Bản án số 29/2023/HS-ST ngày 30-05-2023 của TAND huyện Hương Khê (TAND tỉnh Hà Tĩnh) về tội đánh bạc

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 29/2023/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 29/2023/HS-ST ngày 30-05-2023 của TAND huyện Hương Khê (TAND tỉnh Hà Tĩnh) về tội đánh bạc
Tội danh: 322.Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Hương Khê (TAND tỉnh Hà Tĩnh)
Số hiệu: 29/2023/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/05/2023
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Đậu Đức T, Lê Đình D, Trần Nam S, Lê Đức T1, Nguyễn Võ D, Đậu Thanh B và Đậu Văn H phạm tội “Đánh bạc”.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯƠNG K
TỈNH HÀ TĨNH
Số: 29/2023/HS-ST
Ngày 30 - 5 - 2023
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trịnh Xuân Minh; ông Nguyễn Quốc Thảo.
- Thư phiên tòa: Thị Bích Khuyên - Thư Tòa án nhân n
huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
huyện Hương Khê, tỉnh Tĩnh
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hương Khê,
tỉnh Tĩnh
xét x sơ thm công khai
v án hình sự sơ thẩm
thụ s
24/2023/TLST-HS ngày 04/5/2023, theo Quyết định đưa vụ án rat xử số
28/2023/QĐXXST-HS ngày 16/5/2023, đối với các bị cáo:
1. Htên: Đậu Đức T (n gọi khác: Không), sinh ngày: 22/02/1990,
tại H, huyện H, tỉnh Tĩnh; nơi trú: Xóm X, H, huyện Hương Khê,
tỉnh Tĩnh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh;
giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đậu Đức S, sinh
năm 1947 Nguyễn Thị T, sinh m 1954; vợ Trần Thị N, sinh năm
1992 chưa con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 21/10/2022, bị Công an xã
Hương G xử phạt hành chính 1.500.000đ về hành vi đánh bạc, đã chấp hành nộp
phạt; báp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/12/2022
đến nay; hiện tại ngoại; có mặt.
2. Họ và tên: Đình D (Tên gọi khác: Không), sinh ngày: 05/4/1989, tại
H, huyện ơng Khê, tỉnh Tĩnh; nơi cư trú: Xóm Y, H, huyện ơng
Khê, tỉnh Tĩnh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc:
Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đình
T, sinh năm 1960 Thị V (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án: Không;
tiền sự: Ngày 21/10/2022, bị Công an H xử phạt hành chính 1.500.000đ về
hành vi đánh bạc, đã chấp hành nộp phạt; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm
đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/12/2022 đến nay; hiện tại ngoại; có mặt.
3. Họ và tên: Lê Đức T1 (Tên gọi khác: Không), sinh ngày: 01/8/1981, tại
H, huyện H, tỉnh Tĩnh; nơi trú: Xóm L, H, huyện Hương Khê, tỉnh
2
Tĩnh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 03/12; dân tộc: Kinh; giới
tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình T, sinh năm
1960Lê Thị T, sinh năm 1961; có vợ Nguyễn Thị L, sinh năm 1982 và 03
đứa con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự:
Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú từ ngày
09/12/2022 đến nay; hiện tại ngoại; có mặt.
4. Họ và tên: Nguyễn D (Tên gọi khác: Không), sinh ngày:
10/12/1981, tại xã H, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Xóm K, xã H,
huyện Hương Khê, tỉnh Tĩnh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn:
12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con
ông Nguyễn Thanh S, sinh năm 1947 Lương Thị K, sinh năm 1954; vợ
Nguyễn Thị L, sinh năm 1985 03 đứa con, đứa lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ
nhất sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn
cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/12/2022 cho đến nay; hiện tại ngoại; có mặt.
5. Họ tên: Đậu Thanh B (Tên gọi khác: Không), sinh ngày:
20/02/1977, tại H, huyện H, tỉnh Tĩnh; nơi trú: Xóm X, H, huyện
Hương Khê, tỉnh Tĩnh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 07/12;
dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Đậu Đức N, sinh năm 1952 Lê Thị N, sinh năm 1954; vợ Phan Thị M,
sinh năm 1982 03 đứa con, đứa lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm
2016; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi
cư trú từ ngày 09/12/2022 cho đến nay; hiện tại ngoại; có mặt.
6. Họ tên: Trần Nam S (Tên gọi khác: Không), sinh ngày: 12/02/1990,
tại H, huyện Hương Khê, tỉnh Tĩnh; nơi trú: Xóm Y, H, huyện
Hương Khê, tỉnh Tĩnh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 09/12;
dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng viên
Đảng cộng sản Việt Nam sinh hoạt tại Chi bộ Y, Đảng bộ xã Hương Giang (hiện
bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 76-QĐ/UBKTHU ngày 27/4/2023
của y ban kiểm tra Huyện y Hương Khê); con ông Trần Xuân T, sinh năm
1951 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1954; vĐậu Thị O, sinh năm
1995 02 đứa con, đứa lớn sinh năm 2015, đứa nhỏ sinh năm 2017; tiền án:
Không; tiền sự: Ngày 24/02/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Hương Khê áp
dụng biện pháp xử hành chính đưa vào sở cai nghiện bắt buộc (chưa chấp
hành quyết định); báp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi trú từ
ngày 09/12/2022 cho đến nay; hiện tại ngoại; có mặt.
7. Họ tên: Đậu Văn H (Tên gọi khác: Không), sinh ngày: 02/10/1981,
tại xã Hương G, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Xóm X, xã Hương
Giang, huyện Hương Khê, tỉnh Tĩnh; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học
vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông Đậu Đức S, sinh năm 1947 bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1954;
vợ Thị H, sinh năm 1985 02 đứa con, đứa lớn sinh năm 2011, đứa nhỏ
sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi
khỏi nơi cư trú từ ngày 22/3/2023 cho đến nay; hiện tại ngoại; có mặt.
3
- Người chứng kiến: Anh Đậu n B; Xóm trưởng xóm X; địa chỉ: Xóm
X, xã H, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 24/11/2022, Đậu Đức T Đức T1
đến nhà Đậu Văn H ở xóm X, xã Hương Giang, huyện Hương Khê chơi và uống
rượu. Trong lúc uống rượu, Đậu Đức T gọi điện thoại cho Đậu Thanh B còn Lê
Đức T1 gọi điện thoại cho Nguyễn D rủ đến nhà H uống rượu, thì D B
đồng ý. Khi B D đến thì cả 05 người tiếp tục ng nhau ngồi uống rượu đến
khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày thì nghỉ không uống rượu nữa. Lúc này, Đậu
Đức T nói: “Ta làm tý không” (ý là rủ đánh bài ăn tiền). Đức T1, Đậu Thanh
B Nguyễn D đồng ý, rồi đi vào phòng khách nhà H sử dụng bộ bài
khơ 52 quân sẵn để đánh bạc. Còn Đậu Đức T việc gia đình nên chưa
tham gia đánh bạc mà đi về nhà, một lúc sau quay lại ngồi xem những người này
đánh bạc. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày, Đình D Trần Nam S
cũng đến nhà H uống rượu. Trong lúc ngồi uống rượu, D và S hỏi H: “Trong nhà
việc đông người” thì H trả lời: “Có người đang đánh bạc trong, có vào
làm tý cho vui không”. S và D đồng ý rồi đi vào tham gia đánh bạc cùng Lê Đức
T1, D B. Khi Trần Nam S tham gia đánh bạc thì Đậu Đức T lấy kết quả bài
của Lê Đức T1 để cược riêng với Trần Nam S hai ván, mỗi ván 10.000đ. Trước
khi tham gia đánh bạc, Đậu Đức T mang theo số tiền 440.000đ, Đức T1
mang theo số tiền 1.800.000đ, Đậu Thanh B mang theo số tiền 220.000đ,
Nguyễn D mang theo số tiền 880.000đ, Trần Nam S mang theo số tiền
470.000đ Đình D mang theo số tiền 3.410.000đ. Tổng số tiền các bị cáo
mang theo người đều sử dụng đánh bạc là 7.220.000đ.
Cách thức đánh bạc đánh bài liêng được các bị cáo thống nhất như
sau: Sử dụng bộ bài khơ 52 quân bài từ A đến K. Trước khi chia bài, mỗi
người phải đặt cược số tiền 10.000đ, gọi là “tiền tẩy”. Riêng người phát bài phải
đặt cược (ẩm) số tiền 20.000đ. Sau đó người chia bài sẽ chia cho mỗi người 03
quân bài, còn lại bài đgiữa “bài nọc”. Sau khi tự xem bài của mình thì
người chơi thể tố thêm tiền. Sau khi tố xong thì lần lượt những người chơi
còn lại thể theo hoặc tố cao hơn hoặc không theo. Nếu theo thì bỏ thêm số
tiền tiền đã tố, nếu tố thì bỏ thêm số tiền nhiều hơn nhưng không đựa q
50.000đ, nếu không theo thì úp bài coi như ván đó thua và mất 10.000đ. Sau khi
tố xong thì người chơi lật bài so sánh để biết thắng thua. Bài lớn nhất sáp”,
tức ba quân bài giống nhau cùng bộ, khác chất. Nếu nhiều người cùng bài
“sáp” thì sáp” to thắng sápnhỏ. Bài lớn thứ hai “liêng”, tức 03 quân
liên tiếp nhau, thể cùng chất hoặc không cùng chất, nếu nhiều người cùng
“liêng” thì liêng” to thắng “liêng” nhỏ. Bài lớn thứ ba “cọc cạch” tức
quân bài đều hình người không liên tiếp nhau. Cuối cùng tính điểm, tổng
điểm tính đến 9 (theo quy định cộng tổng điểm của 03 quân bài lại rồi trừ đi 0
4
hoặc 10 hoặc 20, quân bài hình người tính bằng 0 điểm, quân A tính bằng 1
điểm), bài nào điểm to thì thắng. Nếu những người chơi cùng điểm thì phải so
sánh chất theo thứ tự: , cơ, chuồn, bích để phân định thắng thua. Bìa của ai
lớn hơn s người thắng được nhận toàn bộ tiền cược tiền tố. Người
thắng sẽ được chia ván bài tiếp theo.
Khi Đức T1, Đậu Thanh B, Nguyễn D, Trần Nam S Đình D
cùng nhau đánh bạc đến khoảng 13 giờ 10 phút cùng ngày thì bCông an
Hương Giang phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ tại chiếu bạc số tiền 1.320.000đ;
02 b bài khơ, mỗi bộ 52 quân bài. Thu gi trong người Đậu Đức T
440.000đ, Lê Đức T1 1.100.000đ, Đậu Thanh B 420.000đ, Nguyễn Võ D
730.000đ, Trần Nam S 307.000đ, Đình D 3.210.000đ, đều sử dụng o mục
đích đánh bạc. Tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 7.527.000đ.
Vật chứng, tài sản thu giữ: 02 bộ bài tú lơ khơ, mỗi bộ 52 quân, đã qua sử
dụng và số tiền 7.527.000đ. Cơ quan điều tra đã chuyển đến Chi cục Thi hành án
dân sự huyện Hương Khê bảo quản chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng s26/CT-VKS-HK ngày 25/4/2023 của Viện trưởng
VKSND huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh truy tố các bị cáo Đậu Đức T, Lê Đình
D, Đức T1, Nguyễn D, Đậu Thanh B, Trần Nam S, Đậu Văn H vtội
“Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo Đậu Đức T, Lê Đình D, Lê Đức T1, Nguyễn Võ D, Đậu Thanh
B, Trần Nam S Đậu Văn H khai nhận hành vi của mình như nội dung vụ án
tóm tắt trên. Các bcáo không ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của
đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, các bị o đều nhận thức được sai
phạm, thể hiện sự ăn năn hối cảixin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về
tội danh, điều luật theo cáo trạng truy tố đnghHội đồng xét xử: Áp dụng
khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xphạt
Đậu Đức T, Lê Đình D, Trần Nam S từ 06 đến 09 tháng tù; áp dụng thêm Điều
65 Bộ luật Hình sự xử phạt Đức T1, Nguyễn D, Đậu Thanh B, Đậu Văn
H mỗi bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách
từ 12 đến 18 tháng kể từ ngày tuyên án. Đồng thời, đề nghị biện pháp tư pháp và
xử vật chứng, tịch thu sung công nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng đánh
bạc; tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài khơ buộc các bị cáo phải chịu án phí
hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung v án, n cứ vào c tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các nh vi, quyết định tố tụng của cơ quan người thẩm quyền
tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy t đã thực hiện đúng về thẩm
quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình
5
điều tra, truy tố tại phiên tòa bị cáo những người tham gia tố tụng khác
không ý kiến hoặc khiếu nại vhành vi, quyết định của cơ quan tiến nh
tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng trên
đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đều tự nguyện khai nhận hành vi phạm tội
của mình. Đối chiếu lời khai nhận tội của các bị cáo với tài liệu, chứng cứ đã thu
thập trong hồ vụ án được xem xét công khai tại phiên a phù hợp, Hội
đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ 10 giờ 30 phút đến
13 giờ 10 phút ngày 24/11/2022, tại nhà Đậu Văn H thuộc xóm X, Hương
Giang, huyện Hương Khê, tỉnh Tĩnh, Đậu Đức T, Đức T1, Đậu Thanh B,
Nguyễn D, Trần Nam S Đình D đã cùng nhau thực hiện hành vi đánh
bài được thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài Liêng với tổng số tiền dùng
đánh bạc 7.527.000đ. Đậu Văn H tuy không trực tiếp tham gia đánh bạc
nhưng biết các bị cáo khác đánh bạc trong nhà mình, lời nói để Trần Nam
S, Lê Đình D tham gia đánh bạc cùng các bị cáo khác nên phải chịu trách nhiệm
đồng phạm giúp sức trong vụ án. Hành vi của các bcáo đã phạm vào tội đánh
bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cáo trạng truy tố các
bị cáo về tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự căn
cứ, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của các bị cáo nguy hiểm cho hội, xâm phạm đến trật tự
công cộng, trực tiếp xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của hội,
nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Do đó, cần phải xử nghiêm
mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[4] Các bị cáo không tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị
cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai
báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Đậu Đức T,
Đậu Văn H, Trần Nam S bố mẹ được tặng Huân, Huy chương kháng chiến
chống Mỹ cứu nước, người công với ch mạng; bị cáo Trần Nam S
thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, nên xem xét cho các bị cáo được hưởng
thêm tình tiết giảm nhẹ khác tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Xét tính chất hành vi phạm tội, vị trí vai trò, tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự nhân thân các bị cáo, Hội đồng xét xử t thấy: Đối với Đậu
Đức T người khởi xướng việc đánh bạc nên giữ vai trò chính; Đình D
số tiền mang theo dùng đánh bạc nhiều nhất; đồng thời, về nhân thân cả hai bị
cáo đều đang một tiền sự, ngày 21/10/2022 bị xử phạt hành chính cùng về
hành vi đánh bạc, do đó cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt bằng nhau
phù hợp; đối với Trần Nam S mặc tham gia vào sau, số tiền mang theo ít
nhất tuy nhiên về nhân thân đang một tiền sự, ngày 24/02/2021 bị áp dụng
biện pháp xử hành chính đưa vào sở cai nghiện bắt buộc nhưng chưa chấp
hành. vậy, cần xử phạt cách ly các bị cáo Đậu Đức T, Đình D, Trần
Nam S ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới bảo đảm tính giáo dục, răn đe
6
và phòng ngừa tội phạm. Đối với Lê Đức T1, Nguyễn Võ D, Đậu Thanh B đồng
phạm với vai tngười thực hành, Đậu Văn H đồng phạm vai tgiúp sức, các
bị cáo đều nhân thân tốt, hành vi bột phát nhất thời, lần đầu vi phạm pháp
luật, phạm tội ít nghiêm trọng, nơi trú ràng... nên xét thấy không cần
thiết phải cách ly khỏi hội, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình scho các
bị cáo được hưởng án treo để tạo điều kiện cho các bị cáo được giáo dục, cải tạo
tại địa phương như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[6] Xét các bị cáo đánh bạc vì mục đích lợi nhân, do đó cần xử phạt
hình phạt bổ sung phạt tiền mi bị cáo 10.000.000đ phù hợp.
[7] Xét luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức án
đề nghị là phù hợp.
[8] Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Đối với số tiền 7.527.000đ các
bị o dùng đánh bạc cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 02 bộ bài
khơ, mỗi bộ 52 quân cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1
Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[9] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51
Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đậu Đức T, Lê Đình D, Trần Nam S;
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đức T1, Nguyễn D, Đậu Thanh
B, Đậu Văn H;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều
106 Bluật Tố tụng hình s; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản
1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghquyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đậu Đức T, Lê Đình D, Trần Nam S,
Lê Đức T1, Nguyễn Võ D, Đậu Thanh B và Đậu Văn H phạm tội “Đánh bạc”.
2. Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Đậu Đức T 08 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành
án. Phạt tiền bổ sung 10.000.000đ.
- Xử phạt bị cáo Lê Đình D 08 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành
án. Phạt tiền bổ sung 10.000.000đ.
- Xử phạt bị cáo Trần Nam S 06 tháng tù. Thời hạn tính từ ngày thi
hành án. Phạt tiền bổ sung 10.000.000đ.
- Xử phạt bị cáo Đức T1, Đậu Thanh B, Nguyễn D, Đậu Văn H
7
mỗi bị cáo 06 tháng nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 12 tháng,
kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Phạt tiền bổ sung Đức T1, Đậu Thanh B, Nguyễn D, Đậu Văn H
mỗi bị cáo 10.000.000đ.
Giao các bị cáo Lê Đức T1, Đậu Thanh B, Nguyễn Võ D, Đậu Văn H cho
Ủy ban nhân dân Hương Giang, huyện Hương Khê, tỉnh Tĩnh giám sát,
giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Gia đình người bị kết án trách
nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục.
Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt hoặc thay đổi i trú
thì thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm
nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án
thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt
của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 7.527.000đ (Đã chuyển
vào tài khoản tạm giữ của Chi cục Thi hành án dân shuyện Hương Khê, theo
Ủy nhiệm chi số C04 lập ngày 27/4/2023 của Công an huyện Hương Khê).
- Tịch thu, tiêu hủy 02 bộ bài khơ, mỗi b52 quân (Tình trạng, đặc
điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/4/2023 giữa quan CSĐT
Công an huyện Hương Khê Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Khê,
tỉnh Hà Tĩnh).
4. Về án phí: Buộc Đậu Đức T, Đình D, Đức T1, Nguyễn D,
Đậu Thanh B, Trần Nam S, Đậu Văn H mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án p
hình sự sơ thẩm.
5. Về kháng cáo: Các bcáo quyền kháng cáo bản án thẩm trong
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Bcáo;
- VKSND huyện;
- CQ CT CA huyn;
- CQTHAHS CA huyn;
- Chi cục THADS huyện;
- UBND xã H, huyện Hương K;
- TAND, VKSND, S pháp tỉnh;
- Lưu: HSVA; VPTA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Thanh Tùng
Tải về
29_2023_HS-ST_HUONG_KHE_HA_TINH.pdf 29_2023_HS-ST_HUONG_KHE_HA_TINH.pdf

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

29_2023_HS-ST_HUONG_KHE_HA_TINH.doc 29_2023_HS-ST_HUONG_KHE_HA_TINH.doc

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất