Bản án số 286/2024/DS-PT ngày 08/07/2024 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 286/2024/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 286/2024/DS-PT ngày 08/07/2024 của TAND TP. Cần Thơ về tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Cần Thơ
Số hiệu: 286/2024/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/07/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Trần Văn K - Nguyễn Thanh H - Đòi lại tài sản
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ CẦN THƠ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 286/2024/DS-PT
Ngày: 08.7.2024
V/v “Tranh chấp đòi lại tài sản”.
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Phương Thanh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hải
Bà Nguyễn Thị Thùy Trang
- Thư phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Sang Thư Tòa án nhân dân
thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên
tòa: Ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên.
Vào ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần
Thơ xét xử công khai vụ án thụ lý số 529/2023/TLPT-DS ngày 20 tháng 12 năm
2023 về “Tranh chấp đòi lại tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 122/2023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023
của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xphúc thẩm s82/2024/QĐPT-DS
ngày 15 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn K, sinh năm 1962. Địa chỉ: Số A KV1,
phường A, quận N, thành, phố C.
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Sỹ B (Văn bản ủy quyền ngày
30/9/2022). (có mặt)
-Bị đơn:
1/ Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1977. Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T,
thành phố Cần Thơ. (xin vắng mặt)
2/ Ông Võ Văn Ú, sinh năm 1960. Địa chỉ: Số E H, phường T, quận N,
thành phố Cần Thơ. (có mặt)
3/ Bà Huỳnh Thị Mộng Đ, sinh năm 1975. Địa chỉ: ấp T, thị trấn T, huyện
T, thành phố Cần Thơ. (xin vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Phước T, sinh năm
1962. Địa chỉ: 27B/ÔD, khu vực B, phường L, quận B, thành phố Cần Thơ. (xin
2
vắng)
- Người kháng cáo: Ông Trần Văn K là nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông K trình bày nội dung yêu cầu khởi kiện như sau:
Ngày 05/4/2021, ông Nguyễn Thanh H được sủy quyền của Huỳnh Thị
Mộng Đ đã ký 02 Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông 02 thửa
đất 42 và 887. Giá chuyển nhượng là 2.000.000.000 đồng, ông đã giao đủ số tiền
trên cho ông H qua 02 biên bản giao, nhận tiền ngày 05/4/2021. Đối với lời khai
của ông H cho rằng vay tiền của ông 2.000.000.000 đồng hợp đồng
chuyển nhượng để bảo đảm khoản nợ vay không đúng, ông chỉ nhận chuyển
nhượng thật nhưng chưa sang tên. Khoảng 10 ngày sau thì ông H đề nghị với
ông xin được hủy 02 hợp đồng chuyển nhượng bồi thường 50.000.000 đồng
để chuyển nhượng cho ông Văn Ú được ông đồng ý. Việc thỏa thuận số
tiền bồi thường 50.000.000 đồng chỉ thỏa thuận miệng, không văn bản. Do
ông H chưa trả lại số tiền 2.000.000.000 đồng nên ông đã yêu cầu ông Ú phải ký
nhận tiền của ông 2.000.000.000 đồng ngày 15/4/2021. Mục đích yêu cầu ông Ú
nhận tiền là để đảm bảo nghĩa vcủa ông H ông Ú cùng trách nhiệm
trả lại 2.000.000.000 đồng cho ông thì ông mới đồng ý hủy hợp đồng chuyển
nhượng với ông H, để ông H chuyển nhượng qua cho ông Ú. Sau khi ông hủy
hợp đồng chuyển nhượng với ông H, đến ngày 24/4/2021 thì ông H đã trcho
ông được 1.300.000.000 đồng (không làm biên bản giao nhận tiền), còn nợ lại
700.000.000 đồng tiền bồi thường 50.000.000 đồng. Đến ngày 26/4/2021, do
lo sợ bị tố cáo nên ông H đã viết giấy mượn số tiền 750.000.000 đồng, nhưng
thực chất đây số tiền còn nsau khi hủy hợp đồng 50.000.000 đồng tiền
bồi thường. Đồng thời ông yêu cầu ông Ú phải bảo lãnh để cùng trách
nhiệm với ông H trả cho ông số tiền n lại thời điểm ông Ú bảo lãnh
ngày 12/5/2021 mặt ông, ông H, ông Ú xin cho thêm thời gian trả để ông H
trả 30 ngày (đến hết 12/6/2021). Mặc dù, đã nhiều lần liên hnhưng ông H
không trả số tiền còn nn ông khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn
Thanh H, bà Huỳnh Thị Mộng Đ ông Văn Ú cùng liên đới trả cho ông số
tiền còn n 750.000.000 đồng. Ngoài ra, các bị đơn còn phải chịu tiền lãi
chậm thực hiện nghĩa vụ từ ngày ông H viết giấy giấy mượn tiền 26/4/2021 cho
đến khi thanh toán hết nợ với mức lãi suất 10%/năm (tương đương
0,83%/tháng).
* Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các bị đơn lần lượt ý kiến
như sau:
- Ông Nguyễn Thanh H trình bày: Ngày 05/4/2021, Huỳnh Thị Mộng
Đ ủy quyền cho ông chuyển nhượng thửa đất 887 thửa đất 42. Việc ủy
quyền này chỉ nhằm mục đích để bảo đảm cho khoản nợ Đ đã vay của
ông 1.300.000.000 đồng và lập hợp đồng công chứng. Sau khi hợp đồng
ủy quyền, ông đã hợp đồng chuyển nhượng 02 thửa đất của Đ cho ông
Trần Văn K với giá 2.000.000.000 đồng, nhưng thực tế đây chỉ là hợp đồng để
bảo đảm khoản nợ ông vay của ông K 2.000.000.000 đồng. Việc vay mượn
3
giữa ông và ông K không có hợp đồng, ông K đã giao cho ông đủ 2.000.000.000
đồng cùng ngày hợp đồng chuyển nhượng. Đến ngày 15/4/2021, ông ông
K thỏa thuận hủy 02 hợp đồng chuyển nhượng để ông chuyển nhượng cho
ông n Ú. Giá thỏa thuận trong hợp đồng 600.000.000 đồng nhưng thực
chất thỏa thuận chuyển nhượng 1.300.000.000 đồng. Mục đích hợp đồng
chuyển nhượng cho ông Ú để cho ông Ú vay tiền Ngân hàng và bà Đ muốn
chuộc lại đất thì trả 1.300.000.000 đồng cho ông Ú để chuộc lại đất. Sau khi
hợp đồng chuyển nhượng cho ông Ú được khoảng 02 đến 03 ngày thì ông Ú
trả cho ông được 600.000.000 đồng, còn 700.000.000 đồng hai bên thỏa thuận
ông Ú có trách nhiệm trả cho ông K, việc thỏa thuận này ông K hoàn toàn không
biết. Tuy nhiên, sau đó ông Ú không trả số tiền còn nợ cho K nên ông K đã yêu
cầu ông phải viết giấy nợ 750.000.000 đồng (trong đó nợ gốc 700.000.000
đồng và nợ lãi là 50.000.000 đồng) và ông Ú tên xác nhận bảo lãnh. Đến thời
điểm ông Ú xác nhận bảo lãnh thì ông K đã biết giữa ông ông Ú thỏa
thuận ông Ú nhận trách nhiệm trả số tiền 750.000.000 đồng cho ông K. Do đó,
ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông K về việc buộc ông phải liên
đới trả số tiền 750.000.000 đồng, trách nhiệm trả số tiền này của ông Ú.
Ngoài ra, ông còn cho biết trong suốt thời gian giao dịch chuyển nhượng giữa
ông và ông K, ông Ú thì bà Đ hoàn toàn không biết.
- Huỳnh Thị Mộng Đ trình bày: Vào năm 2021 bà có vay của ông Nguyễn
Thanh H số tiền 1.300.000.000 đồng, đbảo đảm cho khoản nợ vay nên đã
hợp đồng ủy quyền chuyển nhượng cho ông H thửa đất số 887, tờ bản đồ số
10, diện tích 289m
2
, tọa lạc tại ấp T, T, huyện T, thành phố Cần Thơ thửa
đất số 42, tbản đồ số 14, diện tích 226.5m
2
, tọa lạc tại ấp T, thị trấn T, huyện
T, thành phố Cần Thơ.
Sau khi vay khoản 40 ngày thì yêu cầu chuộc lại đất nhưng ông H
không cho chuộc, qua tìm hiểu thì biết được ông H đã chuyển nhượng cho
ông Văn Ú. vậy, trong năm 2021 đã khởi kiện yêu cầu hủy hợp đồng
chuyển nhượng giữa ông H ông Ú. Kết quả giải quyết đã hủy hợp đồng
chuyển nhượng buộc trả lại nhà đất cho bà. Nhận thấy việc chuyển nhượng
giữa ông K, ông H, ông Ú không liên quan đến bà nên bà không đồng ý liên đới
trả số tiền gốc và lãi là 856.207.000 đồng.
- Văn Ú trình bày: Vào ngày 12/5/2021, ông có bảo lãnh cho ông
Nguyễn Thanh H số tiền 750.000.000 đồng ông H đã nợ ông Trần Văn K,
ông không nợ tiền vay hay nợ tiền liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng
đất. Thời hạn bảo lãnh 30 ngày. Mục đích của việc bảo lãnh chỉ để tạo điều kiện
cho ông H làm ăn có tiền trả cho ông K, chứ không có việc nhận trách nhiệm trả
thay cho ông H. Đối với biên bản giao nhận tiền ngày 15/4/2021, ông nhận
của ông K số tiền 2.000.000.000 đồng nhằm mục đích ông nhận trách nhiệm trả
lại cho ông K 1.300.000.000 đồng và ông H trả lại cho ông K 700.000.000 đồng.
Do ông H cho Đ vay bằng hình thức ủy quyền chuyển nhượng 02 thửa đất
của Đ T. Ông không ông H vay tiền của ông K hợp đồng chuyển
nhượng đbảo đảm khoản vay hay chuyển nhượng thật. Ông chỉ biết ông K
ông H hủy hợp đồng chuyển nhượng. Sau đó ông H mới chuyển nhượng 02 thửa
4
đất của Đ cho ông với giá 1.300.000.000 đồng. Sau khi hợp đồng chuyển
nhượng, ông vay tiền Ngân hàng và đã trả cho ông K 1.300.000.000 đồng, lúc
trả tiền mặt của ông H chứng kiến, không biên bản giao nhận tiền. Còn
việc ông H cho rằng ông mới trả được 600.000.000 đồng còn nợ lại
700.000.000 đồng là không đúng. ông ông vừa vay tiền ra khỏi Ngân hàng E
thì đã trả cho ông K 1.300.000.000 đồng như lời trình bày của bên nguyên đơn
ông K đúng. Về chữ chữ viết phía sau Văn bản giao, nhận tiền ngày
15/4/2021 là của ông Nguyễn Thanh H, ông người viết ký tên Văn Ú
phần bảo lãnh ngày 12/5/2021. Do việc bảo lãnh này không nhằm mục đích trả
tiền thay cho ông H nên ông K yêu cầu ông phải cùng liên đới trả số tiền
750.000.000 đồng thì ông không đồng ý. đây việc nợ tiền tiền giữa ông K
và ông H thì ông K và ông H tự giải quyết.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khai Nguyễn Phước T khai:
Việc tranh chấp tiền bạc giữa ông K, ông H, ông Ú Đ không liên
quan đến ông. Đối với việc ông cho ông K mượn tiền để mua đất việc riêng
của ông, vấn đề ông K mượn tiền của ông thì giữa ông và ông K tự giải quyết.
* Vụ việc hòa giải không thành nên được đưa ra xét xử công khai. Tại
Bản án dân sự thẩm số 122/2023/DS-ST ngày 21 tháng 9 m 2023 của Tòa
án nhân dân huyện Thới Lai xét xử và quyết định như sau:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Không chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu ông Ú,Đ liên đới với
ông H trả số tiền còn nợ cho nguyên đơn.
Buộc ông Nguyễn Thanh H trách nhiệm trả cho ông Trần Văn K số tiền
919.735.000đồng (trong đó nợ gốc 750.000.000đồng, nợ lãi 169.735.000đồng).
Kể từ khi nguyên đơn đơn yêu cầu thi hành án nếu bị đơn chậm trả số tiền
nêu trên thì bị đơn còn phải chịu tiền lãi tính theo mức lãi suất quy định tại Điều
357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền thời
gian chậm trả.
2. Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí dân sự và quyền kháng cáo của các
đương sự.
* Ngày 28 tháng 9 năm 2023, nguyên đơn ông K kháng cáo yêu cầu Tòa
án cấp phúc thẩm xét xử buộc ông H, ông Ú, bà Đ cùng liên đới trả cho ông tiền
750.000.000 đồng lãi 10%/năm tính từ 13/6/2021 đến 21/9/2023; buộc trả
lãi kể tngày tiếp theo ngày xét xử thẩm theo mức lãi quy định tại khoản 2
Điều 468 Bộ luật Dân sự.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Bị đơn bà Huỳnh Thị Mộng Đ xin vắng mặt; Bị đơn ông Ú không thống
nhất yêu cầu của nguyên đơn; Bị đơn ông H có yêu cầu vắng mặt.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm:
5
- Về tố tụng: Người tham gia tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Qua tranh tụng tại phiên tòa cùng với các chứng cứ
trong hồ sơ, xét thấy, kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu ông Ú, Đ liên đới
cùng ông H trả lại số tiền 750.000.000 đồng yêu cầu tính thời gian về lãi suất
chưa sở. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên giữ nguyên bản án
thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn vắng mặt nhưng người đại diện, bị đơn
Đ, ông H, người liên quan ông T xin vắng nên tiến hành xét xử vắng mặt các
đương sự theo quy định Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn, qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa
cũng như đối chiếu với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định:
[2.1] Về trách nhiệm liên đới: Bị đơn ông H được Mộng Đ ủy quyền
chuyển nhượng hai thửa đất số 887, tờ bản đồ số 10, diện tích 289m
2
, tọa lạc
tại ấp T, T, huyện T, thành phố Cần Thơ thửa đất số 42, tờ bản đồ số 14,
diện tích 226.5m
2
, tọa lạc tại ấp T, thị trấn T, huyện T, thành phố Cần Thơ, sau
đó ông H đã kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 02 thửa đất nêu
trên với giá 2.000.000.000 đồng cho nguyên đơn ông K ông H đã nhận đủ số
tiền 2.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau đó hai bên đã thỏa thuận hủy hợp đồng
chuyển nhượng vào ngày 15/4/2021 ông H có trách nhiệm phải trả lại cho
ông K số tiền 2.000.000.000 đồng nhưng ông H chỉ trả được 1.300.000.000
đồng, còn nợ lại ông K 700.000.000 đồng chưa trả. Ngoài khoản tiền
700.000.000 đồng ông H còn nợ thì hai bên còn thỏa thuận ông H phải trả
thêm cho ông K 50.000.000 đồng. Việc thỏa thuận này không có văn bản, ông H
cho rằng đây tiền lãi của snợ 700.000.000 đồng, nhưng ông K không thừa
nhận việc vay mượn nên không tiền lãi chỉ thỏa thuận bồi thường
khi hủy hợp đồng. Mặc dù, hai bên không thống nhất 50.000.000 đồng tiền
bồi thường hủy hợp đồng chuyển nhượng hay tiền lãi nhưng ông H thừa nhận có
nợ số tiền này làm biên nhận ngày 26/4/2021 còn n ông K 750.000.000
đồng. Đối với việc ông Ú vào biên nhận này với nội dung bảo lãnh cho
ông H trong hạn 30 ngày sẽ trả đủ vào ngày 12/5/2021, qua xem xét nội dung thì
không có nội dung ông Ú sẽ trả thay cho ông H số tiền này trong trường hợp ông
H không trả được nợ. Mặt khác, trước đây ông H người trực tiếp nhận tiền từ
ông K, do đó, nghĩa vụ trả nợ thuộc về một mình ông H. Riêng bà Đ chỉ là người
ủy quyền cho ông H thực chất vay tiền từ ông H thì bà Đ nghĩa vụ với
ông H, không liên quan Đ trong giao dịch giữa ông H ông K, vậy, bà Đ
cũng không nghĩa vụ liên đới cùng ông H trả nợ cho ông K. Nên kháng cáo
của nguyên đơn yêu cầu ông Ú Đ nghĩa vụ liên đới cùng ông H trả nợ
là không có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Về thời hạn lãi suất nguyên đơn yêu cầu tính thêm kể từ sau thời
điểm xét xử: xét thấy, theo biên nhận ngày 26/04/2021 thì ông H cam kết đến
ngày 06/5/2021 strả tất, sau đó vẫn không thực hiện thì ngày 12/5/2021 ông Ú
6
viết bảo lãnh đứng ra cho ông H hẹn 30 ngày sau sẽ trả, nhưng ông H vẫn
không thực hiện nên bắt đầu tính lãi từ ngày 13/6/2021 đúng, do đây nghĩa
vụ bị đơn ông H được ông Ú bảo lãnh cam kết ngày 12/6/2021 sẽ thanh toán
nhưng không thanh toán vậy, cần phải tính lãi chậm trả theo quy định tại
khoản 1 Điều 357 Bộ luật Dân sự mới đảm bảo quyền lợi cho nguyên đơn. Nên
kháng cáo của nguyên đơn có căn cứ chấp nhận tính lãi từ ngày chậm thanh toán
đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả hết tiền tương ng với thời gian chậm trả
theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Cấp thẩm đã tính lãi đến
ngày 21/9/2023, cần bổ sung buộc bị đơn trả lãi tiếp theo sau ngày 21/9/2023
từ ngày 22/9/2023 đến khi trả hết nợ.
[3] Với những nhận định trên nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại
phiên tòa phúc thẩm phù hợp một phần. Cấp thẩm đánh giá chứng cứ
chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc ông H trả nợ đúng quy
định pháp luật nên giữ nguyên, chỉ sửa phần tính lãi theo nhận định tại mục
[2.2].
[4] Về án phí sơ thẩm và phúc thẩm:
[4.1] Án phí sơ thẩm: Do yêu cầu nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn
ông H phải chịu theo quy định.
[4.2] Án phí phúc thẩm: Nguyên đơn kháng cáo được chấp nhận một
phần nên không phải chịu. Ngoài ra nguyên đơn là người cao tuổi nên được
miễn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: - Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 166, 357, 468 Bộ luật Dân sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: - Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn.
- Sửa một phần Bản án dân sự thẩm số 122/2023/DS-ST
ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thới Lai.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông
Nguyễn Thanh H trách nhiệm trả cho ông Trần Văn K số tiền 919.735.000
đồng (trong đó nợ gốc 750.000.000 đồng, nợ lãi 169.735.000 đồng). Ông H còn
nghĩa vụ trả lãi chậm trả cho ông K kể từ ngày 22/9/2023 cho đến khi trả
xong khoản tiền nợ trên theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều
468 của Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
2. Về án phí:
2.1 Dân sự sơ thẩm: Ông Hồng chịu 39.592.000 đồng.
7
2.2 Phúc thẩm: Nguyên đơn được miễn.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án n sự, người phải thi hành án
dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b
9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Các đương sự;
- VKSND TPCT;
- TAND huyện Thới Lai;
- Chi cục THADS huyện Thới Lai; (Đã ký)
- Lưu hồ sơ vụ án.
Hà Thị Phƣơng Thanh
Tải về
Bản án số 286/2024/DS-PT Bản án số 286/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 286/2024/DS-PT Bản án số 286/2024/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất