Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 04/03/2024 của TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 30/2024/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 30/2024/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 04/03/2024 của TAND Q. Tân Bình, TP. Hồ Chí Minh |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND Q. Tân Bình (TAND TP. Hồ Chí Minh) |
| Số hiệu: | 30/2024/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 04/03/2024 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Bị cáo Y Ngọc Quang H và Đàng Duy M3 phạm tội “Cố ý gây thương tích” |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN BÌNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 30/2024/HS-ST
Ngày : 04/3/2024
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thiện
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Mai – Cán bộ hưu trí
Bà Phạm Thị Phước – Giáo viên hưu trí
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Ngọc Lữ – Thư ký Tòa án nhân dân
quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Lâm Như Quỳnh - Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 3 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 24/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02
năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Y Ngọc Quang H, sinh năm 2003 tại Ninh Thuận; Nơi đăng ký thường
trú: Thôn C, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học
vấn: 6/12; Dân tộc: Chăm; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Bà La M; Quốc tịch: Việt
Nam; Con ông: Y Ngọc M1 và bà Đàng Thị M2; Vợ, con: Không có; Tiền án:
Không; Tiền sự: Không. Tạm giữ, tạm giam: 21/12/2023.
2. Đàng Duy M3, sinh ngày 09/12/2006 tại Ninh Thuận; Nơi đăng ký
thường trú: Thôn C, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình
độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Chăm; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Bà La M; Quốc tịch:
Việt Nam; Con ông: Đàng Năng Q và bà Trượng Thị T; Tiền án: Không; Tiền sự:
Không. Tạm giữ, tạm giam: 18/12/2023.
(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đàng Duy M3: Ông Đàng Năng Q,
sinh năm 1986; Nơi cư trú: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận và bà Trượng
Thị T, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Thôn C, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nơi
cư trú: thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, là cha mẹ của bị cáo. (Bà T có
mặt, ông Q vắng mặt).
2
- Người bào chữa cho bị cáo Đàng Duy M3: Bà Nguyễn Thị Minh P, sinh
năm 1977 – Luật sư thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H.
(Có mặt).
- Bị hại: Anh Chu Viết T1, sinh năm 1991; Nơi cư trú: 6 T, Phường E,
quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Có đơn xin vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Đàng Năng Q, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Thôn H, xã P, huyện N,
tỉnh Ninh Thuận. (Vắng mặt).
2. Bà Trượng Thị T, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Thôn C, xã P, huyện N,
tỉnh Ninh Thuận.( Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 23/3/2023 tại quán B số B N, Phường A,
quận T, Y Ngọc Quang H và anh Chu Viết T1 xảy ra mâu thuẫn trong công việc,
cự cãi với nhau dẫn đến anh T1 đã dùng tay đấm 01 cái vào mặt H. Do bực tức vì
bị anh T1 đánh, H đã gọi điện cho Đàng Duy M3 đến đánh anh Chu Viết T1, M3
đồng ý. Sau đó, M3 lấy 01 con dao nhọn (Loại dao Thái lan, có kích thước 18cm)
ở chỗ làm của M3 tại quán bánh ướt số 47 B, Phường A, quận T để làm hung khí
đánh anh T1. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, M3 đón xe ôm từ chỗ làm
đến trước bãi xe của quán B số B N, Phường A, quận T để gặp H. Khi gặp, H đã
kể chi tiết sự việc bị anh T1 đánh cho M3 nghe và rủ M3 cùng vào quán đánh anh
T1 trả thù, M3 đồng ý. Lúc H nói chuyện với M3 thì có cả T2 là nhân viên cùng
làm với H ở quán bida đứng nghe, T2 nói: “Muốn đánh T1 thì chờ quán hết khách
rồi đánh” nhưng T2 không tham gia. Nói xong T2 đi vào quán, H và M3 cũng
không rủ T2 đánh anh T1. Khi T2 vừa vào trong quán, liền quay ra ngay và báo
cho H, M3 nội dung, T2 có nghe anh T1 gọi điện thoại kêu người đến đánh H.
Nghe vậy, H nói M3 đi về tránh xảy ra chuyện. Lúc đó, M3 có mượn Thức xe
máy hiệu Sirius màu trắng-đỏ, biển số 85D1-303.24 để đi về nhưng M3 mới chỉ
lấy chìa khóa xe, chưa đi về. Do M3 còn bực tức chuyện anh T1 đã đánh H, nên
M3 đi thẳng vào trong tiệm Bida đến đứng trước quầy thu ngân, lúc này H cũng
đi theo M3 vào trong quán ngồi phía sau quầy thu ngân. M3 đứng trước quầy thu
ngân mục đích chờ anh T1 ra sẽ đánh, H biết việc M3 chờ anh T1 ra đánh nhưng
H không thông báo cho anh T1 và những người trong quán biết, H cũng muốn M3
đánh anh T1.
Đến khoảng 22 giờ 20 phút cùng ngày, trong lúc M3 đang đứng tại quầy
thu ngân thấy anh T1 đi từ nhà vệ sinh ra. M3 đợi anh T1 vừa đi ngang, M3 liền
dùng tay trái rút con dao nhọn trong túi quần ra đâm liên tiếp 03 nhát hướng từ
trên xuống vào bả vai phải của anh T1. Đâm anh T1 xong, M3 cầm dao đi ra khỏi
3
quán, M3 lấy xe đã mượn trước đó của T2 bỏ đi. Do sợ bị T1 đánh lại nên H cũng
đi ra theo M3 ra đứng phía trước quán. H dùng điện thoại gọi cho M3, hỏi M3
đang ở đâu, để H đón xe ôm chạy qua, cùng bỏ trốn với M3. Sau khi liên lạc được
với M3, H đón xe ôm đến số D B, Phường A, quận T thì gặp M3. Khi gặp, H hỏi
M3: “Sao mày đánh ông T1 kiểu gì giống bê đê mà ông T1 bỏ chạy vậy?”. M3
liền trả lời: “Tao dùng dao đâm chứ không có dùng tay đánh”. H nghe xong thì
thấy hoảng sợ nên rủ M3 dùng xe đã mượn của T2 cùng nhau bỏ trốn. Sau đó, H
và M3 đến Công an quận T làm việc và được Cơ quan Công an tạm cho gia đình
bảo lãnh về nhà để chờ xử lý nhưng H và M3 đã bỏ trốn.
Ngày 18/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã bắt bị can
Đàng Duy M3 theo quyết định truy nã số 02 ngày 27/11/2023 của Cơ quan Cảnh
sát điều tra Công an quận T.
Ngày 22/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã bắt bị can
Y Ngọc Q1 Hòa theo quyết định truy nã số 01 ngày 27/11/2023 của Cơ quan Cảnh
sát điều tra Công an quận T.
Tại Cơ quan điều tra, Đàng Duy M3 và Y Ngọc Quang H đã khai nhận
toàn bộ hành vi gây ra thương tích cho anh Chu Viết T1 như nêu trên, M3 khai
vứt bỏ con dao đã dùng để đâm anh T1 tại trước nhà số B N, Phường A, quận T,
hiện chưa thu hồi được.
Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số
398/KLTTCT-TPY.2023 ngày 14/6/2023 của Trung tâm giám định Pháp y - Sở
Y tế Thành phố H đối với Chu Viết T1:
“1. Các kết quả chính:
- Hai vết thương phần mềm vùng lưng trái đã được điều trị, hiện còn: Một
sẹo phía trong bả vai trái kích thước 1,5x0,1cm có tỉ lệ 01% (một phần trăm); Một
sẹo phía dưới bả vai trái kích thước 0,6x0,1cm có tỉ lệ 01% (một phần trăm). Hai
vết thương trên do vật sắc, vật sắc nhọn, vật có cạnh sắc tác động gây ra, không
nguy hiểm tới tính mạng của đương sự.
- Vết thương phía trong bả vai phải gây đứt thủng da, thủng thùy trên phổi
phải, tràn khí màng phổi đã được điều trị dẫn lưu màng phổi, hiện còn: Một sẹo
phía trong bả vai phải kích 1x0,1 cm; Một sẹo dẫn lưu kích thước 1,7cmx0,3cm
có tỉ lệ 08% (tám phần trăm). Thương tích trên do vật sắc, sắc nhọn tác động gây
ra, gây nguy hiểm tới tính mạng của đương sự.
2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ
Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y,
giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Chu
Viết T1 tại thời điểm giám định là: 10% (mười phần trăm)”.
Vật chứng thu giữ:
- Một áo thun ngắn tay màu đen, viền đỏ có chữ “bánh ướt Ban Mê Giang
V” thu giữ của Đàng Duy M3.
4
- 01 đĩa DVD lưu hình ảnh camera tại quán bida số B N, Phường A, quận
T ngày 23/3/2023 (lưu cùng hồ sơ).
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Chu Viết T1 có yêu cầu Y
Ngọc Quang H và Đàng Duy M3 bồi thường chi phí điều trị thương tích với số
tiền 60.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 38/CT-VKS-TB ngày 05 tháng 02 năm 2024, Viện
kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Y Ngọc Quang H và Đàng Duy
M3 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự
năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu
tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất
mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nêu các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và
đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Y Ngọc Quang H từ 09 tháng đến 12 tháng
tù, xử phạt bị cáo Đàng Duy M3 từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự thì đề nghị xử lý theo quy định pháp
luật.
- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo
trạng đã nêu, không có tranh luận gì và đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền
60.000.000 đồng sau khi chấp hành xong hình phạt tù, chỉ đề nghị Hội đồng xét
xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
- Luật sư bào chữa cho bị cáo M3 trình bày: Thống nhất về tội danh và
khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát truy tố. Luật sư đề nghị Hội đồng xét
xử xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo M3: Bị cáo thành khẩn khai
báo ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và dưới 18 tuổi, là người dân tộc thiểu số,
học vấn thấp, gia đình hoàn cảnh khó khăn, cha mẹ bị cáo ly hôn khi bị cáo mới
02 tuổi nên đề nghị tuyên bị cáo M3 hình phạt 01 năm cải tạo không giam giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Y Ngọc Quang H và Đàng
Duy M3, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án
đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận
thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ
án; bị cáo, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ
quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố
tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù
hợp với quy định của pháp luật.
5
[2] Xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với bản kết luận điều
tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của bị
hại, người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ
sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận chỉ vì mâu thuẫn cá nhân với
bị hại anh Chu Viết T1 mà bị cáo Y Ngọc Quang H đã gọi điện thoại nhờ bị cáo
Đàng Duy M3 đến đánh anh T1, bị cáo M3 đã đồng ý và dùng con dao là hung
khí nguy hiểm đâm vào bả vai phải và vùng lưng phải của anh T1, hậu quả anh
T1 phải đi bệnh viện cấp cứu, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là
10%, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”,
thuộc trường hợp “Dùng hung khí nguy hiểm”, tội danh và hình phạt được quy
định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm
2017.
Xét hành vi cố ý gây tổn hại sức khỏe người khác của các bị cáo là rất
nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội. Nó không chỉ xâm phạm quyền được
bảo hộ về tính mạng, sức khỏe của người khác mà còn gây mất an ninh trật tự tại
địa phương. Các bị cáo đủ khả năng nhận thức được hành vi cố ý gây tổn hại sức
khỏe người khác 10% là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì nóng giận, thiếu kiểm
soát mà các bị cáo đã dùng hung khí tấn công gây thương tích cho bị hại, chứng
tỏ các bị cáo có thái độ coi thường pháp luật. Trong vụ án này bị cáo M3 là người
trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội; Bị cáo H là người rủ rê, xúi giục bị cáo M3
là người dưới 18 tuổi phạm tội, thuộc trường hợp “Xúi giục người dưới 18 tuổi
phạm tội”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm o
khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy,
Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhằm mục đích cải tạo,
giáo dục các bị cáo, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết: Các bị
cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và dưới 18 tuổi, để giảm
nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo H theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51
Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Bị cáo M3 theo quy định
tại điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 90, 91 và 101 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa
đổi bổ sung năm 2017.
Về phần bào chữa của luật sư: Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở nên chấp
nhận một phần.
[4] Về trách nhiệm dân sự. Bị hại anh Chu Viết T1 yêu cầu các bị cáo bồi
thường số tiền điều trị vết thương do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là
60.000.000 đồng và các bị cáo đồng ý đồng thời người đại diện hợp pháp của bị
cáo M3 thống nhất bồi thường cho bị hại số tiền 60.000.000 đồng. Hội đồng xét
xử ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo, buộc các bị cáo có trách nhiệm liên đới
bồi thường cho anh T1 số tiền 60.000.000 đồng, cụ thể mỗi bị cáo phải bồi thường
cho anh T1 số tiền 30.000.000 đồng.
[5] Về vật chứng vụ án:
6
- Một áo thun ngắn tay màu đen, viền đỏ có chữ “bánh ướt Ban Mê Giang
V” thu giữ của bị cáo M3, xét thấy đây là vật không có giá trị nên tịch thu và tiêu
hủy.
- 01 đĩa DVD lưu hình ảnh camera tại quán bida số B N, Phường A, quận
T ngày 23/3/2023 (Lưu cùng hồ sơ) là chứng cứ của vụ án và có thể lưu vào hồ
sơ vụ án nên cần lưu vào hồ sơ vụ án.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm o khoản 1 Điều 52; điểm i, s khoản
1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối
với bị cáo Y Ngọc Quang H;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 90,
Điều 91 và Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối
với bị cáo Đàng Duy M3;
Căn cứ khoản 3 Điều 586 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 106; Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng
hình sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
[1] Tuyên bố các bị cáo Y Ngọc Quang H và Đàng Duy M3 phạm tội “Cố
ý gây thương tích”.
- Xử phạt: Y Ngọc Quang H 12 (Mười hai) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.
- Xử phạt: Đ (Chín) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2023.
[3] Buộc bị cáo Y Ngọc Quang H bồi thường cho anh Chu Viết T1 số tiền
30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.
Buộc bị cáo Đàng Duy M3 bồi thường cho anh Chu Viết T1 số tiền
30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng. Trường hợp bị cáo M3 không có tài sản hoặc
không có đủ tài sản để bồi thường đủ số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng cho
anh T1 thì cha mẹ của bị cáo là ông Đàng Năng Q và bà Trượng Thị T phải tiếp
tục bồi thường cho anh T1 cho đến khi đủ số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu)
đồng.
Kể từ ngày anh Chu Viết T1 có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi
hành xong các khoản như đã nêu trên, các bị cáo, ông Đàng Năng Q và bà Trượng
7
Thị T còn phải chịu khoản tiền lãi chậm thi hành án tương ứng với thời gian chưa
thi hành án theo quy định tại Điều 357 và 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[4] Lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD lưu hình ảnh camera tại quán bida số B
N, Phường A, quận T ngày 23/3/2023.
Tịch thu và tiêu hủy 01 áo thun ngắn tay màu đen, viền đỏ có chữ “bánh
ướt Ban Mê Giang V”.
(Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 44/PNK ngày
26/02/2024 của Công an quận T).
[5] Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ
thẩm và 1.500.000 (Một triệu năm trăm nghìn) đồng án phí Dân sự sơ thẩm.
[6] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, các bị cáo, người đại
diện hợp pháp của bị cáo M3 có mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và
luật sư có mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo M3 vắng mặt, người có quyền lợi nghĩa
vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản sao án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sư có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định
tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Hội đồng xét xử đã giải thích về quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi
hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án cho đương sự theo quy định tại Điều 26
Luật Thi hành án.
Nơi nhận:
- Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo;
- Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
- Công an quận Tân Bình;
- VKSND quận Tân Bình;
- Chi cục THADS quận Tân Bình;
- TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
- Phòng HSNVCS CA Tp. HCM;
- Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(ĐÃ KÝ)
Nguyễn Quang Thiện
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm