Bản án số 274/2026/HS-ST ngày 31/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 274/2026/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 274/2026/HS-ST ngày 31/07/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 274/2026/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 31/07/2026
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Lê Tuấn K (sinh năm 2003) do thiếu tiền tiêu xài đã liên tiếp thuê 03 máy ảnh (Canon R50, FUJIFILM XS10, Sony ZV1) có tổng giá trị định giá là 51.334.000 đồng của nhiều cá nhân rồi mang đi bán lại. Bên cạnh đó, K còn lừa tài xế taxi Dương Thế H chiếm đoạt 4 triệu đồng và 752 USD trên ứng dụng Binance (tổng thiệt hại 24,5 triệu đồng). Ngày 26/10/2025, K bị các bị hại phát hiện, đưa đến cơ quan Công an trình báo. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, K thành khẩn khai báo, ăn ăn hối cải, chấp nhận bồi thường cho anh H và bị Viện kiểm sát đề nghị mức án từ 03 đến 04 năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

Bản án số 274/2026/HS-ST Bản án số 274/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 274/2026/HS-ST Bản án số 274/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 274/2026/HS-ST
Ngày 31 – 7 – 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Thu
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Huỳnh Thị Thu Thảo
2. Ông Lý Hữu Hoàng Giang
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quốc Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân Khu
vực 5 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy An - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2026 tại Tòa án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số
261/2026/TLST-HS, ngày 07 tháng 7 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 334/2026/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2026, đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Tuấn K; Sinh năm: 26/02/2003 tại tỉnh Vĩnh Long; CCCD số:
************; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở : Ấp V, xã M, tỉnh Vĩnh Long; Trình
độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc:
Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Tấn C, sinh năm: 1981
và bà Đỗ Thị Đ (đã chết); Bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/10/2025 đến
nay tại Trại tạm giam số 2 - Phân trại tạm giam Thông T Hội.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2.1. Bị hại:
- Ông Trần Gia B, sinh năm 2000; địa chỉ: A T, phường K, tỉnh Quảng Ngãi;
chỗ ở hiện nay: 10.31 Toà nhà BS15, Dự án Khu dân cư Đ, phường L, Thành phố
Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ông Phạm Kông K1, sinh năm 2001; địa chỉ: Tổ H, thôn T, xã Đ, Thành phố
Đà Nẵng; chỗ ở hiện nay: 29 đường G, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn
xin xét xử vắng mặt).
- Ông Dương Thế H, sinh năm 1976; địa chỉ: 1 B, phường B, Thành phố Hồ
Chí Minh (có mặt).
2
2.2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Văn A, sinh năm 2003; địa chỉ: Đ, xã H, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở
hiện nay: 1 H, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Ông Lương Phan Phước K2, sinh năm 1995; địa chỉ: Tổ G, Khu phố A,
phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: 170/26 đường L, phường A,
Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bà Trần Phương V, sinh năm 2005; địa chỉ: C B, phường B, Thành phố Hồ
Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền, Lê Tuấn K (sinh năm 2003) nảy sinh ý định lên mạng tìm
thuê máy ảnh để đem bán kiếm tiền tiêu xài cá nhân. Ngày 19/10/2025, Lê Tuấn K
đang ở nhà tại địa chỉ Ấp V, xã M, tỉnh Vĩnh Long có nhắn tin với tài khoản “Ngọc
N” bằng ứng dụng Zalo để liên hệ thuê máy ảnh, tài khoản tên “Ngọc N” nhắn
“còn máy ảnh Canon R50 trống 2 ngày, đến địa chỉ B, phường T, Thành phố Hồ
Chí Minh để xem máy”. Vào khoảng 16 giờ ngày 20/10/2025, K đặt xe ô tô trên
ứng dụng “XanhSM” từ nhà đến địa điểm để thuê máy ảnh như trên, trong lúc
đang ngồi trên xe K nhắn tin với Trần Văn A (K quen biết qua mạng xã hội, vì
trước đây K có mua giùm 01(một) máy ảnh của Trần Văn A qua ứng dụng
Messenger, Trần Văn A sử dụng tài khoản tên “Tran A1”) để hỏi “có thu máy ảnh
Canon R50 không”. Trần Văn A nhắn tin với K “đến D Hậu Giang, phường T,
Thành phố Hồ Chí Minh để xem máy ảnh” K nhắn “chờ tôi mang máy ảnh qua”.
Đến khoảng 22 giờ 30 phút ngày 20/10/2025 K đến địa chỉ B, phường T, Thành
phố Hồ Chí Minh thì Phạm Kông K1 đưa máy ảnh Canon R50 cùng phụ kiện cho
K thuê máy ảnh Canon R50 cùng phụ kiện trong vòng 2 ngày (giá 380.000 đồng,
đặt cọc thuê máy ảnh 1.000.000 đồng) K1 làm hợp đồng cho thuê máy ảnh, K đưa
cho K1 1.000.000 đồng tiền mặt, sau khi nhận máy ảnh Canon R50 cùng phụ kiện
thì K đến D Hậu Giang, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh gặp Trần Văn A để
bán máy ảnh Canon R50 cùng phụ kiện với giá 12.000.000 đồng. Trần Văn A
chuyển tiền bán máy ảnh đến tài khoản số 7478260203 của Ngân hàng T1 tên LE
TUAN K. Sau đó K đi đến tiệm W (địa chỉ F H, phường G, Thành phố Hồ Chí
Minh) để chơi điện tử qua đêm.
Ngày 21/10/2025, K đang ở W (địa chỉ F H, phường G, Thành phố Hồ Chí
Minh), K tiếp tục nhắn tin với tài khoản tên “F” bằng ứng dụng Messenger để thuê
máy ảnh FUJIFILM XS10 của anh Trần Gia B, tài khoản tên “FAO Sài G” nhắn K
“còn máy ảnh FUJIFIL MX-S10 trống 3 ngày, đến địa chỉ 3 P, phường C, Thành
phố Hồ Chí Minh để xem máy”. Vào khoảng 11 giờ ngày 21/10/2025, K đặt xe ôtô
trên ứng dụng “XanhSM” đến địa chỉ 3 P, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Lúc này H1 (nhân viên của cửa hàng) lấy máy ảnh FUJIFILM XS10 cùng phụ kiện
đưa cho K xem và kiểm tra thuê máy ảnh cùng phụ kiện trong vòng 03 ngày giá
880.000 đồng, đặt cọc thuê máy ảnh 5.000.000 đồng), K đồng ý thuê máy ảnh và
3
làm hợp đồng để thuê máy ảnh. K sử dụng tài khoản số 7478260203 của Ngân
hàng T1 tên L1 chuyển 5.880.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng T2 tên T3. Sau
khi chuyển tiền xong K nhận máy ảnh FUJIFILM XS10 cùng phụ kiện K tìm kiếm
trên mạng xã hội Facebook địa điểm thu mua máy ảnh cũ, thì K kiếm được cửa
hàng thu mua máy ảnh tại địa chỉ 1 L, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Khoảng 17 giờ ngày 21/10/2025, K đến địa chỉ trên để bán máy ảnh FUJIFILM
XS10 cùng phụ kiện với giá 20.000.000 đồng cửa hàng chuyển tiền bán máy ảnh
đến tài khoản số 7478260203 của Ngân hàng T1 tên LE TUAN K. Sau đó K đến
tiệm W (địa chỉ F H, phường G, Thành phố Hồ Chí Minh) để chơi điện tử qua đêm.
Ngày 22/10/2025, khi K đang ở tiệm W (địa chỉ F H, phường G, Thành phố
Hồ Chí Minh) thì K tiếp tục nhắn tin với tài khoản tên “F” bằng ứng dụng
Messenger thuê máy ảnh Sony ZV1, đến khoảng 13 giờ ngày 22/10/2025, K đến
cửa hàng tại địa chỉ 3 P, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh, lúc này H1 (nhân
viên của cửa hàng) lấy máy ảnh Sony ZV1 cùng phụ kiện đưa cho K xem và kiểm
tra (thuê máy ảnh Sony ZV1 cùng phụ kiện trong vòng 2 ngày (giá 296.000 đồng,
đặt cọc thuê máy ảnh 2.000.000 đồng) K đồng ý thuê máy ảnh thì H1 làm hợp
đồng để thuê máy ảnh, K đặt cọc tiền để thuê máy ảnh Sony ZV1 cùng phụ kiện, K
nhận máy ảnh cùng phụ kiện. Khoảng 16 giờ ngày 22/10/2025, K nhắn tin với
Trần Văn A bằng ứng dụng Messenger để hỏi địa chỉ cửa hàng thu mua máy ảnh,
Trần Văn A nhắn K địa chỉ cửa hàng tại 1 H, phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.
Khoảng 30 phút sau, K đến cửa hàng tại địa chỉ trên để bán máy ảnh Sony ZV1
cùng phụ kiện với giá 7.000.000 đồng, Trần Văn A chuyển tiền bán máy ảnh đến
tài khoản số 7478260203 của ngân hàng T1 tên LE TUAN K. Sau đó K đi ăn uống,
đến khoảng 20 giờ cùng ngày 22/10/2025 K đến khách sạn ở Quận A (không nhớ
rõ địa chỉ) nghỉ ngơi.
Tại khách sạn K3 nhắn tin với tài khoản “Ngọc N” bằng ứng dụng Zalo để
liên hệ thuê máy Canon R50 (máy ảnh K thuê của K1 vào ngày 20/10/2025) thêm
2 ngày, tài khoản “Ngọc N” đồng ý, K sử dụng tài khoản số 19070873872011 của
ngân hàng T1 tên LE TUAN K để chuyển khoản 1.000.000 đồng đến tài khoản
“Ngọc N”. Đến khoảng 15 giờ ngày 24/10/2025, K điện thoại cho V (quản lý cửa
hàng “F”) để lấy tiền cọc, V nói “đến cửa hàng đi và đem máy ảnh đến để kiểm
tra”. Khoảng 15 phút sau K đến cửa hàng tại địa chỉ 3 P, phường C, Thành phố Hồ
Chí Minh, lúc này K gặp H1 (nhân viên của cửa hàng) nói “anh ở đây chờ lấy tiền
cọc và chờ đem máy ảnh đến để kiểm tra”. K đi vào cửa hàng trong khi chờ lấy lại
tiền cọc thuê máy ảnh, K thấy trên kệ có trưng bày micro thì K nói H1 “cho đặt cọc
500.000 đồng để thuê micro một tuần được không”, H1 nói đồng ý. K điện thoại
cho V nói “anh thuê thêm micro với giá 500.000 đồng và xin lại tiền cọc thuê máy
ảnh thì em trừ ra và chuyển khoản cho anh lại 6.100.000 đồng”, V nói “khi nào
đem máy ảnh qua thì em sẽ chuyển tiền cọc thuê máy ảnh”. K nói “anh ngồi ở đây
rồi, không đi đâu hết, em cứ chuyển khoản đi để anh lấy tiền đi lấy đồ”, sau đó V
chuyển khoản 6.100.000 đồng đến tài khoản số 7478260203 của ngân hàng T1 tên
LE TUAN K của K. Lúc này cửa hàng đang có khách nên H1 đang bận tiếp khách,
K thấy vậy đi ra ngoài bắt xe Xanh SM đi đến quán nước ở địa điểm thuộc quận B
4
(cũ) (không xác định rõ địa điểm). Vào khoảng 17 giờ, ngày 24/10/2025, K gọi xe
“XanhSM” về nhà tại địa chỉ Ấp V, xã M, tỉnh Vĩnh Long.
Sáng ngày 26/10/2025, K tiếp tục kiếm điểm thuê máy ảnh trên mạng xã hội
Facebook thì phát hiện tại địa chỉ A N, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh có cho
thuê, nên K nảy sinh ý định tiếp tục thuê để bán kiếm tiền tiêu xài. Sau đó K gọi xe
“XanhSM” chở đến địa điểm trên trong lúc đang xem máy ảnh, thì V (quản lý cửa
hàng “F”) cùng Trần Gia B, Phạm Kông K1 phát hiện K, nên B và K1 yêu cầu K
cùng đến Công an phường C, Thành phố Hồ Chí Minh để trình báo sự việc trên.
Ngoài ra, vào ngày 23/10/2025 trong quá trình anh Dương Thế H (tài xế taxi)
chở K đi công việc thì K nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của anh H bằng cách rủ
anh H chơi chứng khoán game qua nên tảng M và yêu cầu anh Hoàng N1
4.000.000 đồng vào tài khoản mà K tạo cho anh H bằng cách đưa mã QR cho anh
H để tạo tài khoản, rồi K tạo cho anh H song song 02 tài khoản gồm 01 tài khoản
thật và 01 tài khoản “trial” để tạo lòng tin, rồi anh H chuyển 4.000.000 đồng vào
tài khoản của K tạo cho anh H tài khoản thật. Sau khi để anh H chơi thử trên tài
khoản “trial” là tài khoản chơi thử thì anh H bị thua khoảng vài USD, xong K nói
anh H đưa lại K chơi để gỡ lại cho. Sau đó, K sử dụng tài khoản thật có 4.000.000
đồng chơi chứng khoán tiền ảo trên Metatrade thua hết số tiền 4.000.000 đồng.
Một lúc sau, K nói dối anh H là số tiền đã về như số ban đầu.
Đối với số tiền 752USD của anh H, qua nói chuyện K biết được anh H có số
tiền là 752USD tương đương 20.500.000 đồng (hai mươi triệu năm trăm ngàn đồng)
trong tài khoản Binance nên K nảy sinh ý định chiếm đoạt, K tự giới thiệu mình
đang làm việc bên công ty chuyên thu mua tiền ảo và đề nghị mua số tiền ảo
752USD trong tài khoản Binance của vợ chồng anh H tương đương với giá
21.000.000 đồng tiền thật anh H đồng ý vì nhiều hơn 500.000 đồng với giá trị
752USD, sau đó K sử dụng điện thoại của anh H chuyển toàn bộ tiền 752USD
trong ứng dụng Binance của anh H sang tài khoản Binance của K, rồi K nói sẽ
chuyển lại tiền thật là 21.000.000 đồng cho anh H trong ngày 23/10/2025. K đã
chiếm đoạt số tiền 752USD của anh H để chơi chứng khoán tiền ảo trên nền tảng
B1 và bị thua hết không trả tiền lại cho anh H.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Lê Tuấn K đã khai nhận
hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Tại kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 29/10/2025 của Hội
đồng định giá tài sản - UBND phường C kết luận: 01 máy ảnh hiệu Canon EO R50
số seri: 308070025839 và 01 Lens theo máy ảnh, sản xuất năm 2023 đã qua sử
dụng trị giá 16.667.000 đồng; 01 máy ảnh hiệu FUJFILM XS10 số seri: 1A001886
và 01 Lens theo máy thông số 18-45mm, sản xuất năm 2020 đã qua sử dụng trị giá
26.667.000 đồng; 01 máy ảnh hiệu Sony ZV-1 số seri: 8521071, sản xuất năm
2022 đã qua sử dụng trị giá 8.667.000 đồng. Tổng trị giá 46.001.000 đồng (Bốn
mươi sáu triệu không trăm lẻ một ngàn đồng).
Cáo trạng số 78/CT-VKSKV5 ngày 29/6/2026 của Viện kiểm sát nhân dân
Khu vực 5 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Lê Tuấn K về tội “Lừa đảo
5
chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa
đổi, bổ sung năm 2017 và 2025).
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lê Tuấn K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện
kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố. Bị cáo thành
khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo không tranh luận và lời nói sau
cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 – Thành phố Hồ Chí Minh phát
biểu vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”,
đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174 điểm s khoản 1 Điều 51
và điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017
và 2025) xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tù.
Về dân sự:
Các bị hại anh Phạm Kông K1 và Trần Gia B đã nhận lại tài sản và không có
yêu cầu gì khác; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn A và
Lương Phan Phước K2 tự nguyện nộp lại máy ảnh và đã được gia đình bị cáo trả
lại số tiền mua máy, không yêu cầu gì khác nên đề nghị không xem xét. Anh
Dương Thế H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 24.500.000 đồng. Tại phiên tòa bị
cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh H nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi
nhận sự tự nguyện của bị cáo.
Về vật chứng:
- Đề nghị ghi nhận Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01
(một) máy ảnh hiệu Canon R50 cho anh Phạm Kông K1; 01 (một) máy ảnh
FUJIFILM XS10 và 01 (một) máy ảnh hiệu Sony ZV1 cho anh Trần Gia B.
- Đề nghị tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu
Samsung galaxy màu xanh thu giữ của Lê Tuấn K sử dụng vào việc phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra
viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra,
truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các bị hại, đương sự không
có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được và kết quả
tranh luận tại phiên tòa, có đủ căn cứ kết luận hành vi phạm tội cụ thể của bị cáo
như sau:
6
Do không có tiền, Lê Tuấn K nảy sinh ý định lên mạng tìm thuê máy ảnh để
đem bán kiếm tiền tiêu xài cá nhân. Từ ngày 19/10/2025 đến ngày 24/10/2025, Lê
Tuấn K đã dùng thủ đoạn gian dối để thực hiện hành vi chiếm đoạt 01 máy ảnh
hiệu Canon R50 của anh Phạm Kông K1 trị giá 16.667.000 đồng và 01 máy ảnh
hiệu máy ảnh FUJIFIM XS10 trị giá 26.667.000 đồng và 01 máy ảnh hiệu Sony
ZV1 trị giá 8.667.000 đồng của anh Trần Gia B, tổng trị giá là 46.001.000 đồng.
Ngoài ra, ngày 23/10/2025, Lê Tuấn K dùng thủ đoạn gian dối để anh Dương Thế
H tin tưởng chuyển tiền cho K để chơi chứng khoán số tiền 4.000.000 đồng nhưng
thực tế K chuyển vào tài khoản của K để chiếm đoạt, đồng thời cùng ngày K đề
nghị mua lại 752USD tương đương 20.500.000 đồng trong tài khoản Binance của
anh H, sau khi anh H chuyển tiền vào tài khoản K thì K chiếm đoạt sử dụng chơi
chứng khoán thua hết không trả tiền cho anh H, tổng số tiền 24.500.000 đồng.
Tổng số tiền K chiếm đoạt của 03 bị hại là 70.501.000 đồng.
Hành vi của bị can đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác
được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội, cần xử lý nghiêm
để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Như vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo Lê Tuấn K đã có hành vi dùng thủ
đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 50.000.000 đồng đến
dưới 200.000.000 đồng, phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại
điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017
và 2025).
[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải
nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015
(sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025) để giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra bị
cáo phải chịu.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên
nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên”
theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung năm 2017 và 2025).
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Các bị hại Phạm Kông K1 và Trần Gia B đã nhận lại tài sản và không có yêu
cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn A và Lương
Phan Phước K2 đã được gia đình bị cáo trả lại tiền mua máy và không có yêu cầu
gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý trả lại cho
anh Dương Thế H số tiền 24.500.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự
nguyện của bị cáo.
[6] Đối với Đối với Trần Văn A và Lương Phan Phước K2 là những người đã
mua máy ảnh hiệu Canon R50; máy ảnh hiệu Sony ZV1 và máy ảnh hiệu
FUJIFILM XS10 của K. Trần Văn A và Lương Phan Phước K2 không biết các
máy ảnh trên do K phạm tội mà có. Vì vậy, không có căn cứ để xử lý về hành vi
7
“Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.[7] Về xử lý vật chứng:- Ghi
nhận Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 (một) máy ảnh hiệu
Canon R50 cho anh Phạm Kông K1; 01 (một) máy ảnh FUJIFILM XS10 và 01
(một) máy ảnh hiệu Sony ZV1 cho anh Trần Gia B.- Đối với 01 (một) điện thoại di
động hiệu Samsung Galaxy màu xanh thu giữ của Lê Tuấn K sử dụng vào việc
phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước. [8] Về án phí: Bị cáo phải chịu
án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.Vì
các lẽ trên,QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c, khoản 2, Điều 174; điểm s, khoản 1, Điều 51; điểm g,
khoản 1, Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017
và 2025).
Xử phạt bị cáo Lê Tuấn K: 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày 30/10/2025.
2. Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự;
Buộc bị cáo có nghĩa vụ trả lại cho ông Dương Thế H số tiền 24.500.000 (hai
mươi tư triệu năm trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày ông Dương Thế H có đơn yêu cầu thi hành án; nếu bị cáo chậm
thực hiện nghĩa vụ thì phải trả thêm tiền lãi theo quy định tại Điều 357, Điều 468
Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và
2025); Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung
Galaxy màu xanh.
(Vật chứng trên đang giữ tại Phòng thi hành án dân sự Khu vực 5 - Thành phố
Hồ Chí Minh theo Quyết định chuyển vật chứng số 119/QĐ-VKS-KV5 ngày
04/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 và Biên bản về việc giao nhận
vật chứng, tài sản ngày 03/3/2026 giữa Công an Cơ quan cảnh sát điều tra Công an
Thành phố H và Phòng thi hành án dân sự Khu vực 5 - Thành phố Hồ Chí Minh).
4. Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí
và lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và
1.225.000 (một triệu hai trăm hai mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo, bị
hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ
ngày tuyên án. Bị hại, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy
định của pháp luật.
8
Nơi nhận:
- VKSND TP.HCM;
- VKSND Khu vực 5 – TP.HCM;
- Bị cáo, đương sự, bị hại;
- THADS TP.HCM;
- Phòng hồ sơ (PV06) – Công an TP.HCM;
- Trại tạm giam Số 2 - Phân trại tạm giam
Thông Tây Hội;
- Lưu: Vp, Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHáN - CHỦ TỌA PHIêN TÒA
(đã ký)
Đinh Thị Hoài Thu
9
Bạn chưa Đăng nhập thành viên.
Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết Văn bản gốc.
Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!
Tải về
Bản án số 274/2026/HS-ST Bản án số 274/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án số 274/2026/HS-ST Bản án số 274/2026/HS-ST

Đây là tiện ích dành cho tài khoản Tiêu chuẩn hoặc Nâng cao 6 tháng trở lên. Vui lòng Đăng nhập để xem chi tiết. Nếu chưa có tài khoản, Đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất