Bản án số 31/2022/HS-ST ngày 10/05/2022 của TAND TP. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về tội đánh bạc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 31/2022/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 31/2022/HS-ST ngày 10/05/2022 của TAND TP. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về tội đánh bạc
Tội danh: 248.Tội đánh bạc (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Phúc Yên (TAND tỉnh Vĩnh Phúc)
Số hiệu: 31/2022/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/05/2022
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC
Bản án số: 31/2022/HS-ST
Ngày 10/5/2022
CỘNG HÒAHỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Bích
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thịnh, Ông Đường Ngọc Đại
Thư phiên tòa: Đỗ Thị Hiền - Thư Toà án nhân dân thành phố
Phúc Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn H Đăng - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2022 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thành
phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét x thẩm công khai vụ án hình sự thụ số:
18/2022/TLST- HS ngày 18 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 28/2022/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Tòa án nhân dân
thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Văn T, sinh m 1973 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng hộ
khẩu thường trú: Thôn Đ, C, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề
nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn
giáo: Không; Đảng, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Kh
(đã chết) Nguyn Thị Đ; vợ: Dương Thị T4, con: 02 con lớn sinh 1995,
nhỏ sinh năm 1997 Tiền án, tiền sự: Không
Quá trình hoạt động:
Tại bản án s05/HSST ngày 13/01/2017 của TAND thị xã Phúc Yên (nay
thành phố Phúc Yên) Vĩnh Phúc, xử phạt 04 tháng cho hưởng án treo, thời
gian thử thách 12 tháng về tội Đánh bạc. Nộp đủ áp p+ phạt bổ sung tháng
4/2017, đã xóa án tích ngày 13/01/2019 .
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/01/2022 đến ngày 14/01/2022 được thay thế
bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, tại ngoại tại địa phương. (có mặt)
2. Họ tên: Dương Phú H, sinh năm 1959 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng hộ
khẩu thường trú: Thôn Đ, C, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề
nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn
2
giáo: Không; Đảng, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Phú
H1 ã chết) Đinh ThS (đã chết); vợ: Nguyễn ThN, con: 02 con lớn
sinh 1991, nhỏ sinh năm 1992 Tiền án, tiền sự: Không
Quá trình hoạt động:
Tại bản án số 38/HSST ngày 29/6/2010 của TAND thị Phúc Yên, xử
phạt 04 tháng 29 ngày tù, tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 01/02/2010 ( trả tự do tại
phiên tòa) về tội Đánh bạc. Nộp đủ áp phí + phạt bổ sung tháng 11/2010, đã xóa
án tích.
Tại bản án số 29/HSST ngày 22/3/2013 của TAND thị Phúc, xử phạt 9
tháng về tội Đánh bạc. Chấp hành xong ra trại ngày 05/01/2014, đã nộp đủ áp
phí + phạt bổ sung tháng 5/2013, đã xóa án tích ngày 05/01/2016.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/01/2022 đến ngày 14/01/2022 được thay thế
bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, tại ngoại tại địa phương. (có mặt)
3. Họ và tên: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1964 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ
khẩu thường trú: Thôn Đ, C, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề
nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn
giáo: Không; Đảng, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc
T5 (đã chết) Nguyễn Thị T6 (đã chết); vợ: Nguyễn Thị T7, con: 02 con
lớn sinh 1998, nhỏ sinh năm 2004 Tiền án, tiền sự: Không
Quá trình hoạt động:
Tại bản án số 58/HSST ngày 11/5/2011 của TAND thị Phúc,
xử phạt
7.000.000đ v tội Đánh bạc, đã chấp hành xong hình phạt tiền + áp p tháng
7/2011, đã xóa án tích tháng 7.2012.
Tại bản án số 33/HSST ny 28/4/2017 của TAND thị xã Phúc Yên,
xử
phạt 5 tháng giam về tội Đánh bạc, ra trại ngày 21/6/2017, đã nộp đủ áp phí +
phạt bổ sung tháng 8/2017, đã xóa án tích ngày 21/6/2019.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/01/2022 đến ngày 14/01/2022 được thay thế
bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, tại ngoại tại địa phương (có mặt)
4. Họ và tên: Nguyễn Đức T2, sinh năm 1967 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ
khẩu thường trú: Thôn Đ, C, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề
nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam;
tôn giáo: Không; Đảng, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn
Văn Thơ (đã chết) và Trn ThAn; vợ: Ngô Thị Thảo, con: 05 con lớn sinh
1988, nhỏ sinh năm 2002 Tiền án, tiền sự: Không
Quá trình hoạt động:
Ngày 01/7/2012, Công an thị xã Phúc Yên xử phạt vi phạm hành chính
1.500.000đ về hành vi đánh bạc, nộp phạt ngày 11/8/2012, đã xóa án tích.
Tại bản án số 05/HSST ngày 13/01/2017 của TAND thị Phúc Yên xử
3
phạt 4 tháng tù treo, thử thách 01 năm về tội Đánh bạc, đã nộp đủ áp phí + phạt bổ
sung tháng 5/2017, đã xóa án tích ngày 13/01/2019.
Ngày 09/10/2019, công an thị Phúc Yên xử phạt vi phạm hành chính
1.500.000đ về hành vi đánh bạc, nộp phạt ngày 11/10/2019, đã xóa án tích.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi trú, tại ngoại tại địa
phương. (có mặt)
5. Họ tên: Vương Xuân T3, sinh năm 1963 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng
hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, C, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề
nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn
giáo: Không; Đảng, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vương Xuân
Đ Nguyễn Thị K; vợ: Dương Thị N, con: có 03 con lớn sinh 1987, nhỏ sinh
m 1995 Tiền án, tiền sự: Không
Quá trình hoạt động:
Tháng 2/1982 đi bộ đội, đến tháng 8/1985 xuất ngũ về đa phương;
Ngày 04/6/2014, Công an thị Phúc Yên xử phạt vi phạm hành chính
750.000đ về hành vi đánh nhau, nộp phạt ngày 26/12/2014, đã xóa án tích.
Ngày 12/2/2015, công an thị xã Phúc Yên xử phạt vi phạm hành chính
1.000.000đ về hành vi đánh nhau, nộp phạt ngày 12/02/2015, đã xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/01/2022 đến ngày 14/01/2022 được thay thế
bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, tại ngoại tại địa phương. (có mặt)
6. Họ tên: Dương Văn H1, sinh năm 1967 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ
khẩu thường trú: Thôn Đ, C, thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề
nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn
giáo: Không; Đảng, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông ơng Văn
N1 (đã chết) Dương Thị Đ1 (đã chết); vợ: Bùi Thị N3, con: 02 con lớn
sinh 1989, nhỏ sinh năm 1993 Tiền án, tiền sự: Không
Quá trình hoạt động:
Tháng 8/1985 đi bộ đội, đến tháng 6/1988 xuất ngũ về địa phương;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/01/2022 đến ngày 14/01/2022 được thay thế
bằng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, tại ngoại tại địa phương. (có mặt)
Người chứng kiến: Ông Nguyn Văn L, sinh năm 1969
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài L trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 05/01/2022, Trần Văn T dùng điện thoại di
động gọi điện cho Vương Xuân T3 người cùng hỏi được T3 đồng ý cho
đánh bạc tại nhà của T3.
4
Sau đó T tiếp tục gọi điện thoại rđược Nguyễn Đức T2, Dương Phú H,
Nguyễn Văn T1 Dương Văn H1, đều trú tại C, Phúc Yên, đồng ý đến nhà
Vương Xuân T3 để đánh bạc.
Khoảng 13h45 cùng ngày 05/01/2022, T, T2 đến nhà T3 trước, sau đó cả hai
vào phòng ngủ tầng 2 nhà của T3 để đánh bạc. T3 lấy bộ bài ksẵn của
gia đình sau đó ngồi xuống chiếu cùng T T2 đánh sâm ăn tiền. T3, T2, T thống
nhất mc chơi 5000đồng/1 bài, m là 100.000đồng, treo 70.000đồng, tứ quý
100.000đồng. Nếu ai sâm sẽ nộp cho T3 chủ nhà 20.000đồng tiền hồ. Khi T,
T2, T3 đánh bạc được khoảng 4,5 ván thì lần lượt H H đến rồi cùng vào đánh
bạc.
Khi T, T2, T3, H, H1 đánh bạc được khoảng 04 - 05 ván thì T2 có việc riêng
nên nghỉ về trước. Đến khoảng 15h cùng ngày, khi T, T3, H, H1 đang đánh bạc
thì T1 đến rồi tham gia đánh bạc cùng.
Khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày 05/01/2022, khi T, T3, H, H1 T1 đang
đánh bạc thì bị Công an thành phố Phúc Yên bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm:
Thu giữ tại chiếu bạc: 12.160.000đồng ( trong đó 20.000đồng tiền hồ);
Ngày 25.01.2022 thu giữ của T2 450.000đồng là tiền đánh bạc.
- 01 bộ bài lơ khơ gồm 52 quân + 01 chiếu cói đôi đã qua sử dụng, sử
dụng để đánh bạc.
- Thu giữ 05 Điện thoại di động mà các bị cáo sử dụng để liên lạc rủ nhau đi
đánh bạc gồm:
+ 01 chiếc Điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen đã qua sử dụng của
H;
+ 01 chiếc Điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen đã qua sdụng
của T;
+ 01 chiếc Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh lam đã qua sử
dụng của H;
+ 01 chiếc Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu xanh đã qua sử
dụng của T3;
+ 01 chiếc Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen đã qua s
dụng của T1.
- Đối với 01 Điện thoại di động của T2: T2 khai nhận do bị hỏng nên T2 đã
vứt bỏ, Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Quá trình điều tra vụ án xác định, trong khoảng thời gian đánh bạc mi ch
có bị cáo T được sâm và để xuống chiếu 20.000đồng tiền hồ để nộp cho T3, các bị
cáo khác chưa ai được sâm nên chưa nộp tiền hồ cho T3. Các bị cáo đã sử dụng số
lượng tiền để đánh bạc, cụ thể như sau:
5
Dương Văn H1 sử dụng 8.400.000đồng; Trần Văn T sử dng
1.700.000đồng; Vương Xuân T3 sử dụng 850.000đồng; Dương Phú H sử dụng
410.000đồng; Nguyễn Đức T2 sử dụng 450.000đồng; Nguyễn Văn T1 sử dụng
800.000đồng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là:
Tại thời điểm T, T2, T3, H, H1 đánh bạc thì tổng số tiền các bị cáo sử dụng
để đánh bạc là: 1.700.000đồng + 450.000đồng + 850.000đồng + 410.000đồng +
8.400.000đồng = 11.810.000đồng;
+ Tại thời điểm T, T3, H, H1, T1 đánh bạc thì tổng số tiền các bcáo sử
dụng để đánh bạc : 1.700.000đồng + 850.000đồng + 410.000đồng +
8.400.000đồng + 800.000đồng = 12.160.000đồng;
Tại Cáo trạng số: 24/CT - VKSPY ngày 25 tháng 3 năm 2022, Viện kiểm
sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố các bị cáo Trần Văn T, Vương Xuân T3,
Dương Phú H, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Đức T2 Dương Văn H1 về tội “Đánh
bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều khai nhận thành
khẩn vhành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên, thừa nhận Cáo trạng
của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố c bị cáo tội “Đánh bạc”
theo Khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự đúng, đề nghị Hội đồng xét xử cho
các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố như
Cáo trạng đối với các bị cáo; sau khi đánh giá tính chất, mc độ phạm tội của bị
cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét
xử tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn T, Vương Xuân T3, Dương Phú H, Nguyễn Văn
T1, Nguyễn Đức T2 và Dương Văn H1 phạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt đối với từng bị cáo:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối
với Trần Văn T và Dương Phú H:
Đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 13 đến 15 tháng tù, thời hạn tính
từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày
05/01/2022 đến ngày 14/01/2022.
Đề nghị xử phạt bị cáo Dương Phú H từ 13 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính
từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày
05/01/2022 đến ngày 14/01/2022.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đề
nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 11 đến 12 tháng tù, thời hạn tính từ
ngày bị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/01/2022
đến ngày 14/01/2022.
6
3. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm x, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật
hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T2 từ 10 đến 11 tháng tù, thời hạn
tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
4. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1,
2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự đối với Vương Xuân T3 và Dương Văn H1.
Đề nghị xử phạt bcáo Vương Xuân T3 từ 10 đến 11 tháng tù, cho hưởng
án treo thời gian thử thách từ 20 tháng đến 22 tháng, thời hạn ththách tính từ
ngày tuyên án sơ thẩm.
Đề nghị xử phạt bị cáo Dương Văn H1 từ 10 tháng đến 11 tháng tù, cho
hưởng án treo thời gian thử thách từ 20 tháng đến 22 tháng thời hạn thử thách tính
từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung : Áp dụng khoản 3 Điều 321 phạt mỗi bị cáo từ
10.000.000đồng đến 12.000.000đồng sung công quỹ nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 BLHS; điều 106 BLTTHS đề nghị:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước tiền đánh bạc là: 12.610.000đồng
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ bài khơ gồm 52 quân; 01 chiếu cói (loại
chiếu đôi) đã qua sử dụng.
- Tịch thu bán sung quỹ Nhà nước 05 chiếc các bị cáo liên lạc đánh bạc
Mỗi bị cáo pH chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức hành vi của mình
sai trái, rất hối hận và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại phiên tòa các bị cáo không khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát
không có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan T3 hành tố tụng và người
có thẩm quyền T3 hành tố tụng.
Sau khi thẩm tra các chứng cứ trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, ý
kiến của kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên snội dung vụ án, căn cứ vào các tài L trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra Công an thành phố
Phúc Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, Kiểm sát
viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ
tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo,
người tham gia tố tụng không ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của
quan T3 hành tố tụng, người T3 hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định
tố tụng của quan T3 hành ttụng, người T3 hành tố tụng đã thực hiện đều hợp
pháp.
7
[2] Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo
Trần Văn T; Dương Phú H; Nguyễn Văn T1; Nguyễn Đức T2; Vương Xuân T3 và
Dương Văn H1 đã khai nhận T2 bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố. Xét lời nhận tội của các bị
cáo phù hợp với các tài L trong hồ như: Biên bản phạm tội qutang, phù
hợp lời khai của c bcáo, lời khai người làm chứng, phợp với vật chứng thu
giữ được. Vì vậy,đủ cơ sở để khẳng định: Trong khoảng thời gian từ 13 giờ 45
đến 15 giờ 45 phút ngày 05/01/2022, tại nhà của Vương Xuân T3, C, thành
phố Phúc Yên: Trần Văn T, Vương Xuân T3, Dương Phú H, Nguyễn Văn T1,
Nguyễn Đức T2 và Dương Văn H1, hành vi đánh sâm ăn tiền thì bị Công an
thành phố Phúc Yên bắt quả tang. Tổng số tiền sử dụng đánh bạc
12.610.000đồng. vậy, hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “đánh bạc”, tội
phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình khung
hình phạt cao nhất từ 06 tháng đến 03 năm tù. Nên Viện kiểm sát nhân dân thành
phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc truy tbị cáo theo Cáo trạng số: 24/CT VKSPY,
ngày 25 tháng 3m 2022 là hoàn T2 có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp
luật.
[3] Xét tính chất vụ án ít nghiêm trọng, nh vi phạm tội của bị cáo
nguy hiểm cho xã hội, đã m phạm trực tiếp đến trật tự an T2 công cộng được
pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, đánh bạc tệ nạn hội
cần lên án, là nguyên nhân gây ra rất nhiều mâu thuẫn, p vỡ hạnh phúc của
nhiều gia đình, cờ bạc cũng nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác như
ma túy, trộm cắp, cướp giật. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm minh các bị cáo trước
pháp luật nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung toàn xã hội.
[4] Xét nhân thân, vị trí vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự của từng bị cáo thấy rằng:
[4.1] Đối với bị cáo Trần Văn T: Bị cáo người khởi xướng, rủ bị cáo
khác đánh bạc người trực tiếp tham gia đánh bạc. Bị cáo người nhân
thân xấu đã 01 lần bị xử phạt về tội “Đánh bạc” đã được xóa án tích, bcáo
không lấy đó làm bài học cho mình tiếp tục rcác bị cáo đánh bạc trực
tiếp tham gia đánh bạc. Do đó cần hành phạt nghiêm khắc với bị cáo như đề
nghị của đại diện Viện kiểm sát mới mới tác dụng răn đe, phòng ngừa giáo
dục chung, cũng như giúp bị cáo cải tạo thành người công dân tốt. Tuy nhiên quá
trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi
phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết 01 giảm nhẹ quy định tại điểm
s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không pH chịu tình tiết tăng nặng tch
nhiệm hình sự. Nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị
cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với hành vi của bcáo, giúp bị cáo
yên tâm cải tạo tốt sớm trở về với gia đình.
8
[4.2] Đối với bị cáo Dương P H, Nguyễn Văn T1: Hai bị cáo đều
người nhân thân xấu, đã hai lần bị xét xử vtội “Đánh bạc”; tuy đã được xóa
án tích nhưng các bị cáo không lấy đó m bài học cho mình tiếp tục tham gia
đánh bạc. Do đó cần hành phạt nghiêm khắc với hai bị cáo như đề nghị của đại
diện Viện kiểm sát mới mới tác dụng răn đe, phòng ngừa giáo dục chung,
cũng như giúp bị cáo cải tạo thành người công dân tốt. Tuy nhiên quá trình điều
tra và tại phiên tòa hai bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi phạm
tội của mình nên được hưởng tình tiết 01 giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1
Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự nào. Nên Hội đồng xét xxem xét giảm nhmột phần hình phạt cho bị
cáo. Bị cáo H tham gia đánh bạc ngay từ đầu còn bị cáo T1 là người vào chơi sau
cùng, khi mới tham gia đánh bạc được my ván thì bquan quan Công an phát
hiện bắt quả tang nên hình phạt áp dụng đối với bị cáo T1 thấp hơn so với bị cáo H
có như vậy mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[4.3] Đối với bị cáo Nguyễn Đức T2: Bị cáo là người có nhân thân xấu. Một
lần bị xphạt về tội đánh bạc và hai lần bị xử phạt hành chính cùng về hành vi
đánh bạc tuy đã được xóa án tích. Bị cáo không lấy đó m i học cho mình
tiếp tục phạm tội đánh bạc. Do đó cần có hành phạt nghiêm khắc với bị cáo như đề
nghị của đại diện Viện kiểm sát mới mới tác dụng răn đe, phòng ngừa giáo
dục chung, cũng như giúp bcáo cải tạo thành công dân tốt. Tuy nhiên quá trình
điều tra tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi
phạm tội của mình, khi tham gia đánh bạc bị cáo về trước sau đó ra Cơ quan Công
an đầu thú, bị cáo có bđliệt s nên được ởng tình tiết giảm nhẹ quy định
tại điểm x, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bluật hình sự, bị cáo không phải chịu
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự o. Nên Hội đồng xét xử xem xét giảm
nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4.4] Đối với bị cáo Vương Xuân T3 Dương Văn H1: Quá trình điều tra
và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội
của mình, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo đều
thời gian phục vụ quân đội nhân dân Việt Nam nên các bị cáo được hưởng tình tiết
giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị
cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm nh sự. Hội đồng xét xử thấy
khi phạm tội các bị cáo đều nơi trú ổn định, ràng, được hưởng nhiều tình
tiết giảm nhẹ, đáng được khoan hồng đđiều kiện để áp dụng Điều 65 Bộ
luật Hình sự. vậy, không cần thiết bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù,
cho các bị cáo ởng án treo, ấn định thời gian thử thách giao cho chính
quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục như đề nghị của đại
diện Viện kiểm sát ng đủ để răn đe, giáo dục chung cũng như tạo điều kiện giúp
bị cáo hội sửa chữa sai lầm trở thành công dân ích cho hội. Bị cáo
T3 năm 2014 2015 bị quan Công an xử phạt hành chính vhành vi đánh
9
nhau đến nay đã được xóa tiền sự, bcáo là chủ nhà nên hình phạt sẽ cao hơn so
với bị cáo H1 như vậy mới tương sứng với hành vi của bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội đánh bạc nhằm mục đích thu
lời bất chính nên cần phải áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị
cáo.
[6] Về vật chứng vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, điều
106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài kgồm 52 quân; 01 chiếu cói (loại chiếu
đôi) đã qua sử dụng. Đối với số tiền: 12.610.000đồng các bcáo sử dụng vào việc
đánh bạc cần tịch thu sung quỹ nnước; Đối với 05 chiếc điện thoại di động thu
giữ của Trần Văn T; ơng Phú H; Nguyn Văn T1; Vương Xuân T3 Dương
Văn H1 các bị cáo liên lạc để đánh bạc cần tịch thu bán xung quỹ nhà nước.
[7] Về án phí: Buộc mỗi bị cáo pH chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự
thẩm.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Trần Văn T; Dương Phú H; Nguyn Văn T1; Nguyễn
Đức T2; Vương Xuân T3 và Dương Văn H1 phạm tội “Đánh bạc”.
1. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
Xử phạt : Bị cáo Trần Văn T 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày
bị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ tngày 05/01/2022 đến
ngày 14/01/2022.
Xử phạt : Bị cáo Dương Phú H 13 (mười ba) tháng tù, thời hạn tính từ
ngày bị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/01/2022
đến ngày 14/01/2022.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt : Bị cáo Nguyễn Văn T1 10 (mười) tháng tù, thời hạn tính từ
ngày bị cáo đi chấp hành án. Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 05/01/2022
đến ngày 14/01/2022.
3. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm x, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật
hình sự.
Xử phạt : Bị cáo Nguyễn Đức T2 09 (chín) tháng tù, thời hạn tính từ
ngày bị cáo đi chấp hành án.
4. Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1,
2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
10
Xử phạt : Bị cáo Vương Xuân T3 10 (mười) tháng tù, cho ởng án treo
thời gian thử thách 20 (hai mươi) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án
sơ thẩm.
Xử phạt : Bị cáo Dương Văn H1 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo thời
gian thử thách 18 (mười m) tháng, thời hạn thử thách tính từ ny tuyên án
thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 phạt các bị cáo: Trần Văn
T; Dương Phú H; Nguyễn Văn T1; Nguyễn Đức T2; Vương Xuân T3 Dương
Văn H1 mỗi bị cáo 10.000.000đồng (mười triệu đồng) sung quỹ Nhà nước.
Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, điều 106 Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2015:
Tịch thu sung qu Nhà nước số tiền 12.610.000đồng các bị cáo sử dụng vào
việc đánh bạc. Tịch thu tiêu hủy 52 quân bài tu khơ 01 chiếc chiếu cói đã
cơ quan điều tra đã thu giữ.
Tịch thu bán sung công quNhà nước: 01 chiếc điện thoại di động Redmi
màu đen thu giữ của Dương Văn H1 ; 01 điện thoại di động Samsung màu đen thu
giữ của Trần Văn T ; 01 điện thoại di động Nokia 105 màu xanh lam thu giữ của
Dương Phú H ; 01 điện thoại di động Nokia 105 màu xanh thu giữ của Vương
Xuân T3 và 01 điện thoại di động Nokia màu đen thu giữ của Nguyễn Văn T1. Vật
chứng đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 6 tháng 4 m
2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên.
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự m 2015; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ pTòa án của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội: Buộc c bị cáo Trần Văn T; Dương Phú H; Nguyễn Văn T1; Nguyễn
Đức T2; Vương Xuân T3 và Dương Văn H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng
(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày ktừ ngày tuyên án các bị cáo quyền kháng cáo bản
án để yêu cầu xét xử phúc thẩm./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
- VKSND thành phố Phúc Yên;
- Công an thành phố Phúc Yên;
- Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên;
- Cơ quan THA hình sự có thẩm quyền;
- Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
- UBND xã C
- Bị cáo;
- Lưu HS, VP
.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Hoàng Văn Bích
Tải về
Bản án số 31/2022/HS-ST Bản án số 31/2022/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất