Bản án số 26/2021/HNGĐ-ST ngày 04/03/2021 của TAND TP. Dĩ An, tỉnh Bình Dương về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 26/2021/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 26/2021/HNGĐ-ST ngày 04/03/2021 của TAND TP. Dĩ An, tỉnh Bình Dương về tranh chấp ly hôn, nuôi con
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Dĩ An (TAND tỉnh Bình Dương)
Số hiệu: 26/2021/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/03/2021
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 26/2021/HNGĐ-ST
Ngày 04/03/2021
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
CỘNG A XÃ HỘI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tdo - Hạnh phúc
————————————
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thu Vân;
2. Ông Từ Anh Tuấn.
- Thư phiên tòa: Ông Phạm Anh Ly - Thư Tòa án nhân dân thành
phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân
thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Ngọc Vương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 3 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ
An, tỉnh Bình Dương xét xử thẩm công khai ván thụ số 796/2020/TLST-
HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết
định đưa vụ án ra xét xử số 17/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm
2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ch Lê Th Tuyết N, sinh năm 1984; thưng t: Ấp 3, Tân
Lộc, huyn Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long; tạm trú: S273 Nguyn Đức Thiệu, khu phố
Thống Nht 2, phường D, tnh phD1, tnh nh ơng, có đơn yêu cầu gii quyết
vng mt.
- Bị đơn: Anh Trần Xuân T, sinh năm 1977; tng trú: Đức Lý, huyn
Lý Nn, tỉnh Hà Nam; tạm trú: tổ 17, khu phĐông Tnh, png T, thành ph
D1, tnh Bình ơng, vng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Chị Lê Th Tuyết N đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, theo đơn khởi
kiện ngày 16 tháng 9 năm 2020 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án chị N
trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị Tuyết N và anh Trần Xuân T sau thời
gian tìm hiểu nhau thì tự nguyện tiến tới hôn nhân năm 2007, có đăng ký kết hôn
tại Ủy ban nhân dân Tân Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 09
2
tháng 3 năm 2007, Giấy chứng nhận kết hôn số 08/2007, quyển số 01. Sau khi kết
hôn hai vợ chồng về sống chung tại s 273 Nguyn Đc Thiệu, khu phThống Nhất
2, png Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Thời gian đầu sau khi kết hôn hai vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng
được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng
quan điểm trong lối sống sinh hoạt, anh T không quan tâm đến gia đình nên
cuộc sống gia đình trở nên căng thẳng.
Nay chN xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn
với anh Trần Xuân T.
Về con chung: Qúa trình chung sống vợ chồng 01 con chung tên Trần
Xn T1 sinh ngày 30/12/2006. Sau khi ly n chN yêu cầu được trc tiếp nuôi
dưỡng con chung không yêu cầu anh Trần Xn T thực hin nghĩa vụ cấp dưỡng
nuôi con.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu Toà
án giải quyết.
- Quá trình tố tụng, bị đơn anh Trần Xuân T đã được Tòa án tống đạt hợp
lệ thông o thụ các tài liệu chứng ckèm theo đơn khởi kiện do nguyên
đơn cung cấp yêu cầu anh Trần Xuân T ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện
của chThTuyết N nhưng anh Trần Xuân T không có ý kiến gì. Trong quá
trình giải quyết vụ án bị đơn anh Trần Xuân T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để
tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ hòa
giải vào ngày 17/11/2020 nhưng anh T vắng mặt không có lý do; đồng thời cũng
không ý kiến không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc đồng
ý hay không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của chị N.
- Ngày 11/6/2011 Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, nguyên nhân mâu
thuẫn vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung giữa chị Thị Tuyết N anh
Trần Xuân T tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường T và được cung cấp như sau: Chị
Thị Tuyết N không phải hội viên hội phụ nphường. Trước khi khởi kiện
ly hôn tại Tòa án, chị N không có yêu cầu địa phương tổ chức hòa giải cơ sở. Hội
Liên hiệp phụ nữ phường T cũng không tiếp nhận thông tin cung cấp từ đại diện
khu phố cũng như người dân phản ảnh. Vì vậy, Hội Liên hiệp phụ nữ phường T
không nguyên nhân mâu thuẫn vấn đchăm sóc nuôi dạy con chung giữa
chị Lê Thị Tuyết N và anh Trần Xuân T. Đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định
của pháp luật để giải quyết vụ án theo quy định.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An: Quá trình
giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng pháp luật về
tố tụng dân sự, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được
triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không do. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật
Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là đúng
quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại
phiên tòa, ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về điều kiện thụ lý vụ án: Chị Lê Thị Tuyết N khởi kiện yêu cầu được
ly hôn, nuôi con với anh Trần Xuân T. Anh T trú tại tổ 17, khu phĐông Thành,
phường n Đông Hiệp, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình ơng, nên đây là vụ án tranh
chấp ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành
phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương được quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều
35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Vviệc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn ch Th Tuyết N
đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Anh Trần Xuân T là bị đơn đã được Tòa án
triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa ngày 04/03/2021 nhưng vắng
mặt không có do nên căn cứ theo Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa
án xét xử vắng mặt chị Lê Thị Tuyết N và anh Trần Xuân T.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Tuyết N và anh Trần Xuân T kết hôn
trên sở tự nguyện, đăng kết hôn vào ngày 09 tháng 3 năm 2007 tại Ủy
ban nhân dân Tân Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, Giấy chứng nhận kết
hôn số 08/2007, quyển số 01, nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp. Thời gian đầu
sau khi kết hôn tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Nay chị N yêu cầu được
ly hôn với anh T với do quá trình chung sống anh T và chị không tìm được
tiếng nói chung, vợ chồng thường xuyên cãi nhau do bất đồng về quan điểm sống,
lối sống. Hai vợ chồng anh chị đã sống ly thân với nhau từ năm 2010 đến nay. Về
phía anh Trần Xuân T, sau khi Tòa án thụ vụ án đã triệu tập anh T đến tham gia
phiên hòa giải để hàn gắn tình cảm vchồng nhưng anh không có mặt cũng
không bất kỳ ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn, điều này chứng tỏ mâu
thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị N
yêu cầu ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định của Điều 56 Luật hôn nhân và
gia đình nên cần chấp nhận yêu cầu được ly hôn của chị Lê Thị Tuyết N.
[4] Về con chung: Chị Lê Thị Tuyết N nguyện vọng được trực tiếp nuôi
dưỡng con chung tên Trần Xuân T1 sinh ngày 30/12/2006. Xét thấy, quá trình t
tụng tại Tòa án, anh Trần Xuân T vắng mặt không văn bản nào thể hiện ý
chí mong muốn được nuôi con chung, để bảo đảm quyền lợi của phụ nữ con
khi ly hôn việc giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng phợp với quy
định của Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, đồng thời cũng phù hợp với nguyện
vọng của cháu T1. Vì vậy, có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của chị N về việc được
trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án chị Thị
Tuyết N tự nguyện không yêu cầu anh Trần Xuân T phải thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng nuôi con. Xét đề nghị của chị N là hoàn toàn tự nguyện cần được ghi nhận.
4
[6] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu
Toà án giải quyết.
[7] Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn và ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành ph
Dĩ An về việc giải quyết vụ án.
[8] Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn: Chị Lê Thị Tuyết N phải chịu án phí
theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4
Điều 147, các Điều 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,
miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị Tuyết N được ly hôn với anh Trần
Xuân T (Giấy chứng nhận kết hôn số 08/2007, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân
Tân Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long cấp ngày 09 tháng 3 năm 2007).
2. Về con chung: Chị Lê Thị Tuyết N được trực tiếp nuôi dưỡng con chung
Trần Xuân T1 sinh ngày 30/12/2006. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Lê Thị Tuyết
N không yêu cầu anh Trần Xuân T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, chị Thị Tuyết N anh Trần Xuân T quyền thăm
nom, chăm sóc, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền
này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án
có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng.
3. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Đương sự không yêu cầu
nên Tòa án không xem xét giải quyết.
4. Về án phí dân sự thẩm: Chị Thị Tuyết N phải chịu 300.000 (ba
trăm nghìn) đồng án phí ly hôn được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp
theo biên lai thu tiền số 0048639 ngày 07/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân
sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống
đạt hợp lệ./.
5
Nơi nhận:
- Các đương sự (2);
- VKSND thành phố Dĩ An (1);
- CC THADS thành phố Dĩ An (1);
- TAND tỉnh Bình Dương (1);
- Lưu VT, hồ sơ vụ án (2);
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Hà
6
Tải về
Bản án số 26/2021/HNGĐ-ST Bản án số 26/2021/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất