Bản án số 31/2019/HNGĐ-ST ngày 01/11/2019 của TAND huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 31/2019/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 31/2019/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 31/2019/HNGĐ-ST ngày 01/11/2019 của TAND huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Quảng Trạch (TAND tỉnh Quảng Bình) |
| Số hiệu: | 31/2019/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 01/11/2019 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Anh S làm đơn xin ly hôn chị H |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN QUẢNG TRẠCH Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 83/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 01/11/2019
“V/v Ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Xuân Lợi
2. Bà Đậu Thị Phú
Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thùy Linh - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân
huyện Quảng Trạch
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch tham gia phiên toà:
Không.
Ngày 01 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng
Trạch xét xử sơ thẩm công khai
vụ án thụ lý số: 83/2019/TLST-HNGĐ ngày 28
tháng 6 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
35/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Huỳnh Văn S, sinh năm 1990; Nơi đăng ký HKTT: xã
T, huyện P, tỉnh Quảng Nam.
Chỗ ở hiện nay: Số 68 Đ, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.
2. Bị đơn: Chị Phạm Thị Thu Hà, sinh năm 1989; Địa chỉ: Xóm 1, thôn T,
xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình
Tại phiên tòa các đương sự có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 24/6/2019, bản tự khai cũng như tại phiên tòa,
2
nguyên đơn anh Huỳnh Văn S trình bày: Anh và chị Phạm Thị Thu H có quá trình
tìm hiểu và đi đến kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại
UBND xã Q vào ngày 13 tháng 02 năm 2017. Sau khi đăng ký kết hôn chị H về
sống tại xã Q còn anh S sống tại Đà Nẵng. Thời gian chị H sinh con ở quê ngoại
thì anh S có thăm con và vợ chồng chính thức ly thân từ tháng 11 năm 2018 cho
đến nay. Cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Anh Huỳnh Văn S có nguyện
vọng muốn được ly hôn với chị Phạm Thị Thu H.
Về quan hệ con chung: Anh S trình bày vợ chồng có một con chung tên là
Phạm Thiên N, sinh ngày 06/4/2014. Đến ngày 13/02/2017 vợ chồng mới đăng ký
kết hôn nên con sinh ra mang họ mẹ, tuy nhiên anh S xác nhận đó là con chung
của vợ chồng. Vì vậy, sau khi ly hôn anh S đồng ý giao con cho vợ là chị Phạm
Thị Thu H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con cùng chị H mỗi
tháng 2.000.000 đồng.
Tại phiên tòa anh S nhất trí đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con cùng chị H
mỗi tháng 3.000.000 đồng.
Về tài sản chung và nợ chung: Anh S trình bày quá trình chung sống vợ
chồng không có tài sản chung, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ của
vợ chồng.
Trong bản tự khai ngày 22/7/2019 và tại phiên tòa, bị đơn chị Phạm Thị
Thu H trình bày: Chị H và anh S đi đến hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện,
đã đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Q vào ngày 13 tháng 02 năm 2017. Sau
khi kết hôn, mỗi người sống một nơi nên giữa vợ chồng chưa có mâu thuẫn gì lớn
đến mức phải ly hôn nên nguyện vọng muốn hai vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy con
cái. Tuy nhiên tại phiên tòa chị H đã nhất trí ly hôn anh S.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên là Phạm Thiên N, sinh ngày
06/4/2014. Sau khi ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi
dưỡng con chung và trong bản tự khai chị H không yêu cầu anh S phải đóng góp
tiền cấp dưỡng nuôi con chung. Tại phiên tòa chị H yêu cầu anh S đóng góp tiền
cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị H trình bày quá trình chung sống vợ
chồng không có tài sản chung, không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ của
vợ chồng.
Tòa án đã tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật, tiến
hành mở phiên tòa xét xử vụ án vào ngày 16/10/2019, do chị Phạm Thị Thu H
vắng mặt lần thứ nhất nên đã hoãn phiên tòa.
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, căn
cứ vào kết quả hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tình cảm: anh Huỳnh Văn S và chị Phạm Thị Thu H đi đến
hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Quảng L vào
ngày 13 tháng 02 năm 2017, vì vậy quan hệ hôn nhân hoàn toàn hợp pháp. Sau khi
kết hôn, vợ chồng anh S và chị H sống xa nhau, mỗi người một nơi. Cuộc sống vợ
chồng không có hạnh phúc. Chị H trình bày giữa vợ chồng chưa có mâu thuẫn gì
lớn đến mức phải ly hôn nên nguyện vọng muốn hai vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy
con cái tuy nhiên theo ý kiến anh S trình bày không còn tình cảm với chị H và
mong muốn xin được ly hôn để sớm ổn định cuộc sống của bản thân và tại phiên
tòa chị H đã nhất trí. Xét thấy, giữa anh S và chị H sống ly thân đã lâu, đời sống
chung không tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử
căn cứ vào Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia
đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh S, xét xử cho anh S được ly hôn với chị
H.
[2] Về quan hệ con chung: Vợ chồng anh S và chị H có 01 con chung tên là
Phạm Thiên N, sinh ngày 06/4/2014. Do điều kiện vợ chồng chị H sinh con trước
khi đăng ký kết hôn nên khi đăng ký khai sinh cho con, chị H đã lấy con mang họ
của chị H. Trong bản tự khai và tại phiên tòa anh S đều xác nhận nội dung trên
đúng sự thật và anh xác định con Phạm Thiên N là con chung của anh và chị H.
Tại phiên tòa chị H và anh S nhất trí thỏa thuận giao con chung cho chị H trực tiếp
chăm sóc, nuôi dưỡng và anh S đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng
3.000.000 đồng, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 58, 81, 82, 83,
110 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận sự thỏa thuận của cac bên đương sự.
[3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án chị H
và anh S đều trình bày vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên Hội
đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: Anh Huỳnh Văn S phải nộp tiền án phí ly hôn và án phí cấp
dưỡng nuôi con theo định kỳ để sung vào công quỹ Nhà nước theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Điều 56, Điều 58, Điều 81, 82, 83 và Điều 110 của Luật Hôn nhân và
Gia đình;
4
- Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Khoản 5, khoản 6 Điều
27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí
Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ tình cảm: Cho ly hôn giữa anh Huỳnh Văn S và chị Phạm Thị
Thu H.
2. Về quan hệ con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các bên đương sự:
Giao con chung Phạm Thiên N, sinh ngày 06/4/2014 cho chị Phạm Thị Thu H
trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Huỳnh Văn S thỏa thuận đóng góp tiền cấp
dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng (ba triệu đồng), kể từ tháng 11/2019
cho đến khi con tròn 18 tuổi.
3. Về quan hệ tài sản chung và công nợ chung: Không xem xét.
4. Về án phí: Buộc anh Huỳnh Văn S phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly
hôn và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ để sung công
quỹ nhà nước. Số tiền án phí anh S phải nộp được trừ vào khoản tiền tạm ứng án
phí 300.000 đồng mà anh đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng
Trạch theo biên lai số 0001370 ngày 27/6/2019. Anh S phải nộp thêm 300.000
đồng.
Án xử sơ thẩm công khai, báo cho các đương sự có mặt tại phiên tòa có
quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm
(ngày 01/11/2019).
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Quảng Bình;
- VKSND huyện Quảng Trạch;
- Chi cục THADS huyện Quảng Trạch; (Đã ký)
- UBND xã Quảng Lưu;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Lan Phƣơng
5
6
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 21/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 11/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 07/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 06/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 31/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 31/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 31/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm