Bản án số 26/2021/HNGĐ-ST ngày 08/02/2021 của TAND tỉnh Hải Dương về ly hôn và con chung
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 26/2021/HNGĐ-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 26/2021/HNGĐ-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 26/2021/HNGĐ-ST ngày 08/02/2021 của TAND tỉnh Hải Dương về ly hôn và con chung |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Hải Dương |
| Số hiệu: | 26/2021/HNGĐ-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 08/02/2021 |
| Lĩnh vực: | Hôn nhân gia đình |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Nguyễn Văn Tráng - Nguyễn Thị Nga |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 26/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 08/02/2021
V/v: “Ly hôn và con chung”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Khánh Thiện.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bích Liên.
Ông Nguyễn Văn Khóa
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn – Thư ký TAND tỉnh Hải
Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 02 năm 2021 tại trụ sở TAND tỉnh Hải Dương xét xử sơ
thẩm công khai
vụ án thụ lý số 221/2020/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm
2020 về việc ly hôn và nuôi con chung. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
20/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2021 và Quyết định hoãn
phiên tòa số 19/2021/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2021 giữa các đương
sự:
- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1989.
Địa chỉ: thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương.
- Bị đơn: Chị Phạm Thị Ng, sinh năm 1993.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương.
Địa chỉ hiện nay: Đài Loan.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Y, sinh năm 1973.
Địa chỉ: thôn K, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương.
(anh Tr và bà Y có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Ng vắng mặt không lý
do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại biên bản lấy lời khai anh Nguyễn
2
Văn Tr trình bày:
Anh với
chị Ng kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại
UBND xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương vào ngày 02 tháng 01 năm 2012. Hai vợ
chồng chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian. Năm 2015 do hoàn
cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên chị Ng đã đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan
giữa hai vợ chồng vẫn hòa thuận đến năm 2018 thì hai vợ chồng phát sinh mâu
thuẫn do tính cách hai vợ chồng không hợp nhau và bất đồng về kinh tế và cách
nuôi dạy con cái. Từ thời điểm đó đến nay giữa anh và chị Ng không còn liên
lạc qua lại với nhau nữa, không ai còn quan tâm tới cuộc sống của nhau khiến
tình cảm vợ chồng xa cách, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng càng mâu thuẫn trầm
trọng. Nay anh xác định cuộc sống giữa anh và chị Ng không có hạnh phúc, đã
từ lâu không ai quan tâm đến ai vì cả hai không còn tình cảm với nhau. Do vậy,
anh nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án nhân dân
tỉnh Hải Dương giải quyết cho anh ly hôn chị Ng để sớm ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Thị Ánh L, sinh
ngày 05/11/2012. Hiện nay cháu Ánh L đang ở với ông bà ngoại. Khi ly hôn chị
Ng có nguyện vọng được nuôi con chung và ủy quyền cho mẹ chị Ng là bà Lê
Thị Y thay mặt chị Ng nuôi dưỡng cháu Ánh L trong thời gian chị Ng ở nước
ngoài anh hoàn toàn đồng ý. Anh Tr tự nguyện cấp dưỡng tiền nuôi con chung là
1.500.000 đồng/1 tháng cho đến khi cháu Ánh L đủ 18 tuổi.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với gia đình hai bên: Anh
xác định không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Theo thông tin do Cục Quản lý xuất nhập cảnh cung cấp tại Công văn số
22315/QLXNC-P5 ngày 01/12/2020 thể hiện: chị Phạm Thị Ng, sinh ngày
05/7/1993 tại Hải Dương, CMND số 142681443, khai địa chỉ: H, N, Hải
Dương; đã sử dụng hộ chiếu số C0050730 cấp ngày 05/02/2015, có giá trị đến
05/02/2025; có thông tin xuất nhập cảnh nhiều lần, lần cuối xuất cảnh ngày
31/8/2018 qua cửa khẩu quốc tế Nội Bài, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Tr không cung cấp được địa chỉ của chị
Ng tại Đài Loan. Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã lấy lời khai của bà Lê Thị
Y là mẹ của chị Phạm Thị Ng, bà Y xác nhận chị Ng vẫn thỉnh thoảng liên lạc
về nhà. Tòa án yêu cầu bà Y cung cấp địa chỉ của chị Ng ở Đài Loan và yêu cầu
chị Ng gửi văn bản trình bày ý kiến, quan điểm của mình đối với yêu cầu xin ly
hôn của anh Tr nhưng bà Y không cung cấp được địa chỉ của chị Ng, chị Ng
cũng không có văn bản gửi về. Tòa án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng cho
bà Y đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp
3
luật. Sau khi nhận các văn bản tố tụng của Tòa án bà Y xác định đã thông tin
cho chị Ng biết, chị Ng có quan điểm nhất trí ly hôn với anh Tr và nhất trí nhận
nuôi con chung là Nguyễn Thị Ánh L, sinh ngày 05/11/2012 . Trong thời gian
chị Ng ở nước ngoài thì chị ủy quyền cho mẹ chị là bà Lê Thị Y thay mặt chị
nuôi dưỡng và chăm sóc con chung. Bà Y đồng ý nhận sự ủy quyền của chị Nga
để nuôi dưỡng chăm sóc cháu Ánh L, về tài sản chị Ng không yêu cầu tòa án
giải quyết.
Đại diện VKSND tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
* Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử.
- Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm nghiên cứu hồ sơ chuẩn bị tham gia
phiên tòa, Thẩm phán cơ bản đã chấp hành đúng quy định của BLTTDS về việc
thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ,cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho đương
sự và gửi đầy đủ các văn bản tố tụng, hồ sơ để Viện kiểm sát nghiên cứu theo
quy định của BLTTDS. Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo theo quy định của
pháp luật.
* Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa.
- Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của
BLTTDS về phiên tòa sơ thẩm.
* Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong
quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị
án.
- Người tham gia tố tụng cơ bản thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố
tụng dân sự năm 2015.
* Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho
thấy mâu thuẫn của anh Tr và chị Ng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không
đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho
anh Tr được ly hôn chị Ng; về con chung: giao cháu Nguyễn Thị Ánh L, sinh
ngày 05/11/2012 cho chị Ng chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của
anh Tr về việc cấp dưỡng tiền nuôi con chung là 1.500.000đ/1 tháng kể từ tháng
2/2021.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem
xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận
định:
[1].Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Tr không cung cấp
được địa chỉ của chị Ng lao động tại Đài Loan. Theo hướng dẫn công văn
4
253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án hai lần
yêu cầu gia đình chị Ng cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được,
đồng thời Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp
luật. Do đó Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.
Anh Tr và bà Y có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị Ng vắng mặt lần thứ
hai. Do vậy căn cứ khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Tr, bà Y và
chị Ng.
[2]. Về Quan hệ hôn nhân:
Anh Tr và chị Ng được tự do tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày
02/01/2012 tại UBND xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương nên được công nhận là
hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một
thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai bên tính tình không hợp
dẫn đến từ lâu anh chị đã sống ly thân không còn quan tâm đến nhau. Nay anh Tr
xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh
được ly hôn chị Ng. Về phía chị Ng cũng đã được gia đình cho biết Tòa án đang
giải quyết ly hôn theo đơn xin ly hôn của anh Tr. Chị Ng cũng có quan điểm
đồng ý ly hôn. HĐXX xét thấy đời sống chung giữa anh Tr và chị Ng không có,
mục đích hôn nhân của hai người không đạt được nay anh chị mỗi người một
nơi, khoảng cách về địa lý càng khiến anh chị không thể cải thiện được cuộc
sống vợ chồng nên cần giải quyết cho anh Tráng được ly hôn chị Ng theo quy
định tại Điều 56 Luật HNGĐ là phù hợp tình hình thực tế.
[3]. Về con chung: Anh Tr và chị Ng có 01 con chung là Nguyễn Thị Ánh
L, sinh ngày 05/11/2012. Hiện nay cháu đang ở với mẹ chị Ng là bà Lê Thị Y.
Chị Ng có nguyện vọng nuôi con chung sau khi ly hôn và ủy quyền cho bà Y
trong thời gian chị Ng ở nước ngoài thay mặt nuôi dương chăm sóc Ánh L, chị
Ng yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung theo quy định của
pháp luật. Bà Y đồng ý với sự ủy quyền của chị Ng. Anh Tr đồng ý với việc để
con chung cho chị Ng nuôi dưỡng và chăm sóc và tự nguyện cấp dưỡng tiền
nuôi con chung là 1.500.000đ/1 tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Việc tự
nguyện cấp dưỡng nuôi con chung của anh Tr là phù hợp với quy định của pháp
luật. Do vậy HĐXX chấp nhận yêu cầu của các đương sự về việc giao con
chung cho chị Ng nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện của anh Tr về việc cấp
dưỡng tiền nuôi con chung 1.500.000đ/1 tháng cho đến khi con chung đủ 18 là
phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82 và 83 - Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh Tr không đề nghị nên HĐXX
5
không xem xét giải quyết.
[4]. Về án phí: Anh Tr phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân và gia đình sơ
thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các §iÒu 56, 81, 82, 83 LuËt H«n nh©n vµ gia ®×nh; điểm c
khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228;
Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 17 Luật
phí và lệ phí số 97 năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ vợ chồng: Xử cho anh Nguyễn Văn Tr được ly hôn chị
Phạm Thị Ng.
2. Về con chung: Giao con Nguyễn Thị Ánh L, sinh ngày 05/11/2012 cho
chị Phạm Thị Ng nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh Nguyễn Văn Tr có nghĩa vụ cấp
dưỡng cho con chung hàng tháng với mức cấp dưỡng là 1.500.000đ (một triệu
năm trăm ngàn)/1 tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 2/2021 đến khi con
chung đủ 18 tuổi.
Anh Tr được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được
cản trở quyền này.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn thi
hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền
chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền
được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự
năm 2015
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, Thời hiệu thi hành
án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hánh án dân sự./.
3. Chấp nhận ủy quyền của chị Ng cho bà Y: Tạm giao cháu Nguyễn Thị
Ánh L, sinh ngày 05/11/2012 cho bà Lê Thị Y chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi chị
Ng về Việt Nam.
4. Về án phí: Anh Nguyễn Văn Tr phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân
và gia đình sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con được đối trừ số
tiền 300.000đ anh Tráng đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số

6
AA/2018/0004782 ngày 18/11/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải
Dương. Anh Tr còn phải thi hành 300.000đ.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được
bản án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể
từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
N¬i nhËn:
- VKSND tØnh H¶i D¬ng;
- Côc thi hµnh ¸n DS tØnh H¶i D¬ng;
- UBND xã H, huyện N, tỉnh Hải
Dương;
- C¸c ®¬ng sù;
- Lu hå s¬ vô ¸n.
TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ
Phạm Thị Khánh Thiện

7
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Nguyễn Văn Khóa Nguyễn Thị Bích Liên
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Khánh Thiện
N¬i nhËn:
- VKSND tØnh H¶i D¬ng;
- Côc thi hµnh ¸n d©n sù tØnh H¶i
D¬ng;
TM. Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ
8
- UBND phường Thất Hùng, thị xã
Kinh Môn, tỉnh Hải Dương;
- C¸c ®¬ng sù;
- Lu hå s¬ vô ¸n.
Phạm Thị Khánh Thiện
BÁO CÁO AN
XÉT XỬ NGÀY 21/7/2020
TP. Phạm Thị Khánh Thiện
- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Liên, sinh ngày 16/3/1990.
HKTT: Khu dân cư Khang Thọ, phường Chí Minh, thành phố Chí Linh, tỉnh Hải
Dương.
Chỗ ở hiện nay: Tổ 2, khu 6, phường Đại Yên, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Trường, sinh ngày 19/8/1981.
9
Nơi cư trú trước khi xuất cảnh: Khu dân cư Khang Thọ, phường Chí Minh, thành
phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
Địa chỉ hiện nay: Nhật Bản.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại biên bản lấy lời khai chị Hoàng
Thị Liên trình bày:
Chị với
anh Nguyễn Văn Trường kết hôn vào ngày 09 tháng 6 năm 2015.
Trước khi kết hôn anh chị được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND
phường Chí Minh, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn thì hai vợ
chồng chung sống với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên
nhân mâu thuẫn là do tính cách hai vợ chồng không hòa hợp dẫn đến hai vợ
chồng thường xuyên cãi vã và bất đồng quan điểm sống với nhau. Hiện nay anh
Trường đi Nhật Bản làm ăn rất ít khi liên lạc về gia đình khiến tình cảm vợ
chồng xa cách, dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng càng mâu thuẫn trầm trọng. Nay
chị xác định cuộc sống giữa chị và anh Trường không có hạnh phúc, đã từ lâu
không ai quan tâm đến ai vì cả hai không còn tình cảm với nhau. Do vậy, chị
nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh
Hải Dương giải quyết cho chị ly hôn anh Trường để sớm ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Nguyễn Thị Hà Vy, sinh
ngày 12/01/2012. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cháu Vy. Công
việc của chị hiện nay là buôn bán mỹ phẩm với mức thu nhập 07 triệu/tháng đủ
điều kiện để nuôi cháu Vy. Vì hiện nay anh Trường không ở Việt Nam nên chỉ
có chị mới đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Vy. Chị tự
nguyện không yêu cầu anh Trường cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp với gia đình hai bên: Chị
xác định không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, chị Liên không cung cấp được địa chỉ của anh
Nguyễn Văn Trường tại Nhật Bản. Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã lấy lời
khai của ông Nguyễn Văn Thịnh và bà Nguyễn Thị Dung là bố mẹ của anh
Nguyễn Văn Trường, ông Thịnh, bà Dung xác nhận anh Trường vẫn thỉnh
thoảng liên lạc về nhà. Tòa án yêu cầu ông Thịnh, bà Dung cung cấp địa chỉ của
anh Trường ở Nhật Bản và yêu cầu anh Trường gửi văn bản trình bày ý kiến,
quan điểm của mình đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Liên, nhưng ông Thịnh,
bà Dung không cung cấp được địa chỉ của anh Trường, anh Trường cũng không
có văn bản gửi về. Tòa án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng cho ông Thịnh,
10
bà Dung, đồng thời tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của
pháp luật. Sau khi nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, ông Thịnh, bà Dung xác
định đã thông tin cho anh Trường biết, anh Trường có quan điểm nhất trí ly hôn
với chị Liên và nhất trí giao con cho chị Liên nuôi, về tài sản không yêu cầu tòa
án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem
xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương nhận
định:
[1].Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Liên không cung cấp
được địa chỉ của anh Trường lao động tại Nhật Bản. Theo hướng dẫn công văn
253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án hai lần
yêu cầu gia đình anh Trường cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp
được, đồng thời Tòa án cũng đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của
pháp luật. Nên áp dụng công văn 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa
án nhân dân Tối cao, Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.
Chị Liên có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Trường vắng mặt lần thứ
hai. Do vậy căn cứ khoản 1 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Liên và anh
Trường.
[2]. Về Quan hệ hôn nhân:
Chị Hoàng Thị Liên và anh Nguyễn Văn Trường được tự do tìm hiểu, có
đăng ký kết hôn ngày 09/6/2015 tại UBND xã Chí Minh, thị xã Chí Linh, tỉnh
Hải Dương (Nay là phường Chí Minh, thành phố Chí Linh) nên được công
nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc
được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình hai bên
không hợp dẫn đến từ lâu anh chị đã sống ly thân không còn quan tâm đến nhau.
Nay chị Liên xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn anh
Trường. Về phía anh Trường cũng đã được gia đình cho biết Tòa án đang giải
quyết ly hôn theo đơn xin ly hôn của chị Liên. Anh Trường cũng có quan điểm
đồng ý ly hôn. HĐXX xét thấy đời sống chung giữa chị Liên và anh Trường
không có, mục đích hôn nhân của hai người không đạt được nay anh chị mỗi
người một nơi, khoảng cách về địa lý càng khiến anh chị không thể cải thiện
được cuộc sống vợ chồng nên cần giải quyết cho chị Liên được ly hôn anh
Trường theo quy định tại Điều 56 Luật HNGĐ là phù hợp tình hình thực tế.
[3]. Về con chung: Chị Liên và anh Trường có 01 con chung là Nguyễn Thị
11
Hà Vy, sinh ngày 12/01/2012. Do cháu Vy còn nhỏ cần có sự chăm sóc của
người mẹ. Bản thân chị Liên tuy là lao động tự do nhưng thu nhập ổn định đủ
đảm bảo nuôi con; anh Trường không ở Việt Nam nên không thể chăm sóc con.
Do vậy HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị Liên về việc giao con chung cho chị
Liên nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện của chị Liên không yêu cầu anh
Trường cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82
và 83 - Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về tài sản chung, công nợ chung: chị Liên không đề nghị nên HĐXX
không xem xét giải quyết.
[4]. Về án phí: Chị Hoàng Thị Liên phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân
và gia đình sơ thẩm.
QUAN ĐIỂM CỦA THẨM PHÁN
Căn cứ vào các §iÒu 56, 81, 82, 83 LuËt H«n nh©n vµ gia ®×nh; điểm c
khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, 3 Điều 228;
Điều 238; Điều 271; Điều 273; Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 17 Luật
phí và lệ phí số 97 năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-
2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Hoàng Thị Liên được ly hôn anh
Nguyễn Văn Trường.
2. Về con chung: Giao con Nguyễn Thị Hà Vy, sinh ngày 12/01/2012 cho
chị Hoàng Thị Liên nuôi dưỡng, chăm sóc. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Liên
không yêu cầu anh Trường cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh Trường được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai
được cản trở quyền này.
3. Về án phí: Chị Hoàng Thị Liên phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân
và gia đình sơ thẩm, đối trừ số tiền 300.000đ chị Liên đã nộp tạm ứng theo
biên lai thu số 0002773 ngày 02/7/2020 của Cục THADS tỉnh Hải Dương. Chị
Liên đã nộp đủ.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết
bản án.
12
13
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 25/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 21/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 19/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm