Bản án số 26/2020/HS-ST ngày 11/06/2020 của TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh về tội trộm cắp tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 26/2020/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 26/2020/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 26/2020/HS-ST ngày 11/06/2020 của TAND Quận 6, TP. Hồ Chí Minh về tội trộm cắp tài sản |
|---|---|
| Tội danh: | 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND Quận 6 (TAND TP. Hồ Chí Minh) |
| Số hiệu: | 26/2020/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 11/06/2020 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 26/2020/HS-ST
Ngày: 11/6/2020
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thu Hà.
Ông Lâm Thuận Quang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thư Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân Quận
6, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị My Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố
Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
34/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 38/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị P (tên gọi khác: Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị H); Sinh năm:
1963; Tại: Tỉnh Bến Tre; Thường trú: Không xác định; Nghề nghiệp: Không;
Trình độ văn hóa: 1/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc
tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T1 (chết) và bà: Nguyễn Thị N (chết); Có
chồng: Là ông Huỳnh Quang Đ (chết) và con: Có 01 người con sinh năm 1983;
Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam ngày 15/10/2019.
Tiền án: Ngày 31/5/2016, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí
Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản» (Bản án số:
116/2016/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/6/2018 (Giấy chứng
nhận chấp hành xong án phạt tù số: 786/GCN của Trại giam Thủ Đức). Chưa thi
hành xong hình phạt bổ sung (Công văn trả lời xác minh số: 381/CCTHADS
ngày 19/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí
Minh).
Nhân thân:
- Ngày 21/10/1986, bị Công an Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh bắt về hành
vi trộm cắp tài sản của công dân (Thông báo trả lời xác minh số: 308/TB-CQCSĐT-
ĐTTH ngày 10/12/2019 của Công an Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh).
1
- Ngày 28/6/1993, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02
năm tù về tội «Trộm cắp tài sản của công dân» (Bản án số: 535). Bị cáo kháng cáo
và ngày 20/10/1993, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối Cao tại Thành phố Hồ Chí
Minh xử giữ nguyên bản án sơ thẩm (Bản án số: 1088/HSPT). Chấp hành xong hình
phạt tù ngày 12/9/1994 (Giấy ra trại số: 2058/GRT của Trại giam Thủ Đức). Được
miễn chấp hành hình phạt bổ sung (Quyết định số: 135/2007/QĐ-MTHA-ST ngày
31/7/2007 của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Ngày 29/8/1997, bị Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh
xử phạt 20 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản của công dân» (Bản án số: 197/HS-
ST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/9/1998 (Giấy xác nhận chấp hành
xong hình phạt tù số: 1140/GCN của Trại giam Thủ Đức).
- Ngày 16/3/1999, bị Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ
Chí Minh xử phạt 03 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản của công dân» (Bản án số:
102/HS).
- Ngày 15/3/2002, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử
phạt 03 năm tù về tội «Trộm cắp tài sản» (Bản án số: 28/HSST). Chấp hành xong
hình phạt tù ngày 29/10/2004 (Giấy xác nhận chấp hành xong hình phạt tù số:
552/2004/GCN của Trại giam An Phước).
- Ngày 25/9/2006, bị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xử
phạt 04 năm tù về tội «Trộm cắp tài sản» (Bản án số: 287/2006/HSST). Chấp
hành xong hình phạt tù ngày 03/02/2010 và đã thi hành xong phần án phí ngày
25/6/2008 (Giấy xác nhận số: 16/TGXL-HS ngày 07/8/2010 của Trại giam Xuân
Lộc và Công văn trả lời xác minh số: 474/CCTHADS ngày 16/12/2019 của Chi
cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Ngày 10/8/2010, bị Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử
phạt 02 năm tù về tội «Trộm cắp tài sản» (Bản án số: 116/2010/HSST). Đã thi
hành xong phần án phí ngày 15/9/2011 (Công văn trả lời xác minh số:
04/CCTHADS ngày 17/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình
Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Ngày 15/12/2010, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí
Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản». Tổng hợp với hình
phạt 02 năm tù của Bản án số: 116/2010/HSST ngày 10/8/2010 của Tòa án nhân
dân Quận 6, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03 năm 06
tháng tù (Bản án số: 292/2010/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày
25/4/2013 và đã thi hành xong phần án phí (Giấy xác nhận số: 108/TGTĐ (GD-
HS ngày 20/01/2016 của Trại giam Thủ Đức và Công văn trả lời xác minh số:
1280/CCTHADS ngày 13/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân
Bình, Thành phố Hồ Chí Minh).
(có mặt)
- Bị hại:
Bà Bạch Thị Thùy L; Sinh năm: 1975; Trú tại: E7 180A ấp E, xã PP, huyện
BC, Thành phố Hồ Chí Minh.
2
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 15/10/2019, bà Bạch Thị Thùy L đến cửa
hàng số 155 đường Chu Văn An, Phường 2, Quận 6 mua khẩu trang và vớ về
bán. Sau khi mua xong, bà L gói hàng trong túi nylon màu đen và treo ở móc bên
trái xe Dream của bà. Sau đó, bà L đẩy xe qua cửa hàng số 131 đường Chu Văn
An tiếp tục mua đồ. Lúc này, Nguyễn Thị P đi bộ đến thấy có túi nylon màu đen
treo trên xe mà không có người trông coi liền lấy rồi nhanh chóng tẩu thoát đến
trước nhà số 156 đường Chu Văn An thì bị Công an Phường 2, Quận 6 trên
đường tuần tra phát hiện bắt giữ.
Tại Công an Phường 2, Quận 6 cũng như tại Cơ quan điều tra Công an
Quận 6, Nguyễn Thị P đều khai nhận thực hiện hành vi nêu trên.
Bị hại và người làm chứng khai cũng tương tự.
Tại Văn bản số: 800/TCKH ngày 18 tháng 10 năm 2019 và Bản Kết luận
định giá tài sản số: 21/KL-HĐĐGTS ngày 24 tháng 3 năm 2020, Hội đồng định
giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 6 đã kết luận trị giá của 60 cái khẩu trang
vải loại đơn và 10 đôi vớ chân bằng vải thun tại thời điểm ngày 15/10/2019 tổng
cộng là 335.000 (ba trăm ba mươi lăm ngàn) đồng. Cụ thể:
+ 30 khẩu trang loại đơn chất liệu vải cotton nhiều màu sắc, không nhãn
hiệu, có giá là: 150.000 đồng.
+ 10 khẩu trang loại đơn vải cotton họa tiết sọc caro nhiều màu sắc, không
nhãn hiệu, có giá là: 45.000 đồng.
+ 10 khẩu trang loại đơn vải cotton họa tiết in hoa nhiều màu sắc, nhãn
hiệu Bình An, có giá là: 50.000 đồng.
+ 10 khẩu trang loại đơn vải cotton họa tiết in 3D nhiều màu sắc, nhãn hiệu
Bình An, có giá là: 50.000 đồng.
+ 10 đôi vớ chân bằng vải thun nhiều màu sắc, không nhãn hiệu, có giá là:
40.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 28/CT-VKS ngày 27 tháng 5 năm 2020, Viện kiểm sát
nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị P về tội
«Trộm cắp tài sản» theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015
được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị P khai nhận chính bị cáo đã thực hiện hành
vi lấy trộm 01 túi nylon màu đen bên trong có 60 cái khẩu trang vải các loại và 10
đôi vớ chân bằng vải được treo ở móc bên trái xe gắn máy tại trước cửa hàng số
131 đường Chu Văn An, Phường 2, Quận 6 vào trưa ngày 15/10/2019 và bị bắt quả
tang như nội dung bản cáo trạng nêu.
3
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố bị
cáo Nguyễn Thị P như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành
vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Phạt bị cáo Nguyễn Thị P từ 01 năm đến 02 năm tù về tội «Trộm cắp tài
sản» theo điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật
hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Không phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có khả năng thi hành.
Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Bạch Thị Thùy L không yêu cầu, nên không
đề nghị giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã xử lý xong, nên không đề nghị xử
lý.
Lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Thị P nhận thức được hành vi của bị cáo
là sai, là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án nhẹ
nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6,
Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều
tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật
tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người
nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến
hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối chiếu lời khai của bị cáo Nguyễn Thị P tại phiên tòa là phù hợp với
Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; lời khai
của bị hại Bạch Thị Thùy L và của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng
những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở
kết luận bị cáo Nguyễn Thị P với ý định phạm tội có từ trước, đã lén lút chiếm
đoạt của bà L 30 khẩu trang loại đơn chất liệu vải cotton nhiều màu sắc (không
nhãn hiệu) trị giá 150.000 đồng; 10 khẩu trang loại đơn vải cotton họa tiết sọc
caro nhiều màu sắc (không nhãn hiệu) trị giá 45.000 đồng; 10 khẩu trang loại đơn
vải cotton họa tiết in hoa nhiều màu sắc (nhãn hiệu Bình An) trị giá 50.000 đồng;
10 khẩu trang loại đơn vải cotton họa tiết in 3D nhiều màu sắc (nhãn hiệu Bình
An) trị giá 50.000 đồng; 10 đôi vớ chân bằng vải thun nhiều màu sắc (không
nhãn hiệu) trị giá 40.000 đồng (tổng trị giá tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là
335.000 đồng) tại trước cửa hàng số 131 đường Chu Văn An, Phường 2, Quận 6
vào trưa ngày 15/10/2019. Tuy trị giá tài sản mà bị cáo chiếm đoạt dưới
2.000.000 đồng, nhưng bị cáo đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản (ngày
4
31/5/2016, bị Tòa án nhân dân Quận 5 xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội «Trộm
cắp tài sản»), chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Do vậy, Viện kiểm sát nhân
dân Quận 6 truy tố bị cáo về tội: «Trộm cắp tài sản» thuộc trường hợp quy định
tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung
năm 2017, là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị P không những đã xâm phạm đến tài sản
của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình
an ninh, trật tự ở địa phương.
Bị cáo Nguyễn Thị P là người đã trưởng thành, hoàn toàn có đủ khả năng
nhận thức được hành vi cũng như hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra, nhưng do
tham lam, lười lao động, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo đã bất chấp pháp
luật, cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm
hình sự về hành vi phạm tội của mình.
[3] Bản thân bị cáo Nguyễn Thị P còn có nhân thân rất xấu, đó là ngày
21/10/1986, bị Công an Quận 3 bắt về hành vi trộm cắp tài sản của công dân;
ngày 28/6/1993, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù
về tội «Trộm cắp tài sản của công dân», bị cáo kháng cáo và ngày 20/10/1993,
Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối Cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử giữ
nguyên bản án sơ thẩm; ngày 29/8/1997, bị Tòa án nhân dân Quận 10 xử phạt 20
tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản của công dân»; ngày 16/3/1999, bị Tòa án nhân
dân quận Bình Thạnh xử phạt 03 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản của công
dân»; ngày 15/3/2002, bị Tòa án nhân dân Quận 5 xử phạt 03 năm tù về tội
«Trộm cắp tài sản»; ngày 25/9/2006, bị Tòa án nhân dân Quận 1 xử phạt 04 năm
tù về tội «Trộm cắp tài sản»; ngày 10/8/2010, bị Tòa án nhân dân Quận 6 xử phạt
02 năm tù về tội «Trộm cắp tài sản»; ngày 15/12/2010, bị Tòa án nhân dân quận
Tân Bình xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản». Tổng hợp với
hình phạt 02 năm tù của Bản án số: 116/2010/HSST ngày 10/8/2010 của Tòa án
nhân dân Quận 6, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03
năm 06 tháng tù. Mặc dù lần phạm tội này bị cáo đã được đương nhiên xóa án
tích thì coi như chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, nhưng điều
này cũng cho thấy tuy đã được cải tạo, giáo dục quá nhiều lần, bị cáo vẫn không
chịu rèn luyện, tu dưỡng để trở thành người công dân có ích cho xã hội mà ngược
lại vẫn tiếp tục sống buông thả để ngày càng lún sâu vào con đường phạm tội hết
lần này đến lần khác.
[4] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị P tuy
thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn
thành, việc bị phát hiện và thu giữ lại tài sản là hoàn toàn ngoài ý muốn của bị
cáo, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương
xứng mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và để phòng ngừa chung. Tuy
nhiên, xét bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn (tài sản có giá trị thấp và
đã được thu hồi trả bị hại); tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái
độ thành khẩn khai báo, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình
5
phạt cho bị cáo khi lượng hình theo quy định tại điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51
của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật
hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, thì bị cáo Nguyễn Thị P còn
có thể bị phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Xét bị cáo không có khả
năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền
đối với bị cáo.
[6] Việc bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa, bà Bạch Thị Thùy L vắng mặt,
nhưng tại Cơ quan điều tra bà L không có ý kiến hay yêu cầu gì về phần bồi
thường (theo Biên bản ghi lời khai ngày 21/10/2019 của Công an Quận 6 -
BL43), do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[7] Việc xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu hồi 60 khẩu trang vải
loại đơn các loại và 10 đôi vớ chân bằng vải trả lại bà Bạch Thị Thùy L (theo hai
Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 15/10/2019 và ngày 10/01/2020 3
BL50, 131), do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[8] Bị cáo Nguyễn Thị P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại
Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí
Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị P (Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị H) phạm tội:
«Trộm cắp tài sản».
- Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51 và
Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị P (Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị H) 02 (hai)
năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2019.
- Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội.
Bị cáo Nguyễn Thị P phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình
sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành
án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7
và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
6
- Bị cáo Nguyễn Thị P có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm)
ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại Bạch Thị Thùy L vắng mặt tại phiên tòa
có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt
hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- VKSND Quận 6; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- Công an Quận 6;
- TAND Tp. Hồ Chí Minh;
- Công an Tp. Hồ Chí Minh;
- Chi cục THADS Quận 6;
- Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
- Bị cáo;
- Bị hại.
Nguyễn Thị Thùy Liên
7
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng