Bản án số 31/2021/DS-ST ngày 30/08/2021 của TAND huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 31/2021/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 31/2021/DS-ST ngày 30/08/2021 của TAND huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Yên Thế (TAND tỉnh Bắc Giang)
Số hiệu: 31/2021/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/08/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Đồng - Vĩnh MBTS
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYN YT
TỈNH BG
Bản án số: 31/2021/DS-ST
Ngày 30 tháng 8 năm 2021
V/v: "Tranh chấp hợp đồng
mua bán tài sản".
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Ngô Phiên.
2. Ông Lục Viết Sang.
- Thư phiên tòa: Hoàng Thị Kim Oanh - Thư Toà án nhân dân
huyện YT, tỉnh BG.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện YT, tỉnh BG tham gia phiên tòa:
Không.
Ngày 30 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện YT mở phiên
toà xét xử thẩm công khai vụ án dân sự thụ số 74/2021/TLST-DS ngày 19
tháng 7 năm 2021 về "Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản" theo Quyết định đưa
ván ra t xử số 41/2021/QĐXXST-DS ngày 13 tng 8 m 2021 giữa các đương s:
* Nguyên đơn: Ôngơng Văn Đ, sinh năm 1955 (Có mặt)
Đa chỉ: T n phTQ, thị trn NhN, huyện n Yên, tnh BG.
* Bị đơn: Anh Hoàng Văn V, sinh năm 1979(Có mặt).
Chị Nông Thị Q, sinh năm 1980 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn CĐ, xã AT, huyện YT, tỉnh BG.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Đoàn ThP, sinh năm 1957 (Vắng mặt, đã đơn đnghị xét xử vắng
mặt)
Địa chỉ: Tdân phTQ, thtrn NhN, huyện n Yên, tỉnh BG.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện các lời khai trong hồ vụ án lời khai tại phiên
tòa ông Dương Văn Đ trình bày:
Gia đình ông m nghề buôn bán thức ăn chăn nuôi nên ông đã bán cám cho
vợ chồng anh V, chị Q về chăn nuôi từ năm 2007, hai bên thỏa thuận ông bán cám
2
cho vợ chồng anh V theo chu kỳ chăn nuôi từ khi vợ chồng anh V bắt con giống về
chăn cho đến khi xuất bán phải trả tiền mua cám còn nợ cho ông. Đến ngày
27/12/2008 hai bên chấm dứt việc mua bán cám, vợ chồng anh V còn nợ ông số
tiền 52.798.000đ (Năm mươi hai triệu bẩy trăm chín mươi tám nghìn đồng), sau
khi chốt sổ hằng năm ông đều đến đôn đốc vợ chồng anh V trả tiền, vợ chồng anh
V đã trả cho ông được số tiền 29.300.00 (Hai mươi chín triệu ba trăm nghìn
đồng), còn nợ lại ông số tiền 23.498.000đ. Ông khởi kiện yêu cầu anh V chị
Q phải trả cho ông số tiền gốc còn nợ 23.498.000đ (Hai mươi ba triệu bốn trăm
chín mươi tám nghìn đồng) và yêu cầu vợ chồng anh V, chị Q phải trả tiền lãi của
số tiền 23.498.000đ tính từ ngày 27/12/2008 theo lãi suất 0,75%/ tháng.
* Tại bản tự khai ngày 27/7/2021, các tài liệu trong hồ vụ án lời
khai tại phiên tòa anh Hoàng Văn V trình bày:
Vợ chồng anh mua cám của ông Đ về chăn nuôi từ khoảng năm 2007- 2008,
khi bắt đầu mua cám hai bên thống nhất thỏa thuận ông Đ đầu cám cho vợ
chồng tôi từ khi vợ chồng anh mua con giống về chăn nuôi cho đến khi xuất n
(khoảng 4 đến 5 tháng) vợ chồng anh sẽ trả hết tiền mua cám còn nợ cho ông Đ.
Tuy nhiên, do chăn nuôi thua lỗ nên vợ chồng anh chưa trả hết số tiền mua cám
còn nợ. Ngày 27/12/2008 hai bên chốt sổ nợ vợ chồng anh còn nợ ông Đ
52.798.000đ (Năm mươi hai triệu bẩy trăm chín mươi tám nghìn đồng), Hằng năm
vợ chồng anh đều trả tiền cho ông Đ, đến nay vợ chồng anh còn nợ ông Đ số tiền
23.498.000đ (Hai mươi ba triệu bốn trăm chín mươi tám nghìn đồng). Ông Đ khởi
kiện yêu cầu anh chị Q trả số tiền gốc 23.498.000đ (Hai mươi ba triệu bốn
trăm chín mươi tám nghìn đồng) tiền gốc anh Đồng ý trả. Anh không Đ ý trả tiền
lãi bởi vì trong mỗi bao cám ông Đ bán cho anh ông Đ đã được hưởng tiền lãi.
* Tại bản tự khai ngày 27/7/2021, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai
tại phiên tòa chị Nông Thị Q trình bày:
Vợ chồng chị mua cám của ông Đ về chăn nuôi từ năm 2007 2008, đến
ngày 27/12/2008 hai bên chốt sổ nợ vợ chồng chị còn nợ ông Đ số tiền gốc
52.798.000đ (Năm mươi hai triệu bẩy trăm chín mươi tám nghìn đồng), từ khi chốt
sổ đến nay vợ chồng chị trả ông Đ được số tiền là 29.300.000đ (Hai mươi chín
triệu ba trăm nghìn đồng) còn nợ lại số tiền 23.498.000đ (Hai mươi ba triệu bốn
trăm chín mươi tám nghìn đồng).Ông Đ khởi kiện chị đồng ý trả cho ông Đ
23.498.000đ (Hai mươi ba triệu bốn trăm chín mươi tám nghìn đồng) tiền gốc, chị
không Đ ý trả tiền lãi.
* Tại bản tự khai ngày 20/7/2021, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai
tại phiên tòa bà Đoàn Thị P trình bày:
vợ của ông Dương Văn Đ, vào năm 2007 vợ chồng có bán cám cho
3
anh V, chị Q về chăn nuôi đến nay vợ chồng anh V còn nợ bà số tiền là
23.498.000đ (Hai mươi ba triệu bốn trăm chín ơi tám nghìn đồng). Nay ông Đ
khởi kiện bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Đ yêu cầu anh V, chị Q phải trả
cho bà và ông Đ số tiền gốc là 23.498.000đ (Hai mươi ba triệu bốn trăm chín mươi
tám nghìn đồng) yêu cầu anh V, chị Q phải trả tiền lãi theo lãi suất 0,75%/
tháng tính từ ngày 27/12/2008.
Tại phiên tòa ông Dương Văn Đ giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không thay
đổi, bổ sung gì.
Anh Hng Văn V, chị Nông Thị Q, bà Đoàn Thị P giữ nguyên quan điểm đã
trình y. c đương skhông thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ
vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện YT ban hành công văn số 692/CV-
VKS ngày 25/8/2021 xác định vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham
gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Dương Văn Đ khởi kiện anh Hoàng
Văn V chị Nông Thị Q yêu cầu trả tiền mua cám còn nnên đây quan hệ
pháp luật về Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”, Anh V và chị Q cùng địa
chỉ trú tại huyện YT nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39
của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
huyện YT, tỉnh BG.
Về áp dụng pháp luật: Sự kiện pháp xảy ra từ năm 2008 nên cần áp
dụng các quy định của Bộ luật dân sự 2005 để giải quyết
[2] Về nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn Đ Hội đồng xét xử nhận định:
Ông Dương Văn Đ bán cám cho anh Hoàng Văn V chị ng Thị Q về
chăn nuôi từ năm 2007, các bên thống nhất thỏa thuận về hình thức mua bán cám
theo chu kỳ chăn nuôi, ông Đ đầu cám cho vchồng anh V từ khi bắt đầu chu
kỳ chăn nuôi đến khi xuất bán thì anh V chị Q phải trả hết số tiền mua cám
còn nợ. Hai bên đều thống nhất ngày chốt sổ nợ ngày 27/12/2008 vợ chồng anh
V, chQ còn nợ ông Đ số tiền gốc 52.798.00(Năm mươi hai triệu bẩy trăm
chín mươi tám nghìn đồng), từ khi chốt sổ đến nay anh V, chị Q trả ông Đ được số
tiền 29.300.000đ (Hai ơi chín triệu ba trăm nghìn đồng) còn nợ lại số tiền
23.498.000đ (Hai mươi ba triệu bốn trăm chín mươi tám nghìn đồng). Ông Đ khởi
4
kiện yêu cầu anh V và chị Q phải trả số tiền gốc còn nợ 23.498.000đ (Hai mươi
ba triệu bốn trăm chín mươi tám nghìn đồng), anh V chị Q cùng đồng ý trả tiền
theo yêu cầu của ông Đ nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ yêu cầu
anh V chị Q phải trả cho ông Đ số tiền gốc 46.200.000đ (Bốn mươi sáu triệu
hai trăm nghìn đồng).
- Về lãi suất: Đối với yêu cầu tính i của ông Đ yêu cầu tính lãi của số tiền
gốc 23.498.000đ t ngày 27/12/2008 đến ngày 30/8/2021 theo i suất 0,83%/
tháng. Anh V chị Q không Đ ý trả tiền lãi với do khi n cám ông Đ đã được
tiền lãi trong mỗi bao cám mà ông Đ bán. Xét u cầu tính i của ông Đ Hội đồng
xét xử thấy rằng căn cứ Khoản 2 Điều 438 Bộ luật n sự khi bên mua chậm trả nợ
thì phải chịu i suất đối với số tiến chậm trả việc ông Đ yêu cầu tính i theo i
suất 0,75%/tháng phù hợp với quy định tại Điều 438 Bộ luật dân sự n được chấp
nhận. Do đó cần buộc vợ chồng anh V, chị Q phải trả tiền lãi của số tiền 23.498.00
nợ gốc cho ông Đ bà P.
Số tiền lãi anh V, chị Q phải trả ông Đ, P được tính như sau: Thời gian
tính lãi t ngày 27/12/2008 đến ngày 30/8/2021 152 tháng 03 ngày, cụ thể:
23.498.000đx 0,75%/ tháng x 152 tháng 03 ngày = 26.804.600đ (Hai mươi sáu
triệu tám trăm linh bốn nghìn sáu trăm đồng).
[3] Về lãi suất chậm trả: Đề đảm bảo quyền lợi của người được thi hành án
cần áp dụng Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
[4]. Về án p:u cầu khởi kiện của ông Dương Văn Đ được chấp nhận nên
anh Hng Văn V và chị Nông ThQ phải chịu tiền án p dân s thẩm
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự quyền kháng cáo theo quy định
của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều
143, Điều 144, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 428,
Điều 438, khoản 2 Điều 305, Bộ luật dân sự năm 2005, Điều 357, Điều 468 Bộ
luật dân sự năm 2015 ; Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Điều 2
Luật thi hành án dân sự xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn Đ.
1. Về nghĩa vụ trả nợ: Buộc anh Hoàng Văn V chị Nông Thị Q phải trả
cho ông Dương Văn Đ số tiền nợ gốc 23.498.000đ (Hai mươi ba triệu bốn trăm
chín ơi tám nghìn đồng) 26.804.600đ tiền lãi, tổng cộng cả gốc lãi
50.302.60
5
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xthẩm cho đến khi thi hành án xong
tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi
của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468
Bộ luật dân sự năm 2015.
2. V tiền án phí: Anh Hoàng Văn V chị Nông Thị Q phải chịu
2.515.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự mặt quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản
án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật
thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9 - Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thinh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 -
Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND tinh BG;
- VKSND tỉnh BG;
- VKSND huyện YT;
- THA huyện YT;
- Các đương sự;
- Lưu HS.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Việt Hùng
Tải về
Bản án số 31/2021/DS-ST Bản án số 31/2021/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất