Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 31/03/2024 của TAND huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 26/2024/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 26/2024/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 26/2024/HS-ST ngày 31/03/2024 của TAND huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Bình Sơn (TAND tỉnh Quảng Ngãi) |
| Số hiệu: | 26/2024/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 31/03/2024 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | 2 bị cáo Tổ chức sử dụng ma túy |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH SƠN
TỈNH QUẢNG NGÃI
Bản án số: 26/2024/HS-ST
Ngày: 31-01-2024
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Kim Oanh
Ông Võ Ngọc Cường
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lên – Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Ánh – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 01 năm 2024 tại hai điểm cầu: Điểm cầu trung tâm – trụ
sở Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn và điểm cầu thành phần – trụ sở Công an
huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng
Ngãi xét xử trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
47/2023/TLST –HS ngày 28 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số: 10/2024/QĐXXST – HS ngày 15 tháng 01 năm 2024, đối với các bị
cáo:
1. Nguyễn Thanh T (tên gọi khác: T1), sinh ngày 07-6-1992 tại tỉnh
Quảng Ngãi. Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, nghề
nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn
giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: 051092005501; con
ông Nguyễn Hữu P và bà Nguyễn Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự:
Không;
Nhân thân: Ngày 26-3-2008 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B áp
dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 24 tháng về hành vi
gây rối trật tự công cộng, trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 27-3-2010.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08-9-2023 đến nay, có mặt.
2. Võ Văn H (tên gọi khác: Đ), sinh ngày 22-10-1994 tại tỉnh Quảng
Ngãi. Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi, nghề nghiệp:
Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; căn cước công dân số: 051094008167; con ông
Võ Văn N (chết) và bà Nguyễn Thị T2; vợ là Trần Thị L1 (đã ly hôn), có 01
2
con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày
08-9-2023 đến nay, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Ông Lâm Duy K, sinh năm 1982. Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B,
tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.
+ Ông Đặng D, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Thôn T, xã B, huyện B, tỉnh
Quảng Ngãi, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội
dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 09/7/2023, Nguyễn Thanh T và Võ Văn H
rủ nhau đi nhậu tại xã B, huyện B. Sau khi nhậu xong thì H đưa tiền cho T trả
tiền nhậu, thấy H còn 400.000 đồng nên T nói với H lấy số tiền 400.000 đồng
đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng, H đồng ý. Sau đó, T sử dụng điện thoại
nhãn hiệu Vivo của T liên hệ với một người đàn ông không xác định được
danh tính (số điện thoại trên T được một người bạn cho nhưng T không nhớ
được bạn T là ai đã cho T và khi gặp người bán ma túy thì người đàn ông này
lấy điện thoại của T xóa số và lịch sử gọi) để mua ma túy và người này đồng ý
bán ma túy, nên T điều khiển xe máy biển số 76Y2-1035 của H chở H đến đầu
cầu T thuộc xã B, huyện B thì H xuống xe đi vệ sinh, còn T tiếp tục điều khiển
xe đến đầu cầu T thuộc xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi để mua 01 tép ma túy
với giá 400.000 đồng của một người đàn ông lạ mặt. Sau khi mua được ma túy
thì T đến chở H về nhà của cha mẹ T (cha mẹ T đi làm ăn xa, chỉ có T ở tại
nhà) ở thôn T, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Tại đây, T lấy bộ dụng cụ sử
dụng ma túy đã có sẵn từ trước, T dùng kéo cắt tép ma túy vừa mua được đổ
chất ma túy vào phễu, dùng máy lửa gas đốt ma túy trong phễu thuỷ tinh chảy
ra rồi T dùng miệng ngậm ống hút để hút chất ma túy vào cơ thể T, sử dụng
ma tuý xong thì T để bộ dụng cụ sử dụng ma túy xuống nền nhà, Võ Văn H
cầm lên và tự đốt để hút chất ma túy vào cơ thể. Trong lúc Nguyễn Thanh T và
Võ Văn H đang sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an xã B phát hiện,
bắt quả tang, thu giữ những đồ vật có liên quan và thử ma túy bằng que test
nhanh Amvi kết quả Nguyễn Thanh T và Võ Văn H đều dương tính với chất
ma túy.
Tại bản kết luận giám định số: 698/KL-KTHS, ngày 17/7/2023 của
phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận:
- Chất rắn màu trắng bám dính trong 03 đoạn ống nhựa gửi giám định là
ma tuý; loại: Methamphetamine; mẫu ở dạng vết nên không tiến hành cân khối
lượng.
- Chất rắn màu nâu trong phễu thủy tinh gửi giám định là ma tuý; loại:
Methamphetamine; mẫu ở dạng vết nên không tiến hành cân khối lượng.
- Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 247,
Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
3
Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS-BS ngày 27-12-2023, Viện kiểm sát
nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T và
Võ Văn H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều
255 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh
Quảng Ngãi giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T và bị cáo Võ Văn H phạm tội “Tổ
chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều
58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 3 năm 6
tháng tù đến 04 năm tù.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
17; Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Võ Văn H từ 3 năm
tù đến 3 năm 6 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và
Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các công cụ sử dụng ma túy
của bị cáo T, tịch thu sung ngân sách nhà nước chiếc xe mô tô biển kiểm soát
76Y2-1035 của bị cáo H và điện thoại hiệu Vivo màu xanh của bị cáo T. Trả
lại cho bị cáo H điện thoại Redmi màu xanh.
Hai bị cáo không có ý kiến tranh luận tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện
kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của pháp
luật. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác
không ai khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người
tiến hành tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai trong
quá trình điều tra, xét thấy việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc giải
quyết vụ án, do đó căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng
xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời
khai của hai bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của hai bị cáo tại cơ quan
điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các
tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng sau 11
giờ ngày 09/7/2023, Nguyễn Thanh T và Võ Văn H sau khi thanh toán tiền
nhậu, thấy H còn 400.000 đồng nên T nói lấy tiền này đi mua ma túy đá về
cùng nhau sử dụng thì H đồng ý. Sau khi mua được ma túy loại
Methamphetamine thì T đến chở H về nhà T ở tại thôn T, xã B, huyện B, tỉnh
4
Quảng Ngãi để sử dụng trái phép chất ma túy và khi đang sử dụng trái phép
chất ma túy thì bị Công an xã B phát hiện, bắt quả tang.
[4] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, vai trò của hai bị cáo cụ thể như
sau: Nguyễn Thanh T là người khởi xướng và thực hiện tích cực trong việc tổ
chức sử dụng trái phép chất ma túy: liên hệ với người bán ma túy, trực tiếp đi
mua ma túy, chuẩn bị công cụ, cắt ma túy đổ vào phểu, đốt ma túy cho nóng
chảy và dùng địa điểm nơi mình ở để thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất
ma túy. Võ Văn H là người đưa tiền, cùng T sử dụng xe mô tô biển kiểm soát:
76Y2- 1035 của H đi mua ma túy và đốt ma túy để sử dụng.
[5] Hành vi của hai bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến
chính sách độc quyền về quản lý các chất ma túy của nhà nước, đặc biệt trong
tình hình xã hội hiện nay, tội phạm ma túy đang gia tăng, gây mất trật tự an
toàn xã hội và là nguyên nhân gây ra nhiều tội phạm khác, nên cần xử phạt
nghiêm, cách li các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo
dục các bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Tuy
nhiên bị cáo T có nhân thân xấu, ngày 26-3-2008 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân
huyện B áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng với thời hạn 24 tháng
về hành vi gây rối trật tự công cộng, trộm cắp tài sản, bị cáo T là người khởi
xướng và thực hiện tích cực trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc hơn để răn đe, giáo dục bị cáo và
phòng ngừa chung tội phạm.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên
tòa, bị cáo T thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo H
thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của
Bộ luật hình sự cho hai bị cáo. Ngoài ra, bị cáo H có ông ngoại Võ Mình được
tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất nên được áp dụng thêm tình tiết giảm
nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng:
[5.1] Đối với:
- 03 đoạn ống nhựa (một đầu hàn kín, một đầu hở);
- 01 chai nhựa nhãn hiệu STING, trên có gắn nắp màu đen được đục 02
lỗ, một lỗ có gắn một phễu thủy tinh hình chữ L, trên đầu phễu bị bễ vỡ, cán
phễu có gắn một đoạn ống nhựa màu trắng tím, lỗ còn lại gắn ống hút nhựa
màu trắng xanh cùng vỏ bao gói gửi giám định được niêm phong trong cùng
túi niêm phong mã số C0031513798;
- 01 máy lửa gas (màu đỏ không có nắp chụp);
- 01 kéo bằng kim loại (mũi kéo có bám dính bụi khói).
Đây là dụng cụ đựng ma túy và công cụ sử dụng trái phép chất ma túy
nên tịch thu tiêu huỷ.
5
[5.2] Đối với 01 điện thoại di động (nhãn hiệu Vivo màu xanh, của
Nguyễn Thanh T). Đây là phương tiện mà T sử dụng liên lạc trực tiếp với
người bán ma túy để mua ma túy nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[5.3] Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 76Y2-1035. Qua điều tra xác
định chiếc xe này đứng tên chủ sở hữu là Lâm Duy K, K xác nhận đã bán xe
này cho ông Đặng D (người thu mua xe cũ) và ông D cũng xác nhận đã bán lại
xe này cho Võ Văn H, H sử dụng xe này để làm phương tiện đi lại hằng ngày
nhưng H chưa làm thủ tục sang tên. Sau khi sử dụng xe này đi đến quán N2 thì
H có sử dụng xe này để cùng T đi mua ma túy về sử dụng. Tuy nhiên, hai bị
cáo không cất giấu ma túy trong xe và đây là phương tiện đi lại duy nhất của bị
cáo H nên trả lại cho bị cáo H.
[5.4] Đối với 01 điện thoại di động (nhãn hiệu Redmi màu xanh). Đây là
điện thoại của H, điện thoại này không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả
lại cho Võ Văn H.
[6] Đối với người bán ma tuý cho Nguyễn Thanh T: Tại Cơ quan Cảnh
sát điều tra, Nguyễn Thanh T khai người bán ma túy cho T là ai, ở đâu T
không biết, số điện thoại liên hệ là do một người bạn cho nhưng không nhớ là
người bạn nào cho bị cáo, khi đến địa điểm giao nhận ma túy cho T thì người
này đeo khẩu trang nên T không nhìn thấy mặt và trước khi giao nhận ma túy
thì người đàn ông này lấy điện thoại của T và xóa số liên hệ, lịch sử gọi nên T
không nhớ và không biết được số điện thoại của người bán ma túy, do đó cơ
quan cảnh sát điều tra Công an huyện B sẽ tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý
sau.
[7] Xét ý kiến đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn tại
phiên tòa có phần phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Đối với mức hình phạt, nhận thấy bị cáo T có một tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo
H với vai trò, mức độ tham gia ít tích cực hơn, có hai tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự,
nên giảm nhẹ cho hai bị cáo một phần hình phạt cũng đủ tác dụng răn đe, giáo
dục hai bị cáo và phòng ngừa chung tội phạm. Đồng thời để hai bị cáo thấy
được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo để trở thành người có
ích cho xã hội.
Đối với chiếc xe mô tô 76Y2-1035, nhận thấy người đứng tên chủ sở
hữu xe và người mua bán xe cũ xác nhận đã bán xe này cho H nên H là người
quản lý sử dụng hợp pháp, tuy nhiên H chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu
từ K qua cho H nên hiện nay vẫn đứng tên chủ sở hữu là Lâm Duy K. H mua
lại xe mô tô này để làm phương tiện đi lại hằng ngày, mặc dù sau khi sử dụng
xe này đi đến quán N2 thì H có sử dụng xe này để cùng T đi mua ma túy về sử
dụng, tuy nhiên sau khi mua được ma túy thì hai bị cáo không cất giấu ma túy
trong xe và tại phiên tòa bị cáo H trình bày đây là phương tiện đi lại duy nhất
của bị cáo và yêu cầu được nhận lại chiếc xe mô tô 76Y2-1035 để có phương
tiện đi lại sau này nên trả lại cho bị cáo H.
6
[8] Hai bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy
định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình
sự đối với bị cáo Nguyễn Thanh T.
Khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ
luật hình sự đối với bị cáo Võ Văn H.
Điều 17; Điều 47 và Điều 58 của Bộ luật hình sự.
Điều 106 và Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T và bị cáo Võ Văn H
phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy ”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 08-9-2023).
Xử phạt bị cáo Võ Văn H 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình
phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 08-9-2023).
3. Về xử lý vật chứng:
3.1. Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng gồm:
- 03 (ba) đoạn ống nhựa, một đầu hàn kín, một đầu hở; 01 (một) chai
nhựa nhãn hiệu STING, trên có gắn nắp màu đen được đục 02 lỗ, một lỗ có
gắn một phễu thủy tinh hình chữ L, trên đầu phễu bị bể vỡ, cán phễu có gắn
một đoạn ống nhựa màu trắng tím, lỗ còn lại gắn ống hút nhựa màu trắng xanh
cùng vỏ bao gói gửi giám định được niêm phong trong cùng túi niêm phong
mã số C0031513798, bên ngoài có chữ ký của ông Huỳnh Minh N1;
- 01 (một) máy lửa gas màu đỏ không có nắp chụp;
- 01 (một) kéo bằng kim loại, mũi kéo có bám dính mụi khói;
3.2. Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu
Vivo màu xanh, IMEI (khe cắm thẻ sim 1): 867251050233346; IMEI (khe cắm
thẻ sim 2): 867251050233353. Mẫu vật được đựng trong 01 bì thư dán kín bên
ngoài có hai mẫu dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q và có chữ ký, họ tên của
ông Võ Quang H1.
3.3. T3 trả lại cho Võ Văn H: 01 (một) xe môt tô biển kiểm soát 76Y2-
1035 (không kiểm tra bên trong) và 01 (một) điện thoại di động hiệu Redmi
màu xanh, mặt phía sau bị bể vỡ, kiểu máy Redmi Note 9S; IMEI (khe cắm thẻ
7
sim 1): 862234052560726; IMEI (khe cắm thẻ sim 2): 862234052560770.
Mẫu vật được đựng trong 01 bì thư dán kín bên ngoài đóng hai mẫu dấu của
Phòng K1 Công an tỉnh Q và có chữ ký, họ tên của ông Võ Quang H1.
(Các vật chứng nêu trên có đặc điểm cụ thể theo biên bản giao nhận vật
chứng lập ngày 25-01-2024 giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện
Bình Sơn).
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh T và bị cáo Võ Văn H, mỗi bị cáo
phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Hai bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng
cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng
cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được
niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
- TAND, VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND huyện Bình Sơn;
- Chi cục THADS huyện Bình Sơn;
- CA huyện Bình Sơn (ĐT+ LT);
- Nhà tạm giữ CA huyện Mộ Đức;
- Các bị cáo;
- Những người tham gia tố tụng khác;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Nguyễn Trung Linh
8
9
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 22/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Bản án số 16/2026/KDTM-PT ngày 14/02/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 14/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm