Bản án số 31/2018/DS-PT ngày 07/08/2018 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 31/2018/DS-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 31/2018/DS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 31/2018/DS-PT ngày 07/08/2018 của TAND cấp cao tại TP.HCM về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản về quyền sở hữu tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND cấp cao tại TP.HCM |
| Số hiệu: | 31/2018/DS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 07/08/2018 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Giữ y án sơ thẩm |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 31/2018/DS-PT
Ngày 07 - 8 - 2018
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán nhà,
tranh chấp hợp đồng tín dụng,
tranh chấp đòi tiền sửa chữa nhà
và tranh chấp thừa kế.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Đình Thanh
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thanh Duyên
Bà Trần Thị Thu Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Diệu Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân cấp
cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí
Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thái - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số
37/2018/TLPT- DS ngày 07 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp hợp đồng mua
bán nhà, tranh chấp hợp đồng tín dụng, tranh chấp đòi tiền sửa chữa nhà và
tranh chấp thừa kế.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 1025/2016/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm
2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo:
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 588/2018/QĐ-PT
ngày 04 tháng 5 năm 2018; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Bà Nguyễn Thị Minh Ph, sinh năm 1948; cư trú tại: đường Đ,
Phường 15, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
2
Người đại diện theo ủy quyền của bà Ph (được ủy quyền theo văn bản
ngày 16/4/2013): Ông Phan Huy Kh, sinh năm 1964; cư trú tại: đường Ph,
Phường 13, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt).
2. Ông Nguyễn Minh L, sinh năm 1952; quốc tịch: Hoa Kỳ; cư trú tại:
H TPK N H, CT 06473, USA; (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông L (được ủy quyền theo văn bản
ủy quyền ngày 20/10/2014): Bà Phạm Thị Phương Th, sinh năm 1975; cư trú
tại: đường L, Phường 14, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
- Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) N;
Địa chỉ: đường L1, Phường 1, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật chưa có, do ông Ngô Cảnh Tr - Giám đốc,
đại diện theo pháp luật của Công ty, chết ngày 03/8/2010, hiện Công ty chưa
cử người thay thế.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Ngô Công C, sinh năm 1925; thường trú: đường Th, Phường 12,
Quận 5, Thành phố Hồ, Chí Minh; tạm trú: đường L1, Phường 01, Quận 11,
Thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông C (được ủy quyền theo văn bản
ủy quyền ngày 26/4/2013): Ông Lại Huy T, sinh năm 1989; cư trú tại: đường
Tr, Phường 6, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông C: Ông Phạm Ngọc
Tr1, Luật sư – Công ty luật TNHH N, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí
Minh; (có mặt).
2. Ngân hàng Thương mại cổ phần NT;
Trụ sở chính: đường Tr1, quận H, Thành phố Hà Nội.
Trụ sở chi nhánh NSG: Tầng 1 (trệt), Tầng 2, Tầng 3, Tầng 4, Tòa nhà
V6, Plot V, Khu đô thị mới H1, đường Ng, phường T, Quận 7, Thành phố Hồ
Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng (được ủy quyền theo văn
bản ủy quyền ngày 25/9/2008 và văn bản ủy quyền ngày 15/03/2016): Bà
Lương Thanh Tr2, sinh năm 1973; cư trú tại: đường Tr2, Phường 8, Quận 3,
Thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt).
3. Ông Lâm Quốc V, sinh năm 1967; địa chỉ thường trú: đường T,
phường H3, quận T1, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ tạm trú: đường Tr4, xã
Ph1, huyện B1, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt).
3
Người đại diện theo ủy quyền của ông V (được ủy quyền theo văn bản
ủy quyền ngày 14/4/2014): Ông Tô Bá Th1, sinh năm 1977; cư trú tại: đường
Ng1, Phường 3, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt).
4. Ông Ngô Cảnh Ph1, sinh năm 1958; quốc tịch: Úc; cư trú tại: M
287493 G, C Centre, P.O Box 274, G, NSW 2580, Australia; (vắng mặt).
5. Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Cảnh Tr,
sinh năm 1961 (chết ngày 03/8/2010) gồm:
5.1 Bà Dương Thị Thu H; (vắng mặt).
5.2 Ông Kevil Ngô Thế V1; (vắng mặt).
5.3 Ông Kieran Ngô Vinh Q; (vắng mặt).
5.4 Ông Kenneth Ngô Trung C; (vắng mặt).
Cùng quốc tịch Úc; cùng địa chỉ: 336 C Rd, C, NSW 2166, Australia.
6. Bà Trần Thị H1, sinh năm 1984; cư trú tại: ấp A, xã L3, huyện Ch,
Tỉnh Bến Tre; (xin vắng mặt).
7. Bà Trần Thị O, sinh năm 1953; cư trú tại: đường L1, Phường 1, Quận
11, Thành phố Hồ Chí Minh; (có mặt).
- Người kháng cáo:
1. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh Ph;
2. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Công C và bà Trần
Thị O.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Minh Ph (có ông
Phan Huy Kh làm đại diện) và lời trình bày của các đương sự kèm theo các
chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn yêu cầu hủy Hợp đồng mua bán nhà đối với căn nhà số 117
L1, Phường 1, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 06/12/2000 giữa ông
Ngô Công C, bà Phạm Thị H và Công ty TNHH N, diện tích xây dựng là
331,20m
2
lý do: Công ty chưa thanh toán tiền mua nhà, giá mua bán là 1.400
lượng vàng 9999 (căn cứ nợ tiền mua nhà là Biên bản họp của Công ty TNHH
N về việc mua thiếu căn nhà trên); Hợp đồng mua bán nhà số công chứng
109502 ngày 06/12/2000 tại Phòng công chứng số 2 bị vô hiệu do giả tạo. Do
đó, căn nhà trên, có diện tích 1.662,8m
2
như bản vẽ hiện trạng được kiểm tra
nội nghiệp ngày 19/6/2014 và đã được Công ty Cổ phần giám định N thẩm
định giá 65.583.000.000 đồng, là tài sản thuộc sở hữu của ông Ngô Công C và
bà Phạm Thị H (chết ngày 20/3/2001, không có lập di chúc) có các đồng thừa
kế của bà Phạm Thị H là ông Nguyễn Minh L, Nguyễn Thị Minh Ph, Ngô
Cảnh Ph1, Ngô Cảnh Tr (chết ngày 03/8/2010, có lập di chúc) có các đồng
thừa kế theo pháp luật của ông Tr là Dương Thị Thu H, Kevil Ngô Thế V1,
4
Kieran Ngô Vinh Q, Kenneth Ngô Trung C, ngoài ra còn có người thừa kế
theo di chúc của ông Tr là Nguyễn Thị Minh Ph và Trần Thị H1. Di chúc của
ông Tr là hợp pháp, nên bà Ph yêu cầu chia toàn bộ nhà đất trên theo pháp luật
cho bà Ph và bà Ph được hưởng thêm phần theo di chúc của ông Tr. Đề nghị
phát mãi toàn bộ nhà đất trên và chia theo pháp luật và phần nhà đất thuộc sở
hữu của ông C (60% trị giá nhà đất, ông C sẽ thực hiện trả nợ cho Ngân hàng
50% số nợ tương ứng với phần vốn góp của ông C trong Công ty TNHH N).
Nguyên đơn ông Nguyễn Minh L (có người đại diện theo ủy quyền là bà
Phạm Thị Phương Th) trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ông Phan
Huy Kh đại diện cho bà Nguyễn Thị Minh Ph.
Bị đơn Công ty TNHH N có ông Lâm Quốc V trình bày:
Ngày 25/10/2000, ông C và ông V có thỏa thuận góp vốn thành lập
Công ty TNHH N với nội dung: ông V 50%, ông C 50% góp bằng 2 giá trị căn
nhà. Ngày 06/12/2000, ông C, bà Phạm Thị H và Công ty TNHH N ký hợp
đồng mua bán căn nhà số 117 L1, Phường 1, Quận 11, được công chứng, trước
bạ và đăng bộ. Trước đó, ông V đã giao cho ông C số tiền 200.000.000đ (hai
trăm triệu đồng) và sau đó vài ngày ông V trả đủ cho ông C số tiền
2.000.000.000 (hai tỷ đồng). Như vậy, việc mua bán nhà giữa ông C, bà Phạm
Thị H và Công ty TNHH N đã hoàn tất theo đúng quy định pháp luật. Nay ông
C yêu cầu hủy hợp đồng mua bán, ông không đồng ý vì ông đã bỏ ra 50% số
tiền mua nhà do đó ông phải được sở hữu ½ căn nhà này.
Ông Ngô Công C – Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty TNHH N có
ông Lại Huy T đại diện trình bày:
Công ty TNHH N có thiếu nợ theo Hợp đồng tín dụng số
18003200100001 đối với Ngân hàng TMCP NT.
Công ty TNHH N thế chấp tài sản để vay tiền của Ngân hàng là căn nhà
tại địa chỉ số 117 L1, Phường 1, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích
đất ở theo giấy tờ pháp lý mà Ngân hàng đang giữ là khoảng 331,20m
2
chứ
không phải toàn bộ diện tích đất ở 1.708,85m
2
.
Giám đốc Lâm Quốc V đã được thay thế bằng ông Ngô Cảnh Tr và nay
ông Ngô Cảnh Tr đã chết hiện Công ty TNHH N chỉ còn tồn tại trên mặt pháp
lý, thực tế Công ty không có hoạt động và hiện cũng chưa có người đại diện
theo pháp luật của Công ty thay thế ông Ngô Cảnh Tr.
Ông C không chịu trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng về khoản nợ Công
ty TNHH N đã vay, mặc dù trên giấy tờ pháp lý ông C có góp vốn 50% trên
danh nghĩa, nhưng thực tế không có ai góp vốn, ông V cũng không góp vốn.
Vốn vay 2.000.000.000 đồng cá nhân ông V sử dụng mua máy móc sản xuất
nhưng sau đó ông V tự ý tháo dỡ máy móc mang đi nơi khác, hiện nay ông V,
ông C đang tranh chấp vốn góp thành viên công ty và vụ án kinh doanh thương
mại này đang tạm đình chỉ với lý do là chờ giải quyết trước vụ án này đối với
5
phần nợ phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần NT tương ứng với phần
vốn góp của ông C trong Công ty TNHH N.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Công C (có người đại
diện theo ủy quyền là ông Lại Huy T) trình bày:
Ngày 06/12/2000, ông Ngô Công C và bà Phạm Thị H (vợ ông C đã chết
tháng 4/2001) làm hợp đồng mua bán căn nhà số 117 L1, Phường 1, Quận 11
với Công ty TNHH N với diện tích là 331,20m
2
, trong tổng diện tích thực tế là
1.760m
2
với giá 3.000.000.000đ (ba tỷ đồng), hợp đồng được ký kết tại Phòng
công chứng số 2, Thành phố Hồ Chí Minh. Do Công ty TNHH N chưa có vốn
nên ông C, bà Phạm Thị H làm thủ tục để Công ty TNHH N thế chấp nhà vay
vốn Ngân hàng TMCP NT với số tiền 2.000.000.000đ (hai tỷ đồng) theo Hợp
đồng số 01 ngày 02/01/2001. Nhưng đến nay, Công ty TNHH N vẫn chưa trả
tiền cho ông C, bà Phạm Thị H. Nên ông C khởi kiện yêu cầu hủy bỏ hợp đồng
mua bán nhà ký ngày 06/12/2000 giữa bên bán là ông Ngô Công C và bà Phạm
Thị H với bên mua là Công ty TNHH N, lý do hủy: Vô hiệu do giả tạo, không
có mua bán thực, không có thanh toán tiền, ký hợp đồng để Công ty có tài sản
thế chấp Ngân hàng vay vốn hoạt động. Tại thời điểm thế chấp, ông C với tư
cách Chủ tịch Hội đồng thành viên của Công ty, ông Lâm Quốc V là Giám đốc
– người đại diện theo pháp luật của Công ty. Năm 2001, Công ty thay đổi
Giám đốc – người đại diện theo pháp luật là ông Ngô Cảnh Tr. Ông Ngô Cảnh
Tr chết ngày 03/8/2010. Hiện nay, Công ty vẫn chưa làm thủ tục thay thế
người đại diện theo pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ngân hàng TMCP NT (có
người đại diện theo ủy quyền là bà Lương Thanh Tr2) trình bày:
Ngày 02/01/2001, Công ty TNHH N dùng căn nhà số 117 L1, Phường 1,
Quận 11 để thế chấp vay của Ngân hàng với số tiền là 02 tỷ đồng, thế chấp
toàn bộ nhà xưởng gắn liền với đất, đến nay Công ty TNHH N còn nợ Ngân
hàng cả vốn lẫn lãi tính đến 20/9/2016 là 3.880.627.165 đồng. Ngân hàng xác
định sẽ phát mại tài sản thế chấp là căn nhà số 117 L1, Phường 1, Quận 11 với
diện tích là 1.708,85m
2
để thu hồi vốn vay và lãi vay nếu Công ty TNHH N
không có khả năng trả nợ.
Công ty TNHH N thế chấp toàn bộ đất có diện tích 1.708,85m
2
và nhà
xưởng gắn liền với đất tại 117 L1, Phường 1, Quận 11, Thành phố Hồ Chí
Minh căn cứ theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 01-2001 TSTC/VCBTT ngày
02/01/2001 và Hợp đồng tín dụng Việt Nam đồng theo dự án đầu tư phát triển
số 01-2001 TSTC/VCBTT ngày 02/01/2001 và Ngân hàng hiện đang giữ toàn
bộ bản chính giấy tờ pháp lý liên quan đến tài sản thế chấp trên để vay
2.000.000.000 đồng vốn của Ngân hàng.
Bà Trần Thị O trình bày: Bà có đầu tư sửa chữa tại nhà đất đang tranh
chấp và có nộp bản thẩm định giá chi phí sửa chữa cho Tòa án tham khảo.
Hiện nay, bà đang quản lý, sử dụng nhà, đất này. Bà O yêu cầu được thanh
6
toán trả lại chi phí sửa chữa nhà mà bà đã đầu tư khi Tòa án giải quyết đối với
tranh chấp đối với nhà đất này số tiền là 3.878.800.000 đồng.
Bà Trần Thị H1 trình bày: Thống nhất với ý kiến với ông Phan Huy Kh
về việc yêu cầu được hưởng phần tài sản của ông Tr đã có di chúc chia cho bà
Hằng được hưởng một phần tài sản theo di chúc.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 1025/2016/DSST ngày 29 tháng 9 năm
2016, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:
Căn cứ các Điều 147; khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; các
Điều 450, 451, 452, 471, 634 Bộ luật Dân sự; Nghị định số 70/CP ngày
12/06/1996 của Chính phủ quy định về án phí, lệ phí Tòa án và căn cứ Pháp
lệnh án phí ngày 27/02/2009;
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Minh Ph, ông
Nguyễn Minh L; chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP NT, không chấp
nhận yêu cầu của bà Trần Thị O.
1. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Minh L và bà Nguyễn Thị
Minh Ph hủy bỏ Hợp đồng mua bán nhà được lập ngày 06/12/2000 tại Phòng
Công chứng 2, số công chứng 109502 giữa bên bán nhà là ông Ngô Công C, bà
Phạm Thị H với bên mua là Công ty TNHH N, đối với 331,2m
2
đất nhà ở tại
địa chỉ 117 (số cũ 119) đường L1, Phường 1, Quận 11, Thành phố Hồ Chí
Minh. Xác định nhà đất tại 117 (số cũ 119) đường L1, phường 11, Quận 11,
Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản của Công ty TNHH N.
2. Đình chỉ yêu cầu của ông Nguyễn Minh L và bà Nguyễn Thị Minh Ph
đòi chia thừa kế di sản thừa kế của bà Phạm Thị H là 1/2 trị giá nhà đất tổng
diện tích 1.662,8m
2
như bản vẽ hiện trạng được kiểm tra nội nghiệp ngày
19/6/2014 do 1/2 nhà đất này không phải là di sản của bà Phạm Thị H.
3. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP NT, buộc Công ty TNHH
N trả số tiền vốn vay 1.306.801.976đ (một tỷ ba trăm lẻ sáu triệu tám trăm lẻ
một ngàn chín trăm bảy mươi sáu đồng) và lãi vay 2.573.825.189đ (hai tỷ năm
trăm bảy mươi ba triệu tám trăm hai mươi lăm ngàn một trăm tám mươi chín
đồng) tính đến ngày 20/9/2016 cho Ngân hàng TMCP NT;
Công ty TNHH N phải trả tiếp số tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín
dụng giữa hai bên được tính trên số vốn vay chưa thanh toán xong kể từ ngày
21/9/2016 cho đến ngày Ngân hàng thu hồi đủ số vốn vay.
Ngân hàng TMCP NT được yêu cầu phát mãi toàn bộ nhà và đất với
tổng diện tích 1.662,8m
2
theo bản vẽ hiện trạng được kiểm tra nội nghiệp ngày
19/6/2014 (không kể phần sửa chữa mà Bà O đã đầu tư, Bà O phải tháo dỡ
phần sửa chữa để trả lại nguyên trạng ban đầu cho Công ty TNHH N) để đảm
bảo việc thi hành án trả nợ cho Ngân hàng.
Công ty TNHH N hoàn trả lại cho Ngân hàng 25.300.000đ (hai mươi
lăm triệu ba trăm ngàn đồng) chi phí thẩm định giá theo Hóa đơn giá trị gia
tăng số 0000654 ngày 29/12/2014 của Công ty Cổ phần giám định N.
7
4. Không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị O, buộc Bà O phải tháo dỡ
phần sửa chữa để trả lại nguyên trạng ban đầu cho Công ty TNHH N theo bản
vẽ hiện trạng do Công ty xây dựng kinh doanh nhà Quận 11 lập và được Phòng
Quản lý đô thị Quận 11 thông qua ngày 29/6/1999.
5. Đình chỉ giải quyết, không xem xét trong vụ án này đối với yêu cầu
của ông Lâm Quốc V về việc tranh chấp thành viên Công ty TNHH N đối với
ông Ngô Công C; Đình chỉ giải quyết đơn của ông Ngô Công C về yêu cầu
tranh chấp hợp đồng mua bán nhà với tư cách là nguyên đơn đối với bị đơn là
Công ty TNHH N mà ông C là Chủ tịch Hội đồng thành viên của Công ty này.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, quyền
kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 04/10/2016, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh Ph có đơn kháng
cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.
Ngày 13/10/2016, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngô Công C và
Trần Thị O có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự có kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu
cầu kháng cáo.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Ngô Công C trình
bày: Lời khai của ông Lâm Quốc V tại Biên bản lấy lời khai ngày 08/10/2003
thể hiện các bên không có tiền góp vốn vào Công ty TNHH N. Thời điểm đó,
do Ngân hàng yêu cầu tài sản thế chấp phải là tài sản của Công ty thì mới cho
thế chấp vay tiền, nên giữa ông C, bà Phạm Thị H với Công ty TNHH N đã lập
hợp đồng mua bán nhà ngày 06/12/2000 là giả tạo để giúp Công ty vay vốn
Ngân hàng. Về nhà đất thế chấp thì chỉ là nhà xưởng trên diện tích đất
331,2m
2
, trong khi Tòa án cấp sơ thẩm tuyên cho Ngân hàng TMCP NT được
yêu cầu phát mãi toàn bộ nhà và đất với tổng diện tích 1.662,8m
2
là vượt quá
phạm vi thế chấp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của
ông C, sửa bản án sơ thẩm theo yêu cầu của ông C và các đồng thừa kế là hủy
hợp đồng mua bán nhà ngày 06/12/2000 giữa ông C, bà Phạm Thị H với Công
ty TNHH N, đồng ý bán phát mãi nhà đất đã thế chấp cho Ngân hàng, trả tiền
cho Ngân hàng xong, còn lại chia cho các đồng thừa kế; còn việc giải quyết
tranh chấp giữa các thành viên Công ty TNHH N sẽ được giải quyết bằng một
vụ án khác.
Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP NT trình bày ý
kiến tranh luận: Ngân hàng không có yêu cầu tài sản thế chấp phải là tài sản
của Công ty TNHH N thì mới cho thế chấp vay tiền như Luật sư bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho ông Ngô Công C trình bày. Khi ký hợp đồng thế chấp
tài sản vay tiền Ngân hàng thì có bộ hồ sơ nhà đất tại 117 L1, Phường 1, Quận
11, Thành phố Hồ Chí Minh đi kèm, trong đó có sơ đồ, bản vẽ diện tích đất
1.708,85m
2
và nhà xưởng gắn liền, nên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên cho Ngân
hàng TMCP NT được yêu cầu phát mãi toàn bộ nhà và đất với tổng diện tích
1.662,8m
2
là đúng theo hợp đồng thế chấp tài sản mà các bên đã ký.
8
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về
việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc
thẩm: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tiến hành các thủ
tục tố tụng giải quyết vụ án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân
sự; các đương sự tham gia tố tụng vụ án đã thực hiện quyền và chấp hành
nghĩa vụ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về kháng cáo của bà Nguyễn Thị Minh Ph, ông Ngô Công C và Trần
Thị O: Ngày 06/12/2000, vợ chồng ông Ngô Công C và bà Phạm Thị H đã lập
hợp đồng bán căn nhà số 117 L1, Phường 1, Quận 11 cho Công ty TNHH N.
Căn nhà và đất số 117 L1, Phường 1, Quận 11 đã là tài sản của Công ty TNHH
N và đã được Công ty thế chấp để vay tiền của Ngân hàng TMCP NT. Nguyên
đơn bà Nguyễn Thị Minh Ph cho rằng hợp đồng bán căn nhà trên là giả tạo,
nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Nguyên đơn còn cho
rằng Công ty TNHH N chưa trả tiền mua nhà nhưng cũng không có tài liệu,
chứng cứ thể hiện. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo
của bà Nguyễn Thị Minh Ph, ông Ngô Công C và bà Trần Thị O; giữ nguyên
bản án sơ thẩm.
Đối với việc ông Lâm Quốc V bỏ việc, không đến làm việc tại Công ty
TNHH N, ông V lấy máy móc, tài sản của Công ty nếu có tranh chấp thì giải
quyết bằng vụ án khác theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh Ph và người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Công C, bà Trần Thị O nộp trong thời
hạn và đúng thủ tục theo quy định của pháp luật nên hợp lệ; Hội đồng xét xử
phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm như sau:
1. Về tố tụng:
[1.1] Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp,
thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền và thủ tục theo quy định của Bộ
luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Trong quá trình tham gia tố tụng vụ án này, Giám đốc Công ty
TNHH N là ông Ngô Cảnh Tr chết vào ngày 03/8/2010; nhưng do hai thành
viên góp vốn thành lập Công ty là ông C và ông V đang có mâu thuẫn về
quyền và lợi ích trong Công ty và đang trong quá trình giải quyết ở một vụ án
khác theo đơn khởi kiện của ông V yêu cầu xác định ông được sở hữu 50% nhà
và đất của Công ty tại địa chỉ 117 (số cũ 119) đường L1, Phường 1, Quận 11,
Thành phố Hồ Chí Minh; nên Công ty không cử được người đại diện theo pháp
luật thay thế ông Tr. Tuy nhiên, vì toàn bộ thành viên góp vốn thành lập Công
ty TNHH N là ông V và ông C đều đang tham gia tố tụng với tư cách là người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án này, nên Tòa án cấp sơ thẩm vẫn
tiến hành xét xử vụ án là phù hợp thực tế khách quan, vẫn đảm bảo quyền và
lợi ích hợp của các đương sự theo quy định pháp luật.
9
[1.3] Sau khi xét xử sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện việc ủy
thác tư pháp tống đạt bản án sơ thẩm cho các đương sự đang cư trú ở nước
ngoài vắng mặt tại phiên tòa theo đúng quy định pháp luật, nhưng họ đều
không có đơn kháng cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự có mặt đều
thống nhất đề nghị xét xử vắng mặt các đương sự đang cư trú ở nước ngoài,
nên Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự
này theo quy định pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về việc góp vốn thành lập Công ty TNHH N (Công ty):
[2.1a] Ngày 25/10/2000, ông Ngô Công C và ông Lâm Quốc V đã có
thỏa thuận cùng góp vốn thành lập Công ty TNHH N, theo đó ông C sẽ làm
Chủ tịch Hội đồng thành viên, còn ông V sẽ làm Giám đốc Công ty.
[2.1b] Sau khi Công ty TNHH N được Phòng đăng ký kinh doanh thuộc
Sở Kế hoạch - Đầu tư Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh ngày 08/11/2000, đến ngày 10/11/2000 Hội đồng quản trị Công ty
TNHH N đã họp V/v góp vốn hoạt động Công ty. Theo Biên bản cuộc họp này
thể hiện: Ông Lâm Quốc V – Giám đốc Công ty - góp 1,5 tỷ đồng và ông Ngô
Công C – Chủ tịch HĐQT Công ty - góp 1,5 tỷ đồng (BL 167).
[2.1c] Sau đó, tại Biên bản họp Hội đồng quản trị ngày 20/4/2001 (BL
170) còn có nội dung: Sau khi nghe ông C trình bày yêu cầu đề nghị Ban quản
trị Công ty xác nhận số vốn góp của ông C cho đến thời điểm hiện tại để bổ túc
hồ sơ lập di chúc. Các thành viên nhất trí xác nhận số vốn của ông Ngô Công
C cho đến ngày 20/4/2001 là 1,5 tỷ đồng.
[2.1d] Hơn nữa, tại Biên bản họp Hội đồng thành viên Công ty TNHH N
ngày 24/12/2002 (có mặt ông Ngô Công C và ông Ngô Cảnh Tr, còn ông V
vắng mặt), chính ông C và ông Tr đã xác nhận: Ông Lâm Quốc V là thành viên
Công ty, góp 50% vốn điều lệ.
Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ nêu trên đã có đủ cơ sở xác định ông
Lâm Quốc V và ông Ngô Công C là hai thành viên góp vốn thành lập Công ty
TNHH N, mỗi người góp 50% với số tiền là 1,5 tỷ đồng.
[2.2] Về Hợp đồng mua bán nhà ngày 06/12/2000 đối với nhà đất số
117 (số cũ 119) đường L1, Phường 1, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh:
[2.2a] Ông Ngô Công C có vợ là bà Phạm Thị H (chết ngày 20/3/2001)
có 02 con là ông Ngô Cảnh Ph1 và Ngô Cảnh Tr. Bà Phạm Thị H còn có 02
con riêng là Nguyễn Thị Minh Ph và Nguyễn Minh L.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng bà Phạm Thị H và ông Ngô Công
C có tạo lập được căn nhà số 117 (số cũ 119) L1, Phường 1, Quận 11, Thành
phố Hồ Chí Minh.
[2.2b] Xét việc nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh Ph đã căn cứ vào Biên
bản họp bất thường của Công ty TNHH N lập ngày 04/11/2000 để cho rằng, bà
10
Phạm Thị H và ông C đã đồng ý bán thiếu cho Công ty TNHH N căn nhà 117
L1, Phường 1, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh với giá là 1.400 lượng vàng
9999 và đến nay Công ty chưa thanh toán tiền mua căn nhà này, là không có
căn cứ. Vì, Biên bản họp bất thường này không phải là hợp đồng mua bán nhà
và nội dung biên bản chỉ thể hiện việc ông Lâm Quốc V – Giám đốc Công ty,
ông Ngô Công C – Chủ tịch HĐQT Công ty và bà Phạm Thị H tham gia cuộc
họp để bàn bạc, thỏa thuận về việc mua bán căn nhà đất số 117 (số cũ 119) L1,
Phường 1, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, theo Biên bản cuộc họp
ngày 30/11/2000 (BL 168), Hội đồng quản trị mới thống nhất các nội dung
sau:
+ Công ty đồng ý mua lại toàn bộ mặt bằng sản xuất tại số 117 L1,
Phường 1. Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh của bà Phạm Thị H vào mục đích
làm trụ sở Văn phòng và xưởng sản xuất của Công ty.
+ Giá mua được ban quản lý thống nhất là 3 tỷ đồng được lấy từ vốn góp
của thành viên.
+ Nhất trí đề cử ông Lâm Quốc V làm đại diện theo pháp luật của Công
ty để đứng tên trong hồ sơ mua bán mặt bằng sản xuất số 117 L1, Phường 1,
Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2.2c] Tại Hợp đồng mua bán nhà số 12422/HĐ-MBN ngày 06/12/2000
tại Phòng Công chứng nhà nước số 2 Thành phố Hồ Chí Minh (BL 240 - 242);
giữa: Bên bán: Chồng Ngô Công C và vợ Phạm Thị H là sở hữu chủ căn nhà
tọa lạc tại số 117 (số cũ 119) L1, Phường 1, Quận 11, Thành phố Hồ Chí
Minh. Bên mua: Công ty TNHH N. Giá mua bán 03 tỷ. Bên A đã nhận trước
02 tỷ; có nội dung ghi rõ: Sau khi công chứng xong, bên B giao hết tiền, bên A
giao nhà. Hợp đồng này có chữ ký của ông C, bà Phạm Thị H và Công ty
TNHH N do ông V làm đại diện. Trong khi đó, việc nguyên đơn cho rằng
Công ty TNHH N chưa thanh toán tiền mua nhà nhưng không đưa ra được tài
liệu, chứng cứ để chứng minh.
[2.2d] Sau đó, tại Đơn xin xác nhận tình trạng nhà tại thời điểm năm
2001 (BL 29), UBND Phường 1, Quận 11 đã xác nhận: Căn nhà số 117 (số cũ
119) L1, Phường 1. Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay thuộc quyền
sở hữu của Công ty TNHH N do ông Lâm Quốc V làm đại diện, không có ai
tranh chấp. Hợp đồng được Công chứng, trước bạ và đăng bộ theo đúng quy
định pháp luật. Đồng thời, theo Biên bản họp Hội đồng quản trị ngày
18/6/2001 (BL 171) có nội dung: Ông Lâm Quốc V thôi giữ chức Giám đốc
Công ty và ông Ngô Cảnh Tr (là con đẻ của ông C) thay cho ông V làm Giám
đốc Công ty từ ngày 18/6/2001; nhưng không thể hiệc có việc bàn giao sổ sách
Công ty, không thể hiện việc Công ty TNHH N chưa trả tiền mua nhà đất cho
vợ chồng bà Phạm Thị H, ông C. Mặc dù, ông C là Chủ tịch Hội đồng thành
viên Công ty TNHH N đã quyết định thay đổi Giám đốc Công ty TNHH N là
ông Lâm Quốc V thành ông Ngô Cảnh Tr kể từ tháng 06/2001 khi cho rằng
giữa ông Lâm Quốc V và ông Ngô Công C đã phát sinh mâu thuẫn, nhưng
Công ty lại không thực hiện việc bàn giao sổ sách công nợ rõ ràng, cụ thể để
11
xác định Công ty có nợ tiền mua bán nhà đối với ông C, bà Phạm Thị H hay
không, trong khi ông C cũng là đồng sở hữu với bà Phạm Thị H bên bán nhà.
[2.2đ] Hơn nữa, tại Biên bản họp Hội đồng thành viên ngày 24/12/2002
(ông V vắng mặt), chính ông C và ông Tr đã xác nhận: Tài sản của Công ty N
là căn nhà 117 L1.
[2.2e] Mặt khác, khi bà Phạm Thị H còn sống, Công ty TNHH N đã thế
chấp toàn bộ nhà xưởng gắn liền với đất tại 117 L1, Phường 1, Quận 11,
Thành phố Hồ Chí Minh cho Ngân hàng TMCP NT theo Hợp đồng thế chấp
tài sản số 01-2001 TSTC/VCBTT ngày 02/01/2001, nhưng bà Phạm Thị H
không có ý kiến phản đối và không có di chúc đối với nhà đất nêu trên.
[2.2g] Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ nêu trên đã có đủ cơ sở xác
định Công ty TNHH N đã mua nhà đất số 117 (số cũ 119) L1, Phường 1, Quận
11, Thành phố Hồ Chí Minh của vợ chồng ông C và bà Phạm Thị H theo Hợp
đồng mua bán nhà số 12422/HĐ-MBN lập ngày 06/12/2000 tại Phòng Công
chứng nhà nước số 2 Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Phạm Thị H và ông C đã
giao nhà cho Công ty TNHH N, Công ty đã đứng tên chủ sở hữu căn nhà, đất
số 117 (số cũ 119) L1, Phường 1, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2.2h] Như vậy, hợp đồng mua bán nhà được lập ngày 06/12/2000 nêu
trên có hiệu lực và toàn bộ nhà, đất với tổng diện tích 1.708,85m
2
thuộc quyền
sở hữu của Công ty TNHH N. Theo đó, bà Phạm Thị H và ông Ngô Công C
không còn quyền sở hữu đối với nhà đất này kể từ ngày 06/12/2000, nên ½
diện tích nhà đất này không phải là di sản của bà Phạm Thị H (chết ngày
20/3/2001). Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên
đơn đòi chia di sản của bà Phạm Thị H đối với ½ diện tích nhà đất này là có
căn cứ.
[2.3] Về xử lý tài sản thế chấp là toàn bộ nhà xưởng gắn liền với đất tại
117 L1, Phường 1, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh của Công ty TNHH N tại
Ngân hàng TMCP NT:
[2.3a] Theo Biên bản họp Hội đồng quản trị ngày 01/12/2000 (BL 169)
gồm ông Lâm Quốc V – Giám đốc Công ty và ông Ngô Công C – Chủ tịch
HĐQT Công ty đã thống nhất nội dung: Cử ông Lâm Quốc V – Giám đốc
Công ty là đại diện theo pháp luật của Công ty trong tất cả các các quan hệ
giao dịch vay vốn, bảo lãnh, thanh toán, thế chấp, cầm cố tài sản Công ty tại
các Ngân hàng và trước các cơ quan pháp luật nhà nước; Chấp nhận dùng các
tài sản của Công ty làm đảm bảo cho các hợp đồng, khoản vay vốn bảo lãnh
của công ty tại các Ngân hàng. Vì vậy, việc ông Ngô Công C cho rằng ông V
tự ý thế chấp vay tiền Ngân hàng TMCP NT, là không có cơ sở.
[2.3b] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của Ngân
hàng TMCP NT trình bày, khi Công ty TNHH N ký hợp đồng thế chấp tài sản
vay tiền của Ngân hàng thì có bộ hồ sơ nhà đất tại 117 L1, Phường 1, Quận 11,
Thành phố Hồ Chí Minh đi kèm, trong đó có sơ đồ, bản vẽ diện tích đất
12
1.708,85m
2
(theo bản vẽ hiện trạng được kiểm tra nội nghiệp ngày 19/6/2014
diện tích đất thực tế là 1.662,8m
2
) và nhà xưởng gắn liền, là có cơ sở.
[2.3c] Chính vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên cho Ngân hàng TMCP
NT được yêu cầu phát mãi toàn bộ nhà và đất với tổng diện tích 1.662,8m
2
theo bản vẽ hiện trạng được kiểm tra nội nghiệp ngày 19/6/2014 là đúng theo
hợp đồng thế chấp tài sản mà các bên đã ký, có căn cứ.
[2.4] Về yêu cầu của bà Trần Thị O về việc yêu cầu được thanh toán lại
chi phí sửa chữa tại nhà đất tranh chấp với số tiền 3.738.800.000 đồng:
Do Bà O tự sửa chữa nhà 117 L1, Phường 1, Quận 11, Thành phố Hồ
Chí Minh, không được phép của cơ quan chức năng, không xin phép Công ty
TNHH N và Ngân hàng. Việc Bà O tự ý sửa chữa nhằm mục đích kinh doanh
của cá nhân Bà O và như Bà O trình bày là sửa chữa, không xây dựng mới trên
nhà xưởng bằng khung công nghiệp có sẵn mà sau này bà mới biết là Công ty
TNHH N đang có tranh chấp với ông C và bà Phạm Thị H về hợp đồng mua
bán nhà đối với nhà đất này. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định buộc bà
Trần Thị O tháo dỡ phần đã sửa chữa để trả lại nguyên trạng ban đầu cho Công
ty TNHH N theo bản vẽ hiện trạng do Công ty Xây dựng kinh doanh nhà Quận
11 lập và được Phòng Quản lý đô thị Quận 11 thông qua ngày 29/6/1999, là có
căn cứ.
[2.5] Từ những phân tích, nhận định nêu trên xét thấy, kháng cáo của bà
Nguyễn Thị Minh Ph, ông Ngô Công C và bà Trần Thị O là không có cơ sở.
Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất với ý kiến, quan điểm đề nghị của
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phúc thẩm, không chấp nhận kháng cáo
của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh Ph và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan ông Ngô Công C, bà Trần Thị O; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số
1025/2016/DS-ST ngày 29/9/2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không
bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo,
kháng nghị.
[4] Do kháng cáo không được chấp nhận, các đương sự có kháng cáo phải
chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Minh Ph và
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Công C và bà Trần Thị O; giữ
nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 1025/2016/DS-ST ngày 29/9/2016 của Tòa
án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:
13
Căn cứ vào Điều 147, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 450, 451, 452, 471, 634 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Nghị định số 70/CP ngày 12/06/1996 của Chính phủ quy định về
án phí, lệ phí Tòa án và căn cứ Pháp lệnh án phí ngày 27/02/2009.
Tuyên xử: Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Minh Ph và
ông Nguyễn Minh L; chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP NT; không
chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị O:
1. Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Minh L và bà Nguyễn Thị
Minh Ph yêu cầu hủy bỏ Hợp đồng mua bán nhà được lập ngày 06/12/2000 tại
Phòng Công chứng 2 số công chứng 109502 giữa bên bán nhà là ông Ngô
Công C, bà Phạm Thị H với bên mua nhà là Công ty TNHH N, đối với
331,2m
2
đất và nhà ở tại địa chỉ 117 (số cũ 119) đường L1, Phường 1, Quận
11, Thành phố Hồ Chí Minh. Xác định nhà đất tại 117 (số cũ 119) đường L1,
phường 11, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản của Công ty TNHH N.
2. Đình chỉ yêu cầu của ông Nguyễn Minh L và bà Nguyễn Thị Minh Ph
đòi chia thừa kế di sản thừa kế của bà Phạm Thị H là 1/2 trị giá nhà đất tổng
diện tích 1.662,8m
2
như bản vẽ hiện trạng được kiểm tra nội nghiệp ngày
19/6/2014 do 1/2 nhà đất này không phải là di sản của bà Phạm Thị H.
3. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP NT, buộc Công ty TNHH
N trả số tiền vốn vay 1.306.801.976đ (một tỷ ba trăm lẻ sáu triệu tám trăm lẻ
một ngàn chín trăm bảy mươi sáu đồng) và lãi vay 2.573.825.189đ (hai tỷ năm
trăm bảy mươi ba triệu tám trăm hai mươi lăm ngàn một trăm tám mươi chín
đồng) tính đến ngày 20/9/2016 cho Ngân hàng TMCP NT;
Công ty TNHH N phải trả tiếp số tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín
dụng giữa hai bên được tính trên số vốn vay chưa thanh toán xong kể từ ngày
21/9/2016 cho đến ngày Ngân hàng thu hồi đủ số vốn vay.
Ngân hàng TMCP NT được yêu cầu phát mãi toàn bộ nhà và đất tại 117
(số cũ 119) đường L1, Phường 1, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh với tổng
diện tích 1.662,8 m
2
theo bản vẽ hiện trạng được kiểm tra nội nghiệp ngày
19/6/2014 (không kể phần sửa chữa mà Bà O đã đầu tư, Bà O phải tháo dỡ
phần sửa chữa để trả lại nguyên trạng ban đầu cho Công ty TNHH N) để đảm
bảo việc thi hành án trả nợ cho Ngân hàng.
Công ty TNHH N hoàn trả lại cho Ngân hàng 25.300.000đ (hai mươi
lăm triệu ba trăm ngàn đồng) chi phí thẩm định giá theo Hóa đơn giá trị gia
tăng số 0000654 ngày 29/12/2014 của Công ty Cổ phần giám định N.
4. Không chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị O; buộc Bà O phải tháo dỡ
phần sửa chữa tại nhà đất tại 117 (số cũ 119) đường L1, Phường 1, Quận 11,
Thành phố Hồ Chí Minh để trả lại nguyên trạng ban đầu cho Công ty TNHH N
theo bản vẽ hiện trạng do Công ty xây dựng kinh doanh nhà Quận 11 lập và
được Phòng Quản lý đô thị Quận 11 thông qua ngày 29/6/1999.
14
5. Đình chỉ giải quyết, không xem xét trong vụ án này đối với yêu cầu
của ông Lâm Quốc V về việc tranh chấp thành viên Công ty TNHH N đối với
ông Ngô Công C.
Đình chỉ giải quyết đơn của ông Ngô Công C về yêu cầu tranh chấp hợp
đồng mua bán nhà với tư cách nguyên đơn đối với bị đơn là Công ty TNHH N
mà ông C là Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty này.
6. Án phí dân sự sơ thẩm:
Hoàn lại cho ông Ngô Công C toàn bộ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ
thẩm 4.500.000đ (bốn triệu năm trăm ngàn đồng) theo biên lai đã nộp số 5086
ngày 29/4/2003 của Đội thi hành án Quận 11.
Bà Nguyễn Thị Minh Ph phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 200.000đ (hai
trăm ngàn đồng), cấn trừ với số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là
41.200.000đ (bốn mươi một triệu hai trăm ngàn đồng) theo biên lai số 06382
ngày 07/01/2014 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, bà Ph
còn được nhận lại số tiền chênh lệch thừa 41.000.000đ (bốn mươi mốt triệu
đồng).
Ông Nguyễn Minh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 200.000đ (hai
trăm ngàn đồng), cấn trừ với số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là
7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm ngàn đồng) theo biên lai số 07994 ngày
22/12/2014 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, ông L còn
được nhận lại số tiền chênh lệch thừa 7.300.000đ (bảy triệu ba trăm ngàn
đồng).
Bà Trần Thị O được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ
thẩm đã nộp là 53.388.000đ (năm mươi ba triệu ba trăm tám mươi tám ngàn
đồng) theo biên lai thu số 04082 ngày 05/9/2012 của Cục Thi hành án dân sự
Thành phố Hồ Chí Minh.
Công ty TNHH N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 30.880.627đ (ba
mươi triệu tám trăm tám mươi ngàn sáu trăm hai mươi bảy đồng).
Hoàn lại toàn bộ số tiền án phí dân sự sơ thẩm cho Ngân hàng TMCP
NT là 14.198.000đ (mười bốn triệu một trăm chín mươi tám ngàn đồng) theo
biên lai thu số 1640 ngày 29/4/2003 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố
Hồ Chí Minh.
Hoàn lại toàn bộ số tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Lâm Quốc V,
200.000đ (hai trăm ngàn đồng) theo biên lai số 08592 ngày 21/5/2015 Cục Thi
hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9
Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại
Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
15
- Chi phí Ủy thác tư pháp tống đạt bản án sơ thẩm cho các đương sự ở
nước ngoài: Bà Nguyễn Thị Minh Ph, ông Ngô Công C, mỗi đương sự phải
nộp 200.000 đồng, Ngân hàng TMCP NT phải nộp 5.000.000 đồng, các đương
sự đã nộp đủ.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị Minh Ph phải chịu 200.000 đồng; nhưng được trừ vào số
tiền 200.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm do ông Pham Huy Khoát
đã nộp thay theo biên lai thu số 0031383 ngày 18/10/2016 của Cục Thi hành
án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; bà Ph đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Ông Ngô Công C phải chịu 200.000 đồng; nhưng được trừ vào số tiền
200.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm do ông Lại Huy T đã nộp thay
theo biên lai thu số 0031507 ngày 08/11/2016 của Cục Thi hành án dân sự
Thành phố Hồ Chí Minh; ông C đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Bà Trần Thị O phải chịu 200.000 đồng; nhưng được trừ vào số tiền
200.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm do ông Lại Huy T đã nộp thay
theo biên lai thu số 0031506 ngày 08/11/2016 của Cục Thi hành án dân sự
Thành phố Hồ Chí Minh; Bà O đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án là ngày 07
tháng 8 năm 2018./.
Các thẩm phán Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Huỳnh Thanh Duyên Trần Thị Thu Thủy Đỗ Đình Thanh
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng