Bản án số 30/2020/HNGĐ-ST ngày 16/06/2020 của TAND huyện Kiến Thụy, TP. Hải Phòng về tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 30/2020/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 30/2020/HNGĐ-ST ngày 16/06/2020 của TAND huyện Kiến Thụy, TP. Hải Phòng về tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Kiến Thụy (TAND TP. Hải Phòng)
Số hiệu: 30/2020/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/06/2020
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Sĩ L1 là cha đẻ của cháu dự định đặt tên là Nguyễn Thị Bảo A sinh ngày 17 tháng 5 năm 2015 (theo Giấy chứng sinh số 63 quyển số 09 ngày 17 tháng 5 năm 2015 của Bệnh viện K)
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN K
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 30/2020/HNGĐ-ST
Ngày 16- 6-2020
V/v tranh chấp về xác định cha cho con
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Khúc Trọng Quang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Đình Ngát
Bà Vũ Thị Quỳ
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quý LinhThưToà án nhân dân huyện
K, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm t nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng tham
gia phiên toà: Ông Đào Quang Hợp - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở a án nhân dân huyện K, thành phố
Hải Phòng xét xử thẩm công khai vụ án thụ số 86/2020/TLST-HNGĐ ngày
03 tháng 02 năm 2020 về việc c định cha cho contheo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số 86/2020/QĐST- HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2020, Quyết định hoãn
phiên tòa số 20/2020/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1982; đăng hộ khẩu thường
trú: Thôn 1,K1, huyện K, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Thôn 7, xã K1,
huyện K, thành phố Hải Phòng,mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Sĩ L1, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn 7, xã K1,
huyện K, thành phố Hải Phòng, có mặt.
- Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Đào Xuân B, sinh năm 1979;
nơi cư trú: Thôn 1, K1, huyện K, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 01 m 2020 các lời khai tại Tòa án
nhân dân huyện K, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:
Chị Nguyễn Thị L và anh Đào Xuân B kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện
đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân K1 vào năm 2003. Trong quá trình
chung sống được khoảng 7 - 8 năm thì phát sinhu thuẫn, chị L đã bỏ về nhà mẹ
đẻ sau đó đến năm 2014 thì quen biết, quan hệ tình cảm với anh Nguyễn
Sĩ L1 và có 01 con chung dự định đặt tên Nguyễn Thị Bảo A, sinh ngày 17
tháng 5 năm 2015. Đến ngày 29 tháng 8 năm 2019 thì chL và anh B ly hôn theo
Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn sự thỏa thuận của các đương sự số
166/2019/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện K. Ngày 09 tháng 9 năm
2019 chị L và anh L1 đã làm thủ tục đăng kết hôn tại Ủy ban nhân dân K1.
Theo nội dung Giy chứng sinh số 63 quyển số 09 ngày 17 tháng 5 năm 2015 của
Bệnh viện K2 thể hiện chị L đã sinh 01 con gái vào ngày 17/5/2015. Phiếu kết qu
phân tích AND số KQ 180399 ngày 31 tháng 8 năm 2018 của Công ty cổ phần
dịch vụ phân tích di truyền (GENTIS) kết luận anh Nguyễn Sĩ L1 cháu Nguyễn
Thị Bảo A huyết thống cha con. Do vậy chị khởi kiện yêu cầu Tòa án xác định
anh Nguyễn Sĩ L1 là cha đẻ của cháu Nguyễn Thị Bảo A.
Anh Nguyễn L1 khai: Anh chị L quen biết quan hệ tình cảm với
nhau từ năm 2014, khi đó chị L chưa ly hôn với anh B nhưng cả hai đã sống ly
thân khoảng 04 năm. Anh L1 chị L chung sống với nhau đến năm 2015 thì chị
L anh 01 con chung cháu Nguyễn Thị Bảo A sinh ngày 17 tháng 5 năm
2015. Do chị L và anh B chưa ly hôn nên anh và chị L chưa đăng ký kết hôn được.
Sau đó chị L và anh B làm thủ tục ly hôn thì đến ngày 09 tháng 9 năm 2019 anh và
chị L đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K1, huyện K, thành phố Hải Phòng.
Nay chị L đơn khởi kiện đề nghị a án c định anh cha đẻ của cháu
Nguyễn Thị Bảo A, anh đồng ý.
Anh Đào Xuân B đã được Tòa án thông báo về việc thụ vụ án triệu tập
hợp lệ nhiều lần nhưng Tòa án mở phiên tòa xét xử lần hai anh B vẫn không
mặt để ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị L nhưng anh B cũng đã bản cam
kết ngày 21 tháng 8 năm 2019 thể hiện việc chị L quan hệ tình cảm với anh
Nguyễn Sĩ L1 trong thời kỳ anh B chị L sống ly thân. Cháo Nguyễn Thị Bảo A
sinh ra trong thời kỳ hôn nhân của anh B chị L nhưng không phải con chung
của anh B chị L.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố
tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư phiên tòa của nguyên đơn, bị
đơn trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật;
người quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quy định của pháp
luật.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện chị
L và anh L1 quan hệ tình cảm với nhau từ năm 2014 và có 01 con chung là
cháu Nguyễn Thị Bảo A sinh ngày 17/5/2015. Theo giấy chứng sinh của Bệnh
viện K2 kết quả c định AND thì anh Nguyễn Sĩ L1 cha đẻ của cháu
Nguyễn Thị Bảo A. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng dụng khoản 4 Điu
28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 227;
2
2
khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88; Điều 89; Điều 101; Điều 102
Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, xác định anh Nguyễn L1 cha đẻ của cháu Nguyễn Thị Bảo A.
Nguyên đơn được miễn án phí theo quy định, bị đơn phải chịu án phí theo quy
định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng
:
:
Người quyền lợi nghĩa vụ L1 quan anh Đào
Xuân B đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để anh B mặt tại
Toà án trình bày ý kiến của mình về việc chNguyễn Thị L đơn khởi kiện xác
nhận anh Nguyễn L1 cha đẻ của cháu Nguyễn Thị Bảo A nhưng anh B vắng
mặt tại phiên tòa hai lần không do. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều
228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với
người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đào Xuân B.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L anh Đào
Xuân B kết hôn với nhau trên sở tự nguyện đăng kết hôn tại Ủy ban
nhân dân xã K1 vào năm 2003. Trong quá trình chung sống được khoảng 7 - 8
năm thì phát sinh mâu thuẫn, chị L đã bỏ về nhà mđẻ sau đó đến năm 2014
thì chị L quen biết, có quan hệ tình cảm với anh Nguyễn Sĩ L1 và có 01 con chung
cháu Nguyễn Thị Bảo A sinh ngày 17 tháng 5 năm 2015. Do thời điểm này chị
Nguyễn Thị L và anh Đào Xuân B chưa ly hôn nên cháu Bảo A được sinh ra trong
thời kỳ hôn nhân của chị L và anh B. Đến ngày 29 tháng 8 năm 2019 thì chị L
anh B ly hôn theo Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của
các đương sự số 166/2019/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện K. Theo nội
dung Giấy chứng sinh số 63 quyển số 09 ngày 17 tháng 5 năm 2015 của Bệnh viện
K1 thể hiện chị L đã sinh 01 con gái vào ngày 17/5/2015. Phiếu kết quả phân tích
AND số KQ 180399 ngày 31 tháng 8 năm 2018 của Công ty cổ phần dịch vụ phân
tích di truyền (GENTIS) kết luận anh Nguyễn L1 cháu Nguyễn Thị Bảo A
huyết thống cha con. Trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa, ch
Nguyễn Thị L, anh Nguyễn L1 anh Đào Xuân B đều thừa nhận đề nghị
Tòa án xác định anh Nguyễn Sĩ L1 cha đẻ của cháu Nguyễn Thị Bảo A. Do vậy
có đủ căn cứ để xác định anh Nguyễn L1 là cha đẻ của cháu Nguyễn Thị Bảo A,
phù hợp quy định tại Điều 88, 89, 101, 102 Luật Hôn nhân gia đình.
[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của chị L xác định cha cho con chưa
thành niên do vậy chị L được miễn án phí, anh Nguyễn L1 phải chịu án phí theo
quy định.
Vì các lẽ trên,
3
3
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều
147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật T tụng n sự; Điều 88,
89,101, 102 Luật Hôn nhân Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn,
giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Anh Nguyễn L1 là cha đcủa cháu dự định đặt tên Nguyễn ThBảo A
sinh ngày 17 tháng 5 năm 2015 (theo Giấy chứng sinh số 63 quyển số 09 ngày 17
tháng 5 năm 2015 của Bệnh viện K).
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L được miễn án phí dân sự sơ thẩm, trả lại cho
chị Nguyễn Thị L 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị L đã
nộp theo biên lai số 0008844 ngày 03/02/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự
huyện K, thành phố Hải Phòng. Anh Nguyễn Sĩ L1 phải chịu 300.000 đồng tiền án
phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự mặt tại phiên tòa được quyền kháng
cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người quyền lợi nghĩa vụ L1 quan
vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ về phần bản án hoặc quyết
định L1 quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ.
Nơi nhận:
- TAND, VKSND thành phố Hải Phòng;
- VKSND huyện K;
- Chi cục THADS huyện K;
- UBND xã K1; huyện K;
- Đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Khúc Trọng Quang
4
4
5
5
Tải về
Bản án số 30/2020/HNGĐ-ST Bản án số 30/2020/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất