Bản án số 26/2020/HS-PT ngày 13/02/2020 của TAND TP. Đà Nẵng về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 26/2020/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 26/2020/HS-PT ngày 13/02/2020 của TAND TP. Đà Nẵng về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tội danh: 139.Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Đà Nẵng
Số hiệu: 26/2020/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 13/02/2020
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 26/2020/HS-PT
Ngày 13-02-2020
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Long
Các Thẩm phán: Ông i Trọng Danh
Bà Dương Thị Hổng Minh
- Thư phiên t: Lại Thị Thanh Huyn - Thư Toà án nhân dân
thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Hữu Đãi Em - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ số 210/2019/TLPT-HS ngày 30
tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo Lê Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản
án hình sự thẩm số 142/2019/HS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân quận
Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
Bị cáo kháng cáo: Văn T - sinh ngày 14 tháng 3 năm 1997 tại thành
phố Đà Nẵng. Nơi trú: Số 383 đường C, tổ 67 phường H, quận L, thành phố Đà
Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Văn C (s)
Phm Th T (s); chung sống như vợ chng vi H Th Vân A 01 con sinh
năm 2019; Tin án, tin sự: Chưa; B o ti ngoi, có mt ti phiên tòa.
NI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h ván và din biến tại phn a, ni dung v án
đưc tóm tắt n sau:
Đầu tháng 01/2019, Văn T nảy sinh ý định thực hiện hành vi lừa đảo đ
kiếm tiền tiêu xài nhân. T sử dụng tài khoản Facebook “Nguyễn Thị Phương T
mà T sẵn từ trước chỉnh sửa lại trang cá nhân của tài khoản này với thông tin:
“Nguyễn Thị Phương T, hồ vay tiền online của Ngân hàng Nội” để cho
2
người khác tin tưởng là T cho vay tiền. Sau đó, T dùng điện thoại iphone 6plus
đăng nhập vào tài khoản Facebook này, đăng lên các nhóm vay tiền online với nội
dung: “Hỗ trợ cho vay tiền, không thế chấp, thủ tục đơn giản, giải ngân nhanh”.
Ngày 05/01/2019, T nhận được sự tương tác từ tài khoản Facebook có tên “Sai Em”.
T tài khoản Facebook này đã nhắn tin qua ứng dụng Messenger của Facebook để
trao đổi về mức vay, lãi suất, hình thức thanh toán và chi phí làm hồ sơ. Qúa trình
trao đổi, người sử dụng tài khoản Facebook “Sai Em” đồng ý vay của T số tiền
70.000.000 đồng trong thời hạn 60 tháng, mỗi tháng trả góp 1.854.000 đồng chi
phí làm hồ sơ online là 2.000.000 đồng. T yêu cầu người sử dụng tài khoản
Facebook trên gửi hình chụp chứng minh nhân dân shộ khẩu đlấy thông tin
làm hồ sơ vay. Lúc này, T mới biết người sử dụng tài khoản Facebook “Sai Em”
chị “Trần Thị Kim C (sn: 1991; trú tại K64/61 đường N, Phường A, Quận B, Thành
phố. Hồ Chí Minh). T có mở một tài khoản tại Ngân hàng BIDV Chi nhánh Hải Vân
nhưng tài khoản này đã bị khoá. Do đó, T đã hỏi mượn Nguyễn Văn C (sn: 1998, trú
tại M, huyện T, tỉnh Quảng Bình, người thuê trọ tại gia đình T) một tài khoản
ngân hàng thì C đồng ý cho T mượn thATM mật khẩu thẻ ATM của C mở tại
Ngân hàng Vietinbank Chi nhánh Đà Nẵng (số tài khoản: 109868995296, mang tên
Nguyễn Văn C). T không nói cho C biết mục đích của việc ợn thẻ trên để làm gì.
Sau đó, T đã gửi thông tin tài khoản ngân hàng trên qua cho chị để yêu cầu chị C
chuyển khoản số tiền 2.000.000 đồng cho T. Ngày 06/01/2019, chị C sử dụng dịch
vụ Internet Banking của tài khoản ngân hàng số: 0071001020135 của C ăng kí tại
ngân hàng Vietcombank) để chuyển số tiền 2.000.000 đồng qua tài khoản trên
gửi hình ảnh giao dịch chuyển tiền qua cho T. Đồng thời, T gửi cho chị C tin nhắn
thông báo hồ sơ vay tiền của C đã được duyệt, để được nhận tiền thì chị C phải
chuyển tiếp cho T số tiền: 4.000.000 đồng là tiền phí bảo hiểm số tiền này sẽ
được trả lại cho chị C khi hồ vay tiền được giải ngân. tin tưởng nên chC đã
chuyển thêm số tiền: 4.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng trên cho T. Sau khi
nhận được tiền, T tiếp tục đưa ra lý do hồ sơ vay tiền của C là hồ sơ chui, bị cấp trên
gây khó dnên yêu cầu chị C phải chuyển thêm số tiền: 4.000.000 đồng để được
vay tiền nhanh. Chị C không đồng ý và yêu cầu T hoàn trả lại số tiền chi phí ban đầu
C đã chuyển là: 6.000.000 đồng. Nhưng T đã trả lời rằng hồ của C đã được
duyệt trên hệ thống nên không thể rút tiền lại được. Do cần tiền vay nên ngày
07/01/2019, chị C đã chuyển thêm cho T số tiền 4.000.000 đồng qua tài khoản ngân
hàng mà T đã cung cấp trên. Nhận thấy chị C dễ bị lừa, T tiếp tục yêu cầu C chuyển
thêm số tiền: 5.000.000 đồng để làm hồ sơ nhanh chóng và dễ dàng hơn. Trong ngày
07/01/2019, chị C tiếp tục chuyển thêm cho T số tiền: 5.000.000 đồng. Đến lúc này,
T đưa ra yêu cầu cuối cùng C phải chuyển thêm số tiền là 10.000.000 đồng thì hồ
3
sơ vay của C sẽ được giải ngân ngay. Chị C đồng ý và chuyển tiếp số tiền:
10.000.000 đồng qua số tài khoản trên cho T. Tổng cộng chị C đã chuyển khoản cho
T số tiền là: 25.000.000 đồng qua số tài khoản: 109868995296 (Chủ tài khoản
Nguyễn Văn C). Số tiền này được T trực tiếp rút tiền mặt bằng thẻ tại trụ ATM
(trước Đại học S Đà Nẵng) để tiêu xài vào mc đích cá nhân.
Qúa trình điều tra, Văn T đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bhại,
thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường
hợp ít nghiêm trọng.
Vật chứng tạm giữ:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6splus màu bạc số Imei:
355734070271973.
- 01 thẻ đa năng ATM ngân hàng Vietinbank mang tên Nguyễn Văn C.
- 01 áo sơ mi nam màu đen, tay dài của Nguyễn Văn T.
- Bảng sao kê tài khoản ngân hàng Vietcombank (tên tài khoản: Trần Thị Kim
C) thời gian từ ngày 01/11/2018 đến ngày 31/01/2019 được sao kê ngày 15/01/2019.
- 01 USB còn nguyên niêm phong do ngân hàng Vietinbank chi nhánh Đà
Nẵng cung cấp.
- Tài liệu từ ảnh chụp màn hình điện thoại di động được in ra khổ giấy A4 ghi
nhận quá trình trao đổi làm hồ sơ vay vốn giữa chị Trần Thị Kim C với đối tượng sử
dụng Facebook tên Nguyễn Thị Phương T.
Về dân sự: Người bị hại Trần Thị Kim C đã được bị can bồi thường số tiền bị
chiếm đoạt là 25.000.000 đồng, chị C không yêu cầu gì thêm.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 142/2019/HS-ST ngày 27/11/2019 của Tòa án
nhân dân quận Liên Chiểu đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g
khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bcáo Lê Văn T 12 (mười hai) tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt
tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Bản án thẩm còn quyết định về xử vật chứng, án pquyền kháng
cáo.
Ngày 03/12/2019, bị cáo Văn T đơn kháng cáo với nội dung: Án
thẩm xử nặng, xin được xem xét theo trình tự phúc thẩm, giảm nhẹ hình phạt và xin
được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà
Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
4
+ Về thủ tục: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Văn Tđảm bảo hợp lệ.
+ Về nội dung kháng cáo: Bản án hình sự thẩm số 142/2019/HS-ST ngày
27/11/2019 của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị
cáo T v ti Lừa đảo chiếm đot tài sn theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình s
có cơ sở và mức án mà Tòa cấp sơ thẩm đã quyết định 12 (mười hai) tháng tù là phù
hợp, bị cáo “phạm tội từ 2 lần trở lên” nên không thỏa mãn điều kiện được hưởng án
treo, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ
nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo Văn T vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, cho rằng không phạm tội
nhiều lần và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân, điều kiện hoàn cảnh gia
đình giảm nhẹ một phần hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung ván, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Văn T khai nhận hành vi phạm tội của
mình phợp với kết luận của Bản án sơ thẩm. Bằng thủ đoạn gian dối, sử dụng tài
khoản Facebook “Nguyễn Thị Phương T”, bị cáo đã đưa thông tin giả: “Nguyễn Thị
Phương T, hồ vay tiền online của Ngân hàng Nội” để cho người khác tin
tưởng T cho vay tiền. Sau khi kết nối được với tài khoản Facebook “Sai Em”
do chị Trần Thị Kim C sdụng; bị cáo đã hứa làm thủ tục cho chị C vay được số
tiền 70.000.000 đồng trong thời hạn 60 tháng, mỗi tháng trả góp 1.854.000 đồng
chi phí làm hồ online 2.000.000 đồng. Sau dó, tngày 06/01/2019 đến ngày
07/01/2019, bị cáo đã 5 lần yêu cầu chị C chuyển tổng cộng số tiền 25.000.000
đồng cho T thông qua tài khoản thẻ ATM số 109868995296 (Chủ tài khoản Nguyễn
Văn C mở tại Ngân hàng Vietinbank), trong đó: 01 lần chuyển số tiền 2.000.000
đồng, 2 lần chuyển số tiền 4.000.000 đồng, 1 lần chuyển số tiền 5.000.000 đồng
1 lần chuyển số tiền 10.000.000 đồng. Số tiền trên, T đã rút ra tiêu xài nhân
hết; sau khi vụ án bị phát hiện ngày 02/10/2019 bị cáo đã bồi thường lại số tiền trên
cho chị C. Với hành vi trên, Lê Văn T đã bị Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu kết án
về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự có căn
cứ, đúng pháp luật.
[2]. Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo nhiều lần
đưa ra thông tin gian dối để 5 lần chiếm đoạt tiền của chị C, lần ít nhất 2.000.000
đồng, lần nhiều nhất 10.000.000 đồng; mỗi lần thực hiện hành vi chiếm đoạt đều
cấu thành hành vi lừa đảo theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
5
vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo “phạm tội từ 2 lần trở lên” theo quy định tại
điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là chính xác.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, xâm
phạm đến quyền sở hữu vtài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, khung
hình phạt bị truy tố, xét xử mức án từ cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc
phạt tù từ 06 tháng đến 3 năm. Bị cáo phạm tội nhiều lần nên Tòa án cấp sơ thẩm xử
phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn là đúng pháp luật, cần thiết; tuy nhiên, xét bị cáo
có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự; lần đầu bị xét xử về tội phạm ít nghiêm
trọng; quá trình tố tụng bị cáo đã thành khẩn khai báo, tự nguyện bồi thường toàn b
thiệt hại cho bị hại thể hiện sự ăn năn hối cải cho hành vi và việc làm của mình; bản
thân bcáo mới hoàn thành nghĩa vụ quân sự vào năm 2018; hoàn cảnh khó khăn
hiện đang chung sống như vợ chồng với chị Hồ Thị Vân A 01 con nhỏ sinh
năm 2019 nên Hội đồng xét xử chấp nhận 1 phần kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ
hình phạt cho bị cáo; riêng đề nghị xin được hưởng án treo Hội đồng xét xử không
chấp nhận do bị cáo không thỏa mãn điều kiện cho hưởng án treo theo quy định của
pháp luật.
[3]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4]. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp
luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật
Tố tụng Hình sự: Chấp nhận kháng cáo một phần kháng cáo của bị cáo Văn T,
sửa Bản án sơ thẩm, giảm hình phạt cho bị cáo.
2. Căn cứ điểm khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm
g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Văn T 06 (sáu) tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam thi hành án.
3.Về án phí: Bị cáo Lê Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
6
Nơi nhận:
- VKSND thành phố Đà Nẵng;
- Vụ giám đốc kiểm tra 1;
- VKSND quận Liên Chiểu;
- Công an quận Liên Chiểu;
- PV27; PC81 Công an TP. Đà Nẵng;
- TAND quận Liên Chiểu;
- THA DS quận Liên Chiểu;
- Sở Tư pháp TPĐN;
- TB kết quả xét xử;
- Bị cáo;
- Lưu: HS; HCTP.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
(đã ký và đóng dấu)
Trần Minh Long
Tải về
Bản án số 26/2020/HS-PT Bản án số 26/2020/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất