho sự phát triển của các
cháu; mặt khác, cháu Ý chưa đ36 tháng tuổi phải giao cho chị N nuôi dưỡng,
cháu A đã trên 36 tháng tuổi, anh Q người cha trách nhiệm với con, thể
hiện khi ly thân anh Q vẫn chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; anh Q điều
kiện kinh tế, chỗ ở ổn định và điều kiện để chăm sóc y tế, giáo dục cho trẻ chậm
phát triển tại thành phố Hồ Chí Minh tốt hơn chị N để chăm sóc cháu A phát
triển bình thường như mọi đứa trẻ khác; nên Hội đồng xét xử giao cháu A cho
5
anh Quân chăm c nuôi dưỡng; giao cháu Ý cho chị Ngân chăm sóc, nuôi
dưỡng là phù hợp.
[2.3] Về cấp dưỡng cho con: Anh Q không yêu ch N cấp dưỡng cho
cháu A nên Hội đồng xét xử không xem xét; chị N đồng ý anh Q cấp dưỡng cho
cháu Ý mỗi tháng 3.000.000 đồng; nên ghi nhận việc anh Q cấp dưỡng cho
cháu Ý mỗi tháng 3.000.000 đồng (Bai triệu đồng) cho đến khi cháu Ý đủ 18
tuổi.
[2.4] Về tài sản chung; nợ chung: Anh Q chị N trình bày không có,
Hội đồng xét xử không xét.
[3] Về án phí: Anh Ngô Văn Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩmán phí
của người có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
[4] Ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với một phần nhận
định của Hội đồng xét xử; ý kiến Kiểm sát viên về giao cháu A cho chị N chăm
sóc, nuôi dưỡng là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1
Điều 39, các Điều 144, 147, 235, 266, 271 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình;
điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Văn Q.
1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận ly hôn giữa
anh Ngô Văn Q và chị Huỳnh Thị Trúc N
2. Về con chung: Giao cháu Ngô Huỳnh Quốc A, sinh ngày 17/3/2019
cho anh Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Ngô
Huỳnh Như Ý, sinh ngày 09/12/2021 cho chị N trực tiếp trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục.
Về cấp dưỡng cho con: Ghi nhận anh Q cấp dưỡng cho cháu Ý mỗi tháng
3.000.000đồng (Ba triệu đồng) cho đến khi cháu Ý đủ 18 tuổi. Thời gian cấp
đưỡng tính từ ngày 18/9/2023.
Kể từ ngày quyết định hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp
quan Thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày
đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền
phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản
tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn
6
phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự
năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Anh Ngô Văn Q chị Huỳnh Thị Trúc N quyền, nghĩa vụ thăm con
mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung; nợ chung: Anh Q chN trình bày không có, Hội
đồng xét xử không xét.
4. Về án phí: Anh Ngô Văn Q phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn
đồng) án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình và 300.000 đồng (Ba trăm
nghìn đồng) án phí dân sự thẩm vnghĩa vụ cấp dưỡng cho con, được khấu
trừ vào số tiền 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí do anh Quân
nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án s0005430, ngày 07/6/2023
của Chi cục Thi hành án dân sự huyện MĐức, tỉnh Quảng Ngãi. Anh Q còn
tiếp tục nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn quyền kháng cáo bản án
này trong hạn 15 ngày, kể từ tuyên án (ngày 18/9/2023).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,
7, 7a 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo
quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ngãi; THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Mộ Đức
- Chi cục THADS huyện Mộ Đức
- Các đương sự;
- UBND xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk
- Lưu hồ sơ.
Trần Thanh Sang
7
8
9
Tải về
Bản án số 31/2023/HNGĐ-ST Bản án số 31/2023/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất