Bản án số 26/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của TAND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 26/2023/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 26/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của TAND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Mộ Đức (TAND tỉnh Quảng Ngãi)
Số hiệu: 26/2023/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 22/11/2023
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘ ĐỨC
TỈNH QUẢNG NGÃI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 26/2023/HS-ST
Ngày: 22-11-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Sang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Thanh Sơn
- Ông Hoàng Triệu Nghĩa
- Thư phiên tòa: Ông Trần Nguyễn Trọng Thành, Thư Tòa án
nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thanh– Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh
Quảng Ngãi xét xử thẩm ng khai vụ án hình sự thẩm
thụ số
22/2023/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 20/2023/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn T, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1977, tại tỉnh Quảng Ngãi.
Nơi trú: Thôn P, Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Số căn cước công dân:
051077002547, cấp ngày 24/04/2021; nơi cấp: Cục trưởng Cục Q về trật tự
hội- Bộ C5
Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; Dân tộc:
Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn
Văn T1, sinh năm 1952; Con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1955; Vợ: Thị T2,
sinh năm 1982; Con: 02 con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm
2011; tiền án: không; tiền sự: không; về nhân thân: Ngày 26/4/2019, bị công an
huyện M xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng (đã
chấp hành xong)
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/4/2023, đến ngày 07/4/2023 bị áp dụng biện
pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2
2. Phạm M, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1969, tại tỉnh Quảng Ngãi. Nơi
trú: Thôn P, Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Số căn cước công dân:
051069020004, cấp ngày 10/8/2021; nơi cấp: Cục trưởng Cục Q về trật tự xã hội-
Bộ C5
Nghề nghiệp: Nông; Trình độ văn hoá (học vấn): 8/12; Dân tộc: Kinh; giới
tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: P (chết); Con bà:
Thị B, sinh năm 1927; Vợ: Trương Thị T3, sinh năm 1970; Con: 04 con, lớn
nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2006; tiền án: không; tiền sự: không; v
nhân thân: Ngày 28/8/2018, bị công an huyện M xử phạt hành chính về hành vi
đánh bạc với số tiền 1.500.000 đồng (đã chấp hành xong)
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/8/2023 cho
đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa
3. Văn K, sinh ngày 02 tháng 8 năm 1972, tại tỉnh Quảng Ngãi. Nơi cư
trú: Thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
Số căn cước công dân: 051072003673, cấp ngày 28/04/2021; nơi cấp: Cục
trưởng Cục Q về trật tự xã hội- Bộ C5
Nghề nghiệp: Nông; Trình độ văn hoá (học vấn): 01/12; Dân tộc: Kinh;
giới tính: Nam; n giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: L (chết); Con
bà: Trần Thị C (chết); Vợ: Nguyễn Thị M1, sinh năm 1972; Con: 03 con, lớn
nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2001; tiền án: không; tiền sự: Ngày
29/11/2022 bị UBND huyện M xử phạt hành chính tại Quyết định số 4808/QĐ-
XPHC về hành vi dùng nhà do mình quản lý để chứa chấp việc đánh bạc quy
định tại điểm b, khoản 4, Điều 28 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP, ngày
31/12/2021 của Chính Phủ;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/5/2023 cho
đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Hoàng P, sinh năm 1990. Nơi trú: Thôn F, Đ, huyện M,
tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
+ Anh Trần Khánh D, sinh năm 1985. Nơi trú: TDP A, thị trấn M,
huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
+ Ông Văn N1, sinh năm 1969. Nơi trú: Thôn P, Đ, huyện M,
tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
- Người làm chứng:
+ Anh Phạm Văn C1, sinh năm 1980. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện M,
tỉnh Quảng Ngãi.
+ Anh Ngọc V, sinh năm 1989. Nơi trú: Thôn B, Đ, huyện M,
tỉnh Quảng Ngãi.
+ Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện M,
3
tỉnh Quảng Ngãi.
+ Ông Lê Văn A, sinh năm 1978. Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện N, tỉnh
Quảng Ngãi.
+ Ông Nguyễn Minh C2, sinh năm 1969. Nơi cư trú: Thôn H, xã P, thị xã
Đ, tỉnh Quảng Ngãi.
+ Anh Trịnh Công Đ, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện M,
tỉnh Quảng Ngãi.
+ Anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện
M, tỉnh Quảng Ngãi.
+ Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện
M, tỉnh Quảng Ngãi
Đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung v
án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 8 giờ 30 phút ngày 01/4/2023, ông Trần Khánh D mang theo
một con đen, chân đen đến điểm xổ của ông Phạm Mật . Điểm xổ nằm
trên phần nhà đất của ông Phạm Văn H (SN 1991) và Trần Thị Thanh T4
(SN 1993) cùng tại thôn P, Đ, M, Quảng Ngãi (là con ruột, con dâu của bị cáo
Phạm M) đứng tên quyền sử dụng đất; bị cáo Phạm M chịu trách nhiệm quản
việc nuôi gà, xổ gà, bán thu hút khách đến xem. Khi đến điểm xổ của bị
cáo Phạm M, ông D thấy một con gà đen, tía chân trắng của bị cáo Phạm M đang
ở trong vi gà nên ông D đặt con gà của mình vào trong vi để xổ với con gà của bị
cáo Phạm Mật . Đến khoa
̉
ng 09 giơ
̀
00 phu
́
t cùng ngày, bị cáo Nguyễn Văn T
̀
nha
̀
của mình đi nhờ xe của một người thanh niên trên đường đến nhà bị cáo
Phạm Mật . Khi đến nhà bị cáo Phạm M, thấy nhiều người đang xem xổ
nên bị cáo T nảy sinh ý định tổ chức đánh bạc, dưới hình thức cược với người
chơi tại điểm xổ gà. Bị cáo T lấy một giấy bìa carton một cây bút bi mực
màu xanh ghi kèo cược với những người tại điểm xổ gà. Trong lúc con
trống đen tía có chân màu trắng và con gà đen có chân màu đen đang đá nhau, bị
cáo T lấy bút và giấy carton ghi kèo cá cược với mọi người trong sòng gà. Bị cáo
T ký hiệu con gà trống đen, tía trắng có chân màu trắng là con gà TR” và con gà
trống màu đen, chân màu đen con “Ô”. Những người cược với bị cáo
T ở con gà đen, tía có chân màu trắng bị cáo T ghi lại kèo cá cược thành cột dưới
ký hiệu “TR”; những người cá cược với T ở con gà đen, chân đen thì bị cáo T ghi
4
lại kèo cược thành cột dưới hiệu “Ô”. Sau khi chuẩn bị xong bút bìa
giấy carton, T bắt đầu ghi kèo cược; bị cáo M cược với bị cáo T 900.000đ
(chín trăm nghìn Việt Nam đồng) bắt con gà “Ôthắng bị cáo T cược với
một số người chơi khác tại điểm xcủa bị cáo Phạm Mật . Khoảng 10 gi
cùng ngày, bị cáo M đi ra khỏi nhà chở con gái là Phan Thị Thu T5 đi học.
Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, bị cáo Văn K đi từ nhà mình
đến điểm xổ gà của bị cáo M, khi đến bị cáo K thấy bị cáo T ghi kèo cá cược nên
đã cược với bị cáo T 200.000đ (hai trăm nghìn Việt Nam đồng) bắt con
“Ô” thắng. Trong lúc bị cáo T đang ghi cá cược với người chơi tại điểm xổ
của bị cáo M thì bị quan Công an phát hiện bắt quả tang, tạm gitrên người
bị cáo T 01 (một) điện thoại màu xanh đen, trên điện thoại có dòng chữ “Redmi”,
điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong; Số tiền
5.500.000đ (Năm triệu năm trăm nghìn Việt Nam đồng) gồm 10 tờ mệnh giá
500.000 đồng, 02 tờ mệnh giá 200.000 đồng và 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng; 01
(một) tờ giấy carton, một mặt có dòng chữ “Red Bull”, một mặt có ghi nhiều chữ,
số được bị cáo Nguyễn Văn T ký xác nhận là tờ giấy ghi cá cược đá gà cho người
chơi vào ngày 01/4/2023; 01 (một) cây bút bi có mực màu xanh.
Quá trình bắt quả tang, quan CSĐT Công an huyện M đã tiến hành lấy
lời khai, tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu của một số người mặt tại hiện trường
gồm: Nguyễn Tấn L, Văn A, bị cáo Văn K, Nguyễn Minh C2, Nguyễn
Văn D1, Lê Ngọc V, Nguyễn Văn L1, Trịnh Công Đ.
Quá trình điều tra xác định, bị cáo T ghi kèo các cược với 17 người trên bìa giấy
carton tạm giữ trên người bị can, cụ thể như sau:
+ Tại con màu đen, tía, trắng chân màu trắng (hay còn gọi con
“TR”) bị cáo T cược với 9 (C1) người, tổng số tiền bị cáo T cá cược với người
chơi 8.900.000đ (tám triệu chín trăm nghìn Việt Nam đồng), số tiền dùng để
đánh bạc con “TR” 14.700.000đ (mười bốn triệu bảy trăm nghìn Việt
Nam đồng).
+ Tại con gà màu đen, có chân màu đen (hayn gọi là con gà “Ô”) bị cáo
T cược với 8 (tám) người chơi, tổng số tiền bị cáo T cá cược với người chơi là
4.700.000đ (bốn triệu bảy trăm nghìn Việt Nam đồng), Số tiền dùng để đánh bạc
ở con gà “Ô” là 13.600.000đ (mười ba triệu sáu trăm nghìn Việt Nam đồng).
Tổng số tiền của bị cáo T dùng để đánh bạc trận đá trên
13.600.000đ (mười ba triệu sáu trăm nghìn Việt Nam đồng). Tổng số tiền dùng
5
để đánh bạc trận đá gà giữa con màu đen, tía, trắng chân màu trắng
hiệu con “TR” con màu đen, chân màu đen hiệu con “Ô”
là 28.300.000đ (hai mươi tám triệu ba trăm nghìn Việt Nam đồng).
Căn cứ tài liệu thu thập được, quan CSĐT Công an huyện M xác định vào
ngày 01/4/2023, 17 người đã thực hiện hành vi cá cược với bị cáo Nguyễn Văn T
tại thôn P, Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi có tên trên giấy carton bị cáo
M, D, P, H1, T6, H2, T7, bị cáo K, C2, H, H3, V1, H4, 9 (Chín), T8 giài, T9, N1.
Quá trình điều tra xác định những người trên như sau:
+ Bị cáo Phạm M cược số tiền 900.000đ (chín trăm nghìn Việt Nam
đồng);
+ Bị cáo Văn K cược số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn Việt Nam
đồng);
+ Ông Phan Văn C3 cược số tiền 1.000.000đ (một triệu Việt Nam
đồng);
+ Anh Võ Hoàng P cược stiền: 400.000đ (bốn trăm nghìn Việt Nam
đồng);
+ Ông Võ Văn N1 cược số tiền: 2.000.000đ (hai triệu Việt Nam đồng);
+ Ông Trần Khánh D cược số tiền 400.000đ (bốn trăm nghìn Việt Nam
đồng).
+ Đối với những người tên trong tịch gồm H1, T6, H2, T7, C2, H, H3,
V1, H4, T8 giài, Cơ quan CSĐT chưa xác định được nhân thân, lai lịch.
Qua xác minh tiền án, tiền scủa những người đã thực hiện hành vi đánh
bạc phát hiện Ngày 29/11/2022, bị cáo Văn K bị UBND huyện M xphạt
hành chính tại Quyết định số 4808/QĐ-XPHC với số tiền 7.500.000đ (bảy triệu
năm trăm nghìn Việt Nam đồng) về hành vi “dùng nhà do mình quản để chứa
chấp việc đánh bạc” quy định tại điểm b, khoản 4, Điều 28 Nghị định s
144/2021/NĐ-CP, ngày 31/12/2021 của Chính Phủ. Tính đến ngày 01/4/2023 thì
vẫn còn trong thời hạn bị coi “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” theo quy
định của pháp luật.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã tạm giữ:
- 01 (một) con trống nặng 3,2kg, lông màu đen, tía, trắng trong quá
trình nhập kho vật chứng đã bị chết vào 26/5/2023.
6
- 01 (một) con gà trống nặng 3kg, có lông màu đen trong quá trình nhập kho
vật chứng đã bị chết vào 11/10/2023.
- 01 (một) cân màu xanh, loại 05kg, trên cân dòng chữ “NHƠN HÒA 1983
VIETNAM” của Phạm M, quá trình điều tra xác định không liên quan đến vụ án,
Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã trả lại cho bị cáo Phạm Mật .
- 01 (một) vi màu đen chiều dài 7,95m công cụ để thực hiện hành vi
phạm tội.
- Số tiền 5.500.000đ (Năm triệu năm trăm nghìn Việt Nam đồng) là số tiền bị cáo
Nguyễn Văn T sử dụng vào việc đánh bạc.
- 01 (một) tờ giấy carton, một mặt có dòng chữ “Red Bull”, một mặt có ghi nhiều
chữ, số được bị cáo Nguyễn Văn T xác nhận tờ giấy ghi cược đá cho
người chơi vào ngày 01/4/2023 được lưu vào hồ sơ vụ án.
- 01 (một) cây bút bi mực màu xanh ng cụ thực hiện hành vi phạm tội
trong vụ án trên.
- 01 (một) điện thoại màu đen, trên điện thoại dòng chữ “OPPO”, điện thoại
đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong số tiền 1.050.000đ (Một
triệu không trăm năm mươi nghìn Việt Nam đồng) của ông Nguyễn Tấn L, quá
trình điều tra xác định các i sản trên không liên quan đến v án, n quan
CSĐT Công an huyện M đã trả lại cho ông Nguyễn Tấn L.
- 01 (một) điện thoại màu đen, trên điện thoại dòng chữ “OPPO”, điện thoại
đã qua sử dụng, không kiểm tra nh trạng bên trong; Số tiền 4.000.000đ (Bốn
triệu Việt Nam đồng); 01 (một) xe mô mang biển số 76F1-032.76, màu đỏ
đen, trên thân xe có dòng chữ “AIR BLADE”, xe đã qua sử dụng, không kiểm tra
tình trạng bên trong tài sản của ông Văn A, quá trình điều tra xác định các
tài sản trên không liên quan đến vụ án, nên quan CSĐT Công an huyện M đã
trả lại cho ông Lê Văn A.
- 01 (một) điện thoại màu đen trắng, trên điện thoại có dòng chữ “NOKIA”, điện
thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra nh trạng bên trong của bị cáo Văn K,
quá trình điều tra xác định tài sản trên không liên quan đến vụ án, nên quan
CSĐT Công an huyện M đã trả lại cho bị cáo Lê Văn K.
- Số tiền 700.000đ (bảy trăm nghìn Việt Nam đồng) của bị cáo Văn K, quá
trình điều tra xác định bị cáo K sử dụng số tiền này vào mục đích đánh bạc.
- 01 (một) điện thoại màu đen bạc, trên điện thoại dòng chữ “iPhone”, điện
thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong; Số tiền 5.500.000đ
7
(năm triệu năm trăm nghìn Việt Nam đồng) của ông Nguyễn Minh C2, quá trình
điều tra xác định các tài sản trên không liên quan đến không liên quan đến vụ án,
nên Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã trả lại cho ông Nguyễn Minh C2.
- 01 (một) điện thoại màu đen, trên điện thoại dòng chữ NOKIA”, điện thoại
đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong; 01 (một) điện thoại màu
đen, trên điện thoại dòng chữ “SAMSUNG”, điện thoại đã qua sử dụng,
không kiểm tra tình trạng bên trong; Số tiền 500.000đ (Năm trăm ngàn việt nam
đồng) gồm 01 tờ mệnh giá 500.000đ của ông Nguyễn Văn D1, qtrình điều tra
xác định các tài sản trên không liên quan đến vụ án, nên Cơ quan CSĐT Công an
huyện M đã trả lại cho ông Nguyễn Văn D1.
- 01 (một) điện thoại màu đen, trên điện thoại dòng chữ “OPPO”, điện thoại
đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong; Số tiền 2.500.000đ (hai
triệu năm trăm nghìn Việt Nam đồng) của ông Ngọc V. Quá trình điều tra,
xác định các tài sản trên không liên quan đến vụ án, nên Cơ quan CSĐT Công an
huyện M đã trả lại cho ông Lê Ngọc V.
- 01 (một) xe màu xanh, mang biển số 76V2-8491 của ông Nguyễn Văn
L1, quá trình điều tra xác định xe mô trên không liên quan đến vụ án, nên
quan CSĐT Công an huyện M đã trả lại cho ông Nguyễn Văn L1.
- Ngoài ra, trong quá trình điều tra Trần Khánh D, Văn N1, Phan Văn C3 đã
tự nguyện giao nộp tổng số tiền 3.400.000đ (hai triệu bốn trăm nghìn đồng) là số
tiền đánh bạc của những người này trong vụ án trên.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố
tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn T, Văn K, Phạm M đều khai báo
thành khẩn về hành vi phạm tội của mình; bị cáo Nguyễn Văn T có mẹ ruột được
Nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng nhất, ông nội được Nhà được
tặng kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt, tù đày; bị cáo Phạm M đang
nuôi mgià; nên đề nghị áp dụng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình
sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Văn T, bị cáo
Phạm Mật . Bị cáo Văn K phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm
trọng, nên đề nghị áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015
sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo K.
Tại cáo trạng số 24/CT-VKS-MĐ, ngày 16 tháng 10 năm 2023, Viện kiểm
sát nhân dân huyện Mộ Đức truy tố:
8
Bị cáo Nguyễn Văn T bị truy tố về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định
tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm
2017.
Bị cáo Phạm M bị truy tố về tội Gá bạc” theo quy định tại điểm b khoản
1 Điều 322 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo Lê Văn K bị truy tố về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1
Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức vẫn giữ
nguyên Cáo trạng đã truy tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn
Văn T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; bị cáo Phạm M về tội “Gá bạc”; bị cáo
Văn K về tội “Đánh bạc”
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
Điều 35 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt
bị cáo Nguyễn Văn T từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng.
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51 khoản 2, Điều
35 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị
cáo Phạm M từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 của Bộ
luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo n
K từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con gà màu đen chiều dài 7,95cm và 01 (một)
cây bút bi có mực màu xanh là công cụ thực hiện hành vi đánh bạc
- Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 5.500.000 đồng (năm triệu
năm trăm nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Văn T dùng vào việc đánh bạc
Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 700.000 đồng (bảy trăm nghìn
đồng) của bị cáo Lê Văn K dùng vào việc đánh bạc
Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 3.400.000 đồng (ba triệu bốn
trăm nghìn đồng) của các đối tượng Trần Khánh D, Văn N1, Phan Văn C3
dùng vào việc đánh bạc
Buộc bị cáo Phạm M nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 900.000 đồng
(chín trăm nghìn đồng) dùng vào việc đánh bạc
Buộc ông Hoàng P nộp o Ngân sách nhà nước số tiền 400.000 đồng
(bốn trăm nghìn đồng) mà P dùng vào việc đánh bạc
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền còn lại
dùng vào việc đánh bạc (28.300.000 đồng 5.500.000 đồng 900.000 đồng –
9
200.000 đồng - 400.000 đồng- 3.400.000 đồng )= 17.900.000 đồng (mười bảy
triệu chín trảm trăm nghìn đồng)
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an
huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tđã được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ
tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa,
các bị cáo những người tham gia tố tụng đều không ý kiến hoặc khiếu nại
về hành vi, quyết định của quan tiến hành tố tụng người thẩm quyền
tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của quan tiến hành
tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án
Hoàng P, Trần Khánh D, ông Văn N1 những người làm chứng đều
vắng mặt nhưng đã lời khai trong quá trình điều tra nên việc vắng mặt của
những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ theo
quy định tại Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng
xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm M, Văn K khai nhận
toàn bộ nh vi phạm tội của mình đúng như bản o trạng đã truy tố về số lần
Tổ chức đánh bạc đánh bạc cũng như stiền dùng vào việc đánh bạc. Lời
nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra các chứng
cứ khác tại hồ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định: Vào ngày
01/4/2023, tại thôn P, Đ, M, Quảng Ngãi, vì muốn hưởng lợi bất chính nên các bị
cáo Nguyễn Văn T, Phạm M Văn K hành vi tổ chức đánh bạc, bạc,
đánh bạc cho 17 người đánh bạc với tổng số tiền dùng để đánh bạc
28.300.000đ (hai mươi tám triệu ba trăm nghìn Việt Nam đồng). Nên cáo trạng
truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo Hội đồng xét xử
thấy rằng: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm M, Văn K đầy đnăng lực
trách nhiệm hình sự. Ngày 01/4/2023, tại thôn P, Đ, M, Quảng Ngãi, nhưng vì
muốn hưởng lợi bất chính nên các bị cáo hành vi tổ chức đánh bạc, bạc,
đánh bạc. Hành vi của các bị cáo nguy hiểm cho hội, xâm phạm đến trật tự
công cộng, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương, gây luận xấu trong
xã hội. Hành vi phạm tội của các bị cáo cụ thể như sau:
10
[4.1] Đối với bị cáo Nguyễn Văn T: Bị cáo hám lợi nên lợi dụng việc
dụng việc xổ gà, bị cáo đã thực hiện hành vi tổ chức cho 17 người đánh bạc với
tổng số tiền dùng để đánh bạc 28.300.000đ (hai ơi tám triệu ba trăm nghìn
Việt Nam đồng). Hành vi của Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội Tổ chức
đánh bạc” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã
từng bị xử phạt hành chính vhành vi đánh bạc, nhưng bị cáo không lấy đó làm
bài học để tu dưỡng bản thân hành vi phạm tội tổ chức đánh bạc. Nên cần
phải xử bị cáo với mức án nghiêm khắc. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo mẹ ruột được Nhà nước tặng huân
chương kháng chiến hạng nhất, ông nội được Nhà nước tặng kỷ niệm chương
chiến cách mạng bị địch bắt, đày nên cần áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2
Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhhình
phạt cho bị cáo. Bị cáo nơi trú ràng không cần thiết cách ly bị cáo ra
khỏi đời sống hội mà xử bị cáo mức án phạt tiền cũng đủ tác dụng giáo dục
thành công dân có ích cho xã hội.
[4.2] Đối với bị cáo Phạm M: Bị cáo nhận thức việc bị cáo Nguyễn Văn
T thực hiện việc tổ chức đánh bạc nơi mình quản việc xổ gà, mua bán gà, thể
hiện việc bị cáo Phạm M tham gia vào việc các cược đá gà, thắng thua bằng tiền
với bị cáo Nguyễn Văn T với số tiền 900.000đ (chín trăm nghìn Việt Nam đồng);
bản thân bị cáo đã từng bị xvi phạm hành chính về hành vi đánh bạc; bị cáo
nhận thức về hành vi đánh bạc xảy ra tại địa điểm thuộc quyền quản của
mình, tuy nhiên bị o bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Hành vi của Phạm M đã đủ
yếu tố cấu thành tội “Gá bạc” theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 322 Bộ
luật hình sự, nên cần phải xử bị cáo với mức án nghiêm khắc. Tuy nhiên, sau khi
phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đang nuôi mẹ già; nên
được áp dụng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi,
bổ sung năm 2017. Bị cáo có nơi trú rõ ràng và không cần thiết cách ly bị cáo
ra khỏi đời sống xã hội mà xử bị cáo mức án phạt tiền cũng đủ tác dụng giáo dục
thành công dân có ích cho xã hội.
[4.3] Đối với bị cáo Văn K: Mặc bị cáo đã bị xử phạt hành chính về
hành vi “dùng nhà do mình quản để chứa chấp việc đánh bạc” vào ngày
29/11/2022 nhưng bị cáo vẫn tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới
hình thức cá cược đá với bị cáo Nguyễn Văn T vào ngày 01/4/2023. Như vậy,
hành vi đánh bạc dưới 5.000.000 đồng của bị cáo Văn K vẫn còn trong thời
11
hạn bị coi “đã bị xử phạt vi phạm hành chính” theo quy định của pháp luật.
Hành vi của Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc’ theo quy định tại
khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo thành
khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Văn K phạm tội lần đầu và thuộc trường
hợp ít nghiêm trọng. Nên cần áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo
có nơi cư trú rõ ràng và không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà
xử bị cáo mức án phạt tiền cũng đủ tác dụng giáo dục thành công dân ích cho
xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo đã bị áp dụng hình phạt chính
phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại điểm
c khoản 2 Điều 33 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm
2017.
[6] Đối với những người tham gia đánh bạc các đối tượng khác trong vụ
án:
[6.1] Đối với Phan Văn C3, Hoàng P, Trần Khánh D, Văn N1 đều
thực hiện hành vi đánh bạc với số tiền đánh bạc dưới mức xử lý trách nhiệm hình
sự; mặt khác các đối tượng C3, P, D, N1 đều chưa có tiền án, tiền sự; hành vi của
những người trên chưa đ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an
huyện M đã ra Quyết định xử hành chính về hành vi đánh bạc đối với C3, P,
D, N1 là có căn cứ.
[6.2] Đối với Nguyễn Tấn L, Văn A, Nguyễn Minh C2, Nguyễn Văn D1,
Ngọc V, Nguyễn Văn L1, Trịnh Công Đ những người mặt tại hiện trường.
Qua điều tra xác định, những người trên không thực hiện hành vi đánh bạc, tổ
chức đánh bạc nên chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
[6.3] Đối với Phạm Văn H người đứng tên chủ sở hữu quyền sử dụng đất
nhà gắn liên trên đất, giao quyền quản điểm xổ phía trước sân nhà cho
bị cáo Phạm Mật . H không biết việc đánh bạc, tổ chức đánh bạc tại điểm xổ
của bị cáo M nên chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với H là
căn cứ.
[6.4] Đối với những người chưa xác định được nhân thân, lai lịch tên trong
tịch gồm H1, T6, H2, T7, C2, H, H3, V1, H4, T8 giài, T9, quan CSĐT Công
an huyện M sẽ tiến hành điều tra, xử lý sau là có căn cứ.
[6.5] Đối với Hoàng Phát hiện tại không mặt tại địa phương, nên cần truy
thu số tiền đánh bạc của P là có căn cứ.
12
[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được
sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con màu đen chiều dài 7,95cm và 01
(một) cây bút bi mực màu xanh công cụ thực hiện hành vi đánh bạc 01
(một) cây bút bi có mực màu xanh dùng vào việc tổ chức đánh bạc;
- Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 5.500.000 đồng (năm triệu
năm trăm nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Văn T dùng vào việc đánh bạc
- Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 3.400.000 đồng (ba triệu bốn
trămnghìn đồng) của các đối tượng Trần Khánh D, Văn N1, Phan Văn C3
dùng vào việc đánh bạc
-Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 700.000 đồng (bảy trăm
nghìn đồng) của bị cáo Lê Văn K dùng vào việc đánh bạc
- Buộc bị cáo Phạm M nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 900.000 đồng
(chín trăm nghìn đồng) dùng vào việc đánh bạc
- Buộc Võ Hoàng P nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 400.000 đồng (bốn
trăm nghìn đồng) mà P dùng vào việc đánh bạc
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn T nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền còn lại
dùng vào việc đánh bạc là 17.900.000 đồng (mười bảy triệu chín trảm trăm nghìn
đồng)
[8] Về án phí: Căn ckhoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2015 điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH
14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Nguyễn
Văn T, Phạm M Lê Văn K mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình
sự sơ thẩm.
[9] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức phù hợp với
nhận định của Hội đồng xét xử.
[10] Các bị cáo người quyền lợi, nghĩa vliên quan quyền kháng
cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổi sung năm 2017.
13
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu
đồng)
2/ Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51,
Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổi sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Phạm M phạm tội “Gá bạc”
Xử phạt bị cáo Phạm M số tiền 60.000.000đồng (Sáu mươi triệu đồng)
3/ Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật
hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổi sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội “Đánh bạc”
Xử phạt bị cáo Lê Văn K số tiền 20.000.000đồng (hai mươi triệu đồng)
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự được sửa đổi, bổ
sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 (một) con màu đen chiều dài 7,95cm 01 (một) cây bút bi
mực màu xanh là công cụ thực hiện hành vi đánh bạc;
+ 01 (một) cây bút bi mực màu xanh bỏ trong thư được niêm phong,
trên giấy niêm phong con dấu của quan cảnh sát điều tra Công an huyện
M, chữ họ tên của Nguyễn Đình T10, Nguyễn Bùi Anh D2, Nguyễn Văn
T, Nguyễn Tấn C4
- Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 5.500.000 đồng (năm triệu
năm trăm nghìn đồng) của bị cáo Nguyễn Văn T dùng vào việc đánh bạc
- Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 3.400.000 đồng (ba triệu bốn
trămnghìn đồng) của các đối tượng Trần Khánh D, Văn N1, Phan n C3
dùng vào việc đánh bạc
-Tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 700.000 đồng (bảy trăm
nghìn đồng) của bị cáo Lê Văn K dùng vào việc đánh bạc
Theo biên bản giao giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 24 tháng 10
năm 2023 giữa Công an huyện M Chi cục thi hành án dân sự huyện Mộ Đức,
tỉnh Quảng Ngãi
- Buộc bị cáo Phạm M nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 900.000 đồng
(chín trăm nghìn đồng) dùng vào việc đánh bạc
14
- Buộc Võ Hoàng P nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền 400.000 đồng (bốn
trăm nghìn đồng) mà P dùng vào việc đánh bạc
- Buộc bị cáo Nguyễn Văn T nộp vào Ngân sách nhà nước số tiền còn lại
dùng vào việc đánh bạc là 17.900.000 đồng (mười bảy triệu chín trảm trăm nghìn
đồng)
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2015 điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết s326/UBTVQH 14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn
T, Phạm M và Văn K mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn
đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Phạm M, Văn K
quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Những người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo
quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án
dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân squyền thỏa
thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 9 Luật thi hành án dân
sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành
án dân sự.
Nơi nhận: TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Quảng Ngãi; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- Sở tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND huyện Mộ Đức;
- Cơ quan CSĐT công an huyện Mộ Đức;
- Cơ quan THAHS công an huyện Mộ Đức; Trần Thanh Sang
- Chi cục THADS huyện Mộ Đức;
- Bị cáo;
- Người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu văn phòng.
15
Tải về
Bản án số 26/2023/HS-ST Bản án số 26/2023/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất