Bản án số 295/2024/DS-PT ngày 03/07/2024 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 295/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 295/2024/DS-PT ngày 03/07/2024 của TAND tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Tây Ninh
Số hiệu: 295/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 03/07/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Mai Thị Thúy L - Nguyễn Thị Cẩm N Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 295/2024/DS-PT
Ngày 03-7-2024
V/v Tranh chấp về hợp đồng
vay tài sản
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGA VIỆT NAM
Độc lập - T do - Hạnh pc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Mai.
Các Thẩm phán: Ông Trần Quốc Vũ;
Ông Hồ Văn Cường.
- Thư phiên tòa: Quỳnh Anh, Thư Tòa án nhân dân tỉnh Tây
Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:
Đặng Thị Châu, Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại trụ sa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ số 116/TLPT-DS ngày 16 tháng 4 năm 2024 về
việc “Tranh chấp hợp đồng vay i sản”.
Do Bản án dân sự thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 28 tháng 2 năm 2024 của
Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 224/2024/QĐ-PT ngày 24
tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Mai Thị Thúy L, sinh năm 1990; trú tại: Khu Y,
phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của của nguyên đơn: Anh Nguyễn Hoàng Minh T,
sinh năm 1989; cư trú tại: số G, đường L, khu phố D, phường L, thị H, tỉnh Tây
Ninh là đại diện theo ủy quyền (Hợp đồng ủy quyền ngày 21-3-2023 ); có mặt.
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm 1986; Địa chỉ: Số A đường N,
khu phố C, Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; nơi trú hiện nay: Số A khu
phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
2
3. Người quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Ngọc O, sinh năm:
1978 chị Thị N1, sinh năm: 1976; Địa chỉ: Ấp L, L, thành phố T, tỉnh
Tây Ninh; vắng mặt.
4. Người kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Mai
Thúy L và người đại diện theo ủy quyền của chL trình bày:
Thông qua mối quan hlàm ăn, chị Mai Thị Thúy L cho chị Nguyễn Thị
Cẩm N vay số tiền 02 lần tổng cộng là 6.500.000.000 đồng, cụ thể:
- Lần 1: Ngày 29-3-2022 chị N vay 3.500.000.000 đồng, lãi suất 2%, thỏa
thuận vay 03 tháng, chN thế chấp cho chị L 01 giấy chứng nhận QSDĐ diện
tích 1442,5 m
2
, thửa 452, tờ bản đồ số 48 do anh Phạm Công T1 ĐThị E
đứng tên.
- Lần 2: Ngày 02-6-2022 chị N vay 3.000.000.000 đồng, nhận tiền 02 lần, lần
1 ngày 02-6-2022 2.000.000.000 đồng, ngày 04-6-2022 chị N nhận
1.000.000.000 đồng, lãi suất 2%, thỏa thuận vay 03 tháng, chị N thế chấp cho
chị L 01 giấy chứng nhận QSDĐ diện tích 2.280,2 m
2
, thửa 432, tờ bản đồ số 48 và
hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ đối với thửa đất số 269, tờ bản đồ số 01, diện
tích 597 m
2
do chị N đứng tên.
Chị N trả cho chị L được 03 tháng tiền lãi của khoản vay 3.500.000.000
đồng 210.000.000 đồng. Sau đó, chị N ợn lại 02 giấy chứng nhận QSDĐ đã
giao cho chị L để vay Ngân hàng lấy tiền trả cho chị L, chị L đồng ý, nhưng sau
khi mượn giấy đất lại, chị N không trả tiền cho chị L.
Do đó, chị L yêu cầu chị N trả số tiền 6.500.000.000 đồng và tiền lãi suất theo
quy định của pháp luật tạm tính đến ngày khởi kiện 971.000.000 đồng tính
lãi tiếp theo cho đến khi giải quyết xong vụ kiện.
Tại a anh Nguyễn Hoàng Minh T đại diện theo ủy quyền của chị L xác
định lãi suất hai bên thỏa thuận là 5% không phải 2% đã nhận 01 tháng lãi của
khoản vay 3.000.000.000 đồng là 175.000.000 đồng, 01 tháng tiền lãi của khoản
vay 3.000.000.000 đồng 150.000.000 đồng nên giữ nguyên yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
Đối với yêu cầu đòi lại thửa đất số 293, tờ bản đồ số 01, diện tích 997 m
2
chị
L đồng ý trả khi chị N trả xong nợ.
Bị đơn chị Nguyễn Thị Cẩm N trình bày:
Đối với khoản vay ngày 29-3-2022 : Chị thừa nhận ngày 29-3-2022 chị
giấy mượn tiền chị L 3.500.000.000 đồng. Tuy nhiên, số tiền này chị L không đưa
01 lần bằng tiền mặt mà chuyển khoản cho chị nhiều lần, cụ thể:
- Ngày 13-02-2022 chị L chuyển cho chị 500.000.000 đồng n ngày 14-02-
2022 hai bên làm giấy vay tiền 500.000.000 đồng, ghi thời hạn 03 tháng trả
3
chị giao cho chị L giấy chứng nhận QSDĐ thửa 432, tờ bản đồ số 48, diện tích
2.280,3 m
2
, địa chỉ thửa đất tại ấp R, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.
- Ngày 16-02-2022 chị L chuyển 1.000.000.000 đồng
- Ngày 11-3-2022 chị L chuyển 1.000.000.000 đồng
- Ngày 29-3-2022 chị L chuyển 1.000.000.000 đồng.
Sau khi chuyển khoản xong, ngày 29-3-2022 hai bên mới làm giấy vay tiền,
thỏa thuận thời hạn vay là 03 tháng ( từ ngày 29-3-2022 đến ngày 29-6-2022). Tuy
nhiên “giấy vay tiền” của chị L ghi chị giao giấy chứng nhận QSDĐ thửa 432, tờ
bản đồ số 48, diện ch 2.280,3 m
2
, địa chỉ thửa đất tại ấp R, T, huyện G, tỉnh
Tây Ninh đồng thời chuyển nhượng QSDĐ thửa 269, tờ bản đsố 01, diện tích
597 m2, địa chỉ thửa đất tại ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh là không đúng; còn
“giấy mượn tiền” của chị ghi khoản vay thứ nhất 1.500.000.000 đồng chị giao giấy
chứng nhận QSDĐ thửa 432, tờ bản đồ số 48, diện tích 2.280,3 m
2
, địa chỉ thửa
đất tại ấp R, T, huyện G, tỉnh Tây Ninh khoản vay thứ hai 2.000.000.000
đồng chị giao thửa đất 293, tờ bản đồ số 01, địa chỉ thửa đất tại ấp C, L, huyện
B, tỉnh Tây Ninh. Thửa đất này chị nhờ chị L đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ
hiện chị L đang giữ giấy. Chị xác định phần tên bên cho vay và bên vay của
“giấy mượn tiền” của chị cung cấp và “giấy vay tiềndo chị L cung cấp của chị
và chị L ký viết.
Khoản vay này chị đã trả cho chị L được 1.500.000.000 đồng, việc trả không
có làm biên nhận hay giấy tờ gì và cũng không ai biết. Hiện khoản vay này chị còn
nợ chị L 2.000.000.000 đồng.
Đối với khoản vay 3.000.000.000 đồng ngày 02-6-2023, số tiền này chị L
cũng không đưa 01 lần bằng tiền mặt mà chuyển khoản cho chị nhiều lần, cụ thể
như sau:
- Ngày 27-4-2022 chị L chuyển cho chị 425.000.000 đồng nhưng nội dung đ
chuyển mượn tiền 600.000.000 đồng, thực tế chị L đã trừ 01 tháng tiền lãi của
khoản vay 3.500.000.000 đồng là 175.000.000 đồng.
- Ngày 04-5-2022 chị L chuyển cho chị 150.000.000 đồng
- Ngày 02-6-2022 chị L chuyển cho chị 1.050.000.000 đồng nhưng chị L ghi
nội dung chuyển mượn 2.000.000.000 đồng, thực tế ch cộng số tiền chị L chuyển
1.800.000.000 đồng, chhỏi thì chị L nói trừ tiền lãi tháng 05-2022 của khoản
vay 3.500.000.000 đồng 175.000.000 đồng. Do tiền vaychuyển nhiều ngày khác
nhau nên chị L cộng tiền thừa của nhiều ngày và tính thành 200.000.000 đồng.
- Ngày 04-6-2022 chị L chuyển cho chị 1.000.000.000 đồng
Sau khi chuyển xong ngày 04-6-2022 hai bên mới làm giấy vay tiền, thỏa
thuận thời hạn vay là 03 tháng ( tngày 02-6-2022 đến ngày 02-9-2022). Tuy
nhiên, giấy vay tiền của chị L ghi chị giao giấy chứng nhận QSDĐ thửa 452, tờ
bản đồ số 48, diện tích 2.280,3m
2
, địa chỉ thửa đất tại ấp R, T, huyện G, tỉnh
Tây Ninh do anh Phạm Minh T2 chị Đỗ Thị E đứng tên không đúng.
4
Nhưng chị xác định phần tên bên cho vay bên vay của giấy vay tiền của chị
L cung cấp là của chị và chị L ký viết.
Ngoài ra, chị L và chị ra Văn Phòng công chứng Dương Kim H m văn
bản ủy quyền cho chị L toàn quyền quyết định đối với hai thửa đất số 296 260
tại ấp C, xã L do chị đứng tên để bảo đảm cho khoản vay 3.000.000.000 đồng.
Khoản vay này chị trực tiếp trả tiền mặt cho chị L 2.500.000.000 đồng vào
ngày 06-01-2023, chị L có viết biên nhận, hiện còn thiếu chị L 500.000.000 đồng.
Về lãi suất cũng như việc trả lãi: Lãi suất hai bên thỏa thuận 6%, không
phải 2% như chL khai.
- Đối với khoản vay 3.500.000.000 đồng:
+ Ngày 27- 4-2022 chị trả 175.000.000 đồng chị L trừ trong số tiền vay
600.000.000 đồng chị L chuyển cho chị 425.000.000 đồng.
+ Ngày 02-6-2022 chị L trừ 200.000.000 đồng tiền lãi trong số tiền chị L
chuyển cho mượn 1.800.000.000 đồng nhưng chị L ghi nội dung tổng cộng
2.000.000.000 đồng
+ Ngày 28-6-2022 chị chuyển trả lãi cho chị L 175.000.000 đồng
- Đối với khoản vay 3.000.000.000 đồng:
+ Ngày 04-7-2022 chị chuyển trả cho chị L 150.000.000 đồng tiền lãi
Trong tháng 7 năm 2022 chbán cho chị L 01 phần đất 5m x 20 m ở phường
I, thành phố T với g1.800.000.000 đồng. Tuy chị L chưa giao đtiền nhưng ch
vẫn làm thủ tục sang tên cho chị L xong, tiền mua bán đất hiện nay chị L đã thanh
toán xong, cụ thể tiền này chị L trả như sau:
Chị L đặt cọc trước 540.000.000 đồng, đến ngày 15-7-2022 chuyển
150.000.000 đồng, tổng cộng hai đợt là 690.000.000 đồng; ngày 20-7-2022 chị L
chuyển 310.000.000 đồng.
Ngày 28-7-2022 chị L chuyển trả cho chị số tiền 225.000.000 đồng (thay
chuyển 400.000.000 đồng), chị L trừ tiền lãi của khoản vay 3.500.000.000 đồng
175.000.000 đồng ghi nội dung chuyển tiền mua đất đợt 4 1.400.000.000
đồng.
Ngày 04-8-2022 chị L chuyển 250.000.000 đồng (thay chuyển 400.
000.000 đồng), chị L trừ tiền lãi của khoản vay 3.000.000.000 đồng là 150.000.000
đồng ghi nội dung chuyển tiền mua đất thửa đất phường IV 1.800.000.000
đồng.
Như vậy tiền lãi của khoản vay 3.500.000.000 đồng, chị trả lãi cho chị L
725.000.000 đồng; tiền lãi của khoản vay 3.000.000.000 đồng chtrả lãi cho chị L
300.000.000 đồng.
Ngày 29-11-2022 chị thương lượng với chị L và viết một tờ cam kết trong
vòng 02 tháng từ ngày 01-12-2022 đến hết ngày 30-01-2023 strả cho chị L từ
2.000.000.000 đồng cho đến 3.000.000.000 đồng với điều kiện hai bên phải ra
5
phòng công chứng hủy bỏ hợp đồng ủy quyền mà chị và chị L đã ký cho chị L toàn
quyền quyết định đối với 02 thửa đất 296 260 cho chị, chị L đồng ý nên ngày
30-11-2022, chị chị L đến phòng công chứng Dương Kim H hủy bỏ hợp đồng
ủy quyền và chị L đã trả lại 02 giấy chứng nhận QSDĐ đối với 02 thửa đất trên cho
chị.
Ngoài ra, ngày 05-12-2022 chị chuyển trả cho chị L 22.000.000 đồng, ngày
12-12-2022 chuyển trả cho chị L 130.000.000 đồng ttài khoản của chị mtại
Ngân hàng Q qua tài khoản của chị L mở tại Ngân hàng S ngày 21-01-2023
chuyển trả cho chị L 5.000.000 đồng nhưng cả ba lần chuyển này không ghi nội
dung là chuyển trả nợ gốc hay lãi.
Hiện tại, chị xác định: Khoản vay 3.500.000.000 đồng chị đã trả cho chị L
được 1.500.000.000 đồng, còn nợ lại 2.000.000.000 đồng; Khoản vay
3.000.000.000 đồng chị đã trả cho chị L được 2.500.000.000 đồng, còn n lại
500.000.000 đồng. Tổng cộng 02 khoản vay còn nợ 2.500.000.000 đồng. Do chị
nợ tiền lãi chị L của 02 khoản vay từ tháng 09 -2022 đến tháng 01 -2023 mỗi tháng
300.000.000 đồng, 05 tháng 1.500.000.000 đồng. Chị xác định tiền vay còn
nợ gốc 2.500.000.000 đồng lãi 1.500.000.000 đồng, tổng cộng nợ gốc lãi
4.000.000.000 đồng chỉ đồng ý trả chị L số tiền nợ gốc 2.500.000.000 đồng.
Không đồng ý trả 6.500.000.000 đồng và lãi suất theo yêu cầu của chị L.
Ngày 06-12-2023, chị N đơn phản tố cho rằng, để bảo đảm cho khoản vay
3.500.000.000 đồng của ngày 29-3-2022, chị L và chị N điều thừa nhận cả hai thỏa
thuận để chị L đứng tên hộ thửa đất số 293, tờ bản đồ số 01, diện tích 997 m
2
nhưng trong Giấy vay tiền có ghi nhầm là thửa 269, diện tích 597 m
2
. Phần đất này
chị N mua của anh Nguyễn Ngọc O, chị Thị N1 nhờ chị L đứng hợp đồng
chuyển nhượng và đứng tên hộ. Ngày 09-5-2022 chị L được Sở T3 cấp Giấy chứng
nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DĐ 476921, s
vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 06171. Do đó, chị yêu cầu chị L trả lại chị thửa đất
nêu trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Ngọc O chị Võ Thị N1
vắng mặt nhưng có ý kiến trình bày như sau: Năm 2021 vợ chồng anh
chị có bán cho chị Nguyễn Thị Cẩm N diện tích đất hơn 7.000 m 2, tọa lạc tại
ấp C, L, huyện B, tỉnh Tây Ninh với giá 4.550.000.000 đồng. Hai bên làm
hợp đồng đặt cọc, khi hợp đồng chị N đưa trước cho anh chị 500.000.000
đồng, số tiền 4.050.000.000 đồng hai bên thỏa thuận sẽ giao đủ khi ra phòng công
chứng làm thủ tục sang tên.
Anh chị không giao dịch mua bán đất với chL, cũng không nhận tiền
từ chị L và đã nhận đủ của chị N 4.550.000.000 đồng.
Sau khi hợp đồng đặt cọc, khoảng mấy tháng sau chị N mới kêu vợ chồng
anh ra phòng Công chứng Trần Tất D làm thủ tục sang tên, anh chị không nhớ
ngày tháng cụ thể nhưng toàn bộ hợp đồng là do chị N nhờ phòng công chứng soạn
sẵn, vợ chồng anh chị chỉ ra ký tên xong rồi về.
6
Vợ chồng anh chị chỉ biết mua bán đất và nhận tiền từ chị N, còn do sao
chị N để chị L đứng tên hợp đồng chuyển nhượng thì anh chị không biết, giữa hai
bên có thỏa thuận giao dịch hay làm ăn gì với nhau không anh chị cũng không biết.
Hiện đất vợ chồng đã bán, tranh chấp giữa hai bên do Tòa án căn cứ theo quy
định của pháp luật để giải quyết, anh chị không tranh chấp hay yêu cầu gì. Do
không có thời gian nên anh chị xin vắng mặt, không tham gia.
* Tại bản án số 17/2024/DS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân
dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị Thúy L.
Buộc chị Nguyễn Thị Cẩm N nghĩa vụ trả cho chị Mai Thị Thúy L số tiền
nợ gốc 3.703.066.600 đồng tiền lãi 1.564.608.000 đồng. Tổng cộng nợ gốc
lãi buộc chị N trả cho chị L 5.267.674.600 (năm tỷ hai trăm sáu mươi bảy triệu
sáu trăm bảy mươi bốn nghìn sáu trăm) đồng.
2. Chấp nhận yêu cầu đòi lại tài sản QSDĐ của chị Nguyễn Thị Cẩm N đối
với chị Mai Thị Thúy L.
Buộc chị Mai Thị Thúy L trả cho chị Nguyễn Thị Cẩm N thửa đất số 293, tờ
bản đồ số 01, diện tích 997 m
2
tọa lạc tại: Ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Tài
sản này dùng để đảm bảo trả nợ cho chị L.
Bản án còn tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án, án phí, quyền nghĩa vụ
điều chỉnh GCNQSDĐ và quyền kháng cáo.
Ngày 12-3-2024, chị N kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét trong
khoản tiền vay 3.500.000.000 đồng ngày 29-3-2022, chị đã trả cho chị L
1.500.000.000 đồng vào tháng 8 năm 2022, yêu cầu tính lại khoản tiền lãi quá hạn,
chị L đồng ý gia hạn hợp đồng vay nên vẫn lấy lãi trong hạn nhưng cấp thẩm
tính lãi quá hạn là không đúng.
Ngày 14-3-2024, chị L, anh T kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án
sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
Về thủ tục tố tụng: Kể từ khi thụ vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng
xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư đã tuân theo đúng các quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ
quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ
luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bị đơn, gi
nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
7
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cđã được xem xét tại phiên tòa, kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1] Xét kháng cáo của nguyên đơn thấy rằng:
Chị L cho rằng số tiền 2.500.000.000 đồng chị N trả cho chị ngày 06-01-2023
số tiền chị N trả cho c khoản nợ vay trước ngày 29-3-2022 mà chL chuyển
khoản cho chị N các ngày 14-02-2022 (500.000.000 đồng), ngày 16-02-2022
ngày 11-3-2022 (mỗi ngày chuyển khoản 1.000.000.000 đồng). Tuy nhiên, căn cứ
bản sao chuyển khoản giữa hai n thể hiện từng lần chuyển khoản chị L đều
cộng số tiền đã chuyển khoản trước đó ghi vào nội dung chuyển khoản của lần sau,
do đó, số tiền chuyển khoản nội dung chuyển khoản không khớp nhau. Ngày
29-3-2022, chị L chỉ chuyển khoản 1.000.000.000 đồng nhưng hai bên viết giấy nợ
3.500.000.000 đồng, nội dung chuyển khoản cũng thể hiện số tiền 3.500.000.000
đồng là tổng số tiền chuyển khoản của 04 lần cộng lại.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của chị L trình bày thời điểm
ngày 06-01-2023, chị N còn nợ chị L hai khoản vay nhưng giấy tờ giao nhận tiền
không thể hiện trả cho khoản vay nào. Chị L không chứng minh được ngoài hai
khoản vay này chN còn nợ khoản nào khác. Do đó, không có căn cứ chấp nhận
kháng cáo của chL.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn thấy rằng:
Chị N cho rằng đã trả số tiền 1.500.000.000 đồng của khoản vay
3.500.000.000 đồng ngày 29-3-2022 bằng tiền mặt nhưng không đưa ra được
chứng cứ chứng minh. Chị N thừa nhận tất cả tiền chuyển nhượng đất của chị L chị
đều thanh toán bằng chuyển khoản cho chị L, nhưng lại cho rằng trtiền vay cho
chị L bằng tiền mặt, không làm biên nhận là không có cơ sở chấp nhận.
Đối với việc tính lãi quá hạn, chị N cho rằng chị L đồng ý nhận tiền lãi của
chị sau khi hết thời hạn trả tiền gốc nhưng cấp thẩm tính lãi quá hạn không
đúng. Xét thấy, sau khi hết thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng vay, hai n thừa
nhận không thỏa thuận gia hạn hợp đồng. Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ
quyền của chị L xác định chị L không đồng ý gia hạn hợp đồng cho chị N nên cấp
thẩm tính lãi quá hạn căn cứ, đúng với quy định tại Điều 467 của Bộ luật
Dân sự.
[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy không sở chấp
nhận kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân
dân tỉnh Tây Ninh đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm là có cơ sở chấp nhận.
[4] Về án phí: Chị L, chị N phải chịu án phí phúc thẩm dân sự theo quy định
tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu
lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
8
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của chị Mai Thị Thúy L, chị Nguyễn Thị Cẩm N;
giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2022/DS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2024
của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ vào các Điều 166, 463, 466, 468 của Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị
quyết số 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí
và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Mai Thị Thúy L.
Buộc chị Nguyễn Thị Cẩm N nghĩa vụ trả cho chị Mai Thị Thúy L số tiền
nợ gốc 3.703.066.600 đồng lãi suất 1.564.058.000 đồng. Tổng cộng nợ gốc
lãi buộc chị N trả cho chị L 5.267.674.600 (năm tỷ hai trăm sáu mươi bảy triệu
sáu trăm bảy mươi bốn nghìn sáu trăm) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 28-02-2024 nếu người phải thi hành án không
chịu trả số tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu thêm số tiền lãi đối với số tiền
chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của
Bộ luật Dân sự 2015.
2. Chấp nhận yêu cầu đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất của chị Nguyễn Thị
Cẩm N đối với chị Mai Thị Thúy L.
Buộc chị Mai Thị Thúy L trả cho chị Nguyễn Thị Cẩm N thửa đất số 293, tờ
bản đồ số 01, diện tích 997 m
2
tọa lạc tại: Ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Tài
sản này dùng để đảm bảo trả nợ cho chị L.
quan nhà nước thẩm quyền căn cứ theo bản án đã tuyên điều chỉnh
Giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà tài sản khác gắn liền với đất số:
số DĐ 476921, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 06171, thửa đất s293, tờ bản
đồ số 01, diện tích 997 m
2
do Sở T3 cấp ngày 09-5-2022 cho chMai Thị Thúy L
đứng tên. Đất tọa lạc tại: Ấp C, L, huyện B, tỉnh Tây Ninh sang tên chị Nguyễn
Thị Cẩm N.
3. Về chi phí thẩm định: Chị N tự nguyện chịu 1.000.000 đồng ã nộp và chi
phí xong).
4. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Nguyễn Thị Cẩm N phải chịu 113.267.700 (một trăm mười ba triệu hai
trăm sáu mươi bảy nghìn bảy trăm) đồng tiền án phí dân sự thẩm, khấu trừ số
tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0002148 ngày 06
tháng 12 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh theo, còn
lại phải nộp tiếp 112.967.700 (một trăm mười hai triệu chín trăm sáu mươi bảy
nghìn bảy trăm) đồng.
9
Chị Mai Thị Thúy L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm cho yêu cầu không được
chấp nhận là 76.406.600 đồng 300.000 đồng án phí đòi tài sản. Tổng cộng
76.706.400 đồng, khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 57.250.000 đồng theo
Biên lai thu số 0002201 ngày 19 tháng 6 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân s
thành phố Tây Ninh, còn lại phải nộp tiếp 19.156.500 (mười chín triệu một trăm
năm mươi sáu nghìn năm trăm) đồng.
5. Về án phí dân sự phúc thẩm:
Chị L phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc
thẩm dân sự đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai số 0002526 ngày 19-3-2024 của
Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Chị L đã nộp xong
án phí dân sự phúc thẩm.
Chị N phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc
thẩm dân sự đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai số 0002497 ngày 14-3-2024 của
Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Chị N đã nộp
xong án phí dân sự phúc thẩm.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của
Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- TAND TP Tây Ninh;
- Chi cục THADS TPTN;
- Phòng KTNV&THA. TATTN;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu tập án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Võ Thị Hồng Mai
Tải về
Bản án số 295/2024/DS-PT Bản án số 295/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 295/2024/DS-PT Bản án số 295/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất