Bản án số 25/2023/HS-ST ngày 21/09/2023 của TAND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 25/2023/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 25/2023/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 25/2023/HS-ST ngày 21/09/2023 của TAND huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Mộ Đức (TAND tỉnh Quảng Ngãi) |
| Số hiệu: | 25/2023/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 21/09/2023 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Nguyễn Thanh T phạm tội đánh bạc |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘ ĐỨC
TỈNH QUẢNG NGÃI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 25/2023/HS-ST
Ngày: 21-9-2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘ ĐỨC, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Sang
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Thanh Sơn;
2. Ông Trần Văn Kiệm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nguyễn Trọng Thành, là Thư ký Tòa án
nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thanh– Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Mộ Đức, tỉnh
Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm
thụ lý số:
19/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 19/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh T, sinh ngày 01 tháng 11 năm 1958, tại tỉnh Quảng Ngãi;
Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
Nghề nghiệp: Nông; Trình độ văn hoá (học vấn): 5/12; Dân tộc: Kinh; giới
tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn K (chết);
Con bà: Trần Thị N (chết); Vợ: Lê Thị Tuyết N1, sinh năm 1963; Con: có 03 con,
lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/6/2023 cho
đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Ông Trần Công T1, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện M,
tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
+ Ông Nguyễn T2, sinh năm 1974. Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện M,
tỉnh Quảng Ngãi.
+ Ông Bùi Văn D, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện M,
tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 17/3/2023, ông Bùi Văn D đã gọi điện
thoại rủ ông Nguyễn T2, ông Trần Công T1 và bị cáo Nguyễn Thanh T đến nhà
của ông D tại thôn P, xã Đ để chơi và đánh bài. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì
các ông Nguyễn T2, Trần Công T1 và bị cáo Nguyễn Thanh T đều có mặt tại nhà
của ông D và thống nhất đánh bạc dưới hình thức đánh bài phỏm ăn thua bằng
tiền.
Trong bài phỏm được quy định: Phỏm là bộ gồm 3 (ba) quân bài trở lên có
cùng chất (cùng nước cơ hoặc rô hoặc chuồn hoặc bích) và số liên tiếp nhau hoặc
bộ 3 (ba) quân bài khác chất trở lên nhưng cùng số. Bài rác là những lá bài lẻ
không thuộc phỏm nào. Cháy là khi kết thúc ván bài mà người chơi không có
phỏm nào. Ù tròn là khi tất cả các lá bài của người chơi đều tạo thành phỏm và
không còn lá bài rác nào; Ù thường là khi các lá bài của người chơi đều tạo thành
phỏm và còn dư 1 (một) lá bài rác. Ăn gà là khi người chơi ăn (lấy) lá bài của
người chơi kế trước mình đánh ra để tạo thành phỏm. Ăn chốt hạ là ăn gà ở lượt
đánh cuối.
Bài phỏm là sử dụng bộ bài tây loại bài 52 (năm mươi hai) chia lần lượt
cho các người chơi, người được đánh đầu tiên sẽ được chia 10 (mười) lá bài,
những người còn lại mỗi người được chia 09 (chín) lá bài. Số bài dư còn lại trong
bộ bài sẽ được đặt dưới sòng bài. Bắt đầu ván chơi thì người đánh đầu tiên sẽ
đánh ra 01 (một) lá bài xuống sòng, người ngồi kế tiếp sẽ ăn (lấy) lá bài đó nếu lá
bài đó hợp với các lá bài đang có tạo thành phỏm và đánh ra 01 (một) lá bài khác
xuống sòng. Ngược lại, nếu không ăn được lá bài đó thì sẽ bốc 01 (một) lá bài
trong số bài dư đang đặt dưới sòng và cũng đánh ra 01 (một) lá bài bất kỳ xuống
sòng. Cứ tiếp tục như vậy cho đến hết vòng. Ván bài sẽ kết thúc nếu có một
người ù, nếu không có ai ù thì sau 04 (bốn) lượt ván bài sẽ kết thúc. Sau khi kết
thúc ván bài, ai có tổng điểm của các lá bài rác ít nhất được tính là người về nhất
thắng ván bài đó, những người còn lại được tính lần lượt về nhì, ba và tư Số điểm
của mỗi lá bài được tính là số trên lá bài đó, riêng lá bài A tính là 01 (một), J tính
là 11 (mười một), Q tính là 12 (mười hai), K tính là 13 (mười ba). Trong trường
hợp điểm bằng nhau thì người nào hạ bài trước được tính thắng người hạ bài sau.
Người nào bị cháy sẽ bị tính về út, người bị cháy hạ bài trước được tính thắng
người cháy hạ bài sau.
Khi bắt đầu chơi, các đối tượng Bùi Văn D, Nguyễn T2, Trần Công T1 và
bị cáo Nguyễn Thanh T thống nhất tiền thắng thua sau mỗi ván bài cụ thể: Người
nào về nhất sẽ thắng số tiền 120.000đ (một trăm hai mươi nghìn đồng) do những
người còn lại chung theo lần lượt, người về nhì chung 20.000đ (hai mươi nghìn
đồng), người về ba chung 40.000đ (bốn mươi nghìn đồng), người về tư chung
60.000đ (sáu mươi nghìn đồng). Bị ăn gà đầu thì chung 20.000đ (hai mươi nghìn
đồng), gà thứ hai chung 40.000đ (bốn mươi nghìn đồng), gà thứ ba (hay còn gọi
là chốt hạ) chung 80.000đ (tám mươi nghìn đồng). Người nào về ù tròn thì những
người còn lại phải chung mỗi người 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), nếu về ù
3
thường thì những người còn lại phải chung mỗi người 100.000đ (một trăm nghìn
đồng) cho người về ù đó. Mỗi ván chơi sẽ bói (lật) 01 (một) lá bài, nếu ai không
có lá bói thì thua 80.000đ (tám mươi nghìn đồng), nếu một người có bài tứ quý lá
bài bói thì 03 người còn lại mỗi người phải chung riêng lá bói là 160.000đ (một
trăm sáu mươi nghìn đồng). Sau mỗi ván bài nếu ai thắng về ù thường thì trích ra
20.000đ (hai mươi nghìn đồng), ù tròn trích ra 40.000đ (bốn mươi nghìn đồng)
đưa cho ông D để trả tiền mua bài và nước uống. Sau khi thống nhất xong thì các
đối tượng bắt đầu chơi. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an xã
Đức Phú phát hiện lập biên bản, tạm giữ trên sòng bài tổng số tiền 1.300.000đ
(một triệu ba trăm nghìn đồng) và 03 (ba) bộ bài tây (loại bài 52 lá); Tạm giữ
trên người các đối tượng tổng số tiền 30.460.000đ (Ba mươi triệu bốn trăm sáu
mươi nghìn đồng), 04 (bốn) điện thoại di động và tạm giữ tại hiện trường 01
(một) xe mô tô biển kiểm soát 76S7-2836, 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát
76G1-022.35. Cụ thể:
Tạm giữ trên người của bị cáo Nguyễn Thanh T số tiền 24.450.000đ (hai
mươi bốn triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) và 01 (một) điện thoại di động
hiệu Samsung.
Tạm giữ trên người của ông Nguyễn T2 số tiền 3.930.000đ (ba triệu chín
trăm ba mươi nghìn đồng), 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia.
Tạm giữ trên người của ông Trần Công T2 số tiền 1.800.000đ (Một triệu
tám trăm nghìn đồng), 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung.
Tạm giữ trên người của ông Bùi Văn D số tiền 280.000đ (hai trăm tám
mươi nghìn đồng), 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung.
* Quá trình điều tra xác định số tiền thu trên sòng bài và số tiền mang theo,
sử dụng để đánh bạc của mỗi người tham gia đánh bạc như sau:
- Số tiền tạm giữ trên sòng bài tổng cộng 1.300.000đ (một triệu ba trăm
nghìn đồng). Trong đó: của bị cáo Nguyễn Thanh T là 120.000đ (một trăm hai
mươi nghìn đồng), của ông Nguyễn T1 là 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) của
ông Trần Công T1 là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) của ông Bùi Văn D là
180.000đ (một trăm tám mươi nghìn đồng). Đây là số tiền các đối tượng dùng để
đánh bạc đang để trước mặt dưới sòng bài.
- Bị cáo Nguyễn Thanh T khai nhận trước khi tham gia đánh bạc mang
theo trên người tổng số tiền là 24.810.000đ (hai mươi bốn triệu tám trăm mười
nghìn đồng). Khi tham gia đánh bạc chỉ dùng số tiền 1.810.000đ (một triệu tám
trăm mười nghìn đồng) để đánh bạc, còn số tiền 23.000.000đ (hai mươi ba triệu
đồng) để trong ví bọc trong túi quần không dùng để đánh bạc. Đến khi Công an
xã Đ phát hiện tiến hành lập biên bản thì số tiền dùng để đánh bạc gồm 120.000đ
(một trăm hai mươi nghìn đồng) đang để dưới sòng bài, kiểm tra tạm giữ trên
người số tiền 1.450.000đ (một triệu bốn trăm năm mươi nghìn đồng) là số tiền
dùng để đánh bạc còn lại đang bọc trong túi áo và số tiền 23.000.000đ (hai mươi
ba triệu đồng) để trong ví bọc trong túi quần không dùng để đánh bạc.
- Ông Nguyễn T2 khai nhận trước khi tham gia đánh bạc mang theo trên
người tổng số tiền là 4.650.000đ (bốn triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng). Khi
tham gia đánh bạc chỉ lấy ra số tiền 720.000đ (bảy trăm hai mươi nghìn đồng) để
4
đánh bạc, còn số tiền 3.930.000đ (ba triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng) là tiền
dùng để mua bán không dùng để đánh bạc. Đến khi Công an xã Đ phát hiện tiến
hành lập biên bản thì tạm giữ số tiền 800.000đ (tám trăm nghìn đồng) là tiền
dùng để đánh bạc và thắng bạc có được đang để dưới sòng bài. Kiểm tra tạm giữ
trên người số tiền 3.930.000đ (ba triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng) để trong
ví bọc trong túi quần là tiền dùng để mua bán cá nhân không dùng để đánh bạc.
- Ông Trần Công T1 khai nhận trước khi tham gia đánh bạc mang theo trên
người tổng số tiền là 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng). Khi tham gia
đánh bạc thì dùng toàn bộ số tiền này để đánh bạc. Đến khi Công an xã Đ phát
hiện tiến hành lập biên bản thì tạm giữ số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) là
tiền thắng bạc có được đang để dưới sòng bài. Kiểm tra tạm giữ trên người số
tiền 1.800.000đ (một triệu tám trăm nghìn đồng) là tiền để dùng đánh bạc đang
bọc trong túi quần.
- Ông Bùi Văn D khai nhận trước khi tham gia đánh bạc mang theo trên
người tổng số tiền là 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) và dùng toàn bộ số tiền
này để đánh bạc. Đến khi Công an xã Đ phát hiện tiến hành lập biên bản thì tạm
giữ số tiền 180.000đ (một trăm tám mươi nghìn đồng) là tiền dùng để đánh bạc
đang để dưới sòng bài. Kiểm tra tạm giữ trên người số tiền 280.000đ (hai trăm
tám mươi nghìn đồng) là tiền để dùng đánh bạc còn lại đang bọc trong túi quần.
Như vậy, xác định tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 4.830.000
(bốn triệu tám trăm ba mươi nghìn đồng).
Quá trình điều tra xác định: Ngày 08/9/2022, bị cáo Nguyễn Thanh T đã bị
Công an xã Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép bằng
hình thức phạt tiền 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng) (đã chấp hành
nộp phạt ngày 08/9/2022), tính đến ngày 17/3/2023 thì vẫn còn trong thời hạn bị
coi là “đã bị xử phạt vi phạm hành chính”
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố
bị cáo Nguyễn Thanh T đã có thái độ khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội
của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo
từng tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự, làm nghĩa vụ quốc tế tại chiến trường
Campuchia và được nhận huy hiệu dũng sỹ giữ nước, huy hiệu Quyết Thắng.
Đây được xem là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại
điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại cáo trạng số 21/CT-VKS-MĐ, ngày 29 tháng 8 năm 2023, Viện kiểm
sát nhân dân huyện Mộ Đức truy tố: Nguyễn Thanh T về tội “Đánh bạc” quy
định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm
2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức vẫn giữ
nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn
Thanh T phạm tội “Đánh bạc”.
5
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 35
của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo
Nguyễn Tanh T từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện Mộ Đức đã tạm giữ:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tây (loại bài 52 lá) đã qua sử
dụng.
- Tịch thu, sung Ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo T và các đối tượng
dùng vào việc đánh bạc là 4.830.000đồng (bốn triệu tám trăm ba mươi ngìn
đồng).
- Đối với số tiền 23.000.000 đồng (hai mươi ba triệu đồng) tạm giữ trên
người của bị cáo Nguyễn Thanh T, quá trình điều tra không có căn cứ xác định
số tiền trên bị cáo dùng vào mục đích đánh bạc. Cơ quan CSĐT Công an huyện
Mộ Đức tiếp tục tạm giữ số tiền trên để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Đối với số tiền 3.930.000 đồng (ba triệu chín trăm ba mươi nghìn đồng)
tạm giữ trên người ông Nguyễn T2, quá trình điều tra không có căn cứ xác định
số tiền trên Nguyễn T2 dùng vào mục đích đánh bạc. Cơ quan CSĐT Công an
huyện Mộ Đức trả lại số tiền trên cho ông Nguyễn T2.
- Đối với các điện thoại di động đã tạm giữ của bị cáo T và các đối tượng
tham gia đánh bạc, quá trình điều tra xác định đây là các phương tiện không sử
dụng vào mục đích đánh bạc. Cơ quan CSĐT Công an huyện Mộ Đức trả lại các
điện thoại trên cho bị cáo Nguyễn Thanh T, ông Nguyễn T2, ông Trần Công T1
và ông Bùi Văn D.
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 76S7 – 2836, quá trình điều tra xác định xe
mô tô trên do bà Trần Thị Hạnh T3 là chị ruột của Trần Công T1 làm chủ sở hữu,
bà T3 đã cho ông Trần Công T1 mượn để đi lại trong sinh hoạt hàng ngày nên
khi đến nhà ông Bùi Văn D thì ông Trần Công T1 đã sử dụng để đi chứ không
dùng vào mục đích đánh bạc. Cơ quan CSĐT Công an huyện Mộ Đức trả lại xe
mô tô trên cho bà T3.
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 76G1-022.35, quá trình điều tra xác định xe
mô tô trên do ông Nguyễn T2 đứng tên đăng ký chủ xe làm chủ sở hữu, là
phương tiện để sử dụng đi lại trong sinh hoạt hàng ngày nên khi đến nhà ông Bùi
Văn D và tham gia đánh bạc ông Nguyễn T2 đã sử dụng xe mô tô trên để đi chứ
không dùng vào mục đích đánh bạc. Cơ quan CSĐT Công an huyện Mộ Đức trả
lại xe mô tô trên cho ông T2.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an
huyện Mộ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức, Kiểm sát
viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, đúng
6
trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và
tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc
khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến
hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án
là ông Nguyễn T2, ông Trần Công T1 và ông Bùi Văn D vắng mặt nhưng đã có
lời khai trong quá trình điều tra nên việc vắng mặt của những người này không
ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 292 của
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi
của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức đã truy tố.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo và những người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù
hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định: Vào
ngày 17/3/2023, tại nhà ông Bùi Văn D thuộc thôn P, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng
Ngãi, bị cáo Nguyễn Thanh T có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh
bài phỏm ăn thua bằng tiền cùng với ông Nguyễn T2, ông Trần Công T1, ông
Bùi Văn D với tổng số tiền đánh bạc được xác định là 4.830.000 (bốn triệu tám
trăm ba mươi nghìn đồng).
[4] Mặc dù số tiền đánh bạc của bị cáo Nguyễn Thanh T trong lần đánh
bạc trái phép vào ngày 17/3/2023 dưới 5.000.000đồng nhưng do bị cáo đã bị xử
phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép, chưa hết thời hạn để
được coi là chưa bị xử phạt nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc trái
phép. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộ Đức truy tố bị cáo Nguyễn
Thanh T về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự
năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[5] Hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T là nguy hiểm cho xã hội, xâm
phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội
tại địa phương. Khi thực hiện hành vi đánh bạc trái phép, bị cáo Nguyễn Thanh T
là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức
và điều khiển hành vi của mình, bị cáo biết hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm
pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo cần phải xử mức án
tương xứng với tình chất và hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, sau khi
phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và
thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự,
làm nghĩa vụ quốc tế tại chiến trường Campuchia và được nhận huy hiệu dũng sỹ
giữ nước. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và là người cao tuổi theo Luật người cao tuổi
nên không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xử bị cáo mức án cải tạo
không giam giữ cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung và khấu trừ thu nhập: Do bị cáo không có thu
nhập và là người cao tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung và được miễn
7
khấu trừ một phần thu nhập theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 32, khoản 3
Điều 36 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[7] Về xử lý vật chứng:
[7.1] Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bộ bài tây loại bài 52 lá, thu giữ trong lần
đánh bạc ngày 17/03/2023.
[7.2] Tịch thu, sung Ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo Tùng và các đối
tượng dùng vào việc đánh bạc là 4.830.000đồng; trong đó bị cáo Nguyễn Thanh
T 1.570.000 đồng (một triệu năm trăm bảy chục nghìn đồng); ông Nguyễn T2 số
tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng); ông Trần Công T1 số tiền 2.000.000
đồng (Hai triệu đồng); ông Bùi Văn D số tiền 460.000 đồng (bốn trăm sáu mươi
nghìn đồng).
[7.3] Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh T số tiền 23.000.000 đồng (hai
mươi ba triệu đồng), tạm giữ trên người của bị cáo Nguyễn Thanh T, quá trình
điều tra không có căn cứ xác định số tiền trên bị cáo T dùng vào mục đích đánh
bạc.
[7.4] Đối với các điện thoại di động, 01 xe mô tô biển kiểm soát 76S7 –
2836, 01 xe mô tô biển kiểm soát 76G1-022.35 tạm giữ của bị cáo Tùng và các
đối tượng tham gia đánh bạc, quá trình điều tra xác định đây không phải là các
phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an
huyện Mộ Đức trả lại cho chủ sỡ hữu là đúng quy định của pháp luật.
[8] Đối với các đối tượng tham gia trong vụ án:
[8.1] Quá trình điều tra xác định, ngày 25/02/2022, ông Nguyễn Trãi đã bị
Công an xã Đ xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng (một
triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi đánh bạc trái phép (đã chấp hành đóng
phạt ngày 28/02/2022); ngày 13/3/2015, ông Bùi Văn D đã bị Công an huyện Mộ
Đức xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)
về hành vi đánh bạc trái phép (đã chấp hành đóng phạt ngày 17/3/2015). Tính
đến ngày 17/3/2023 thì ông Nguyễn T2 và ông Bùi Văn D đã chấp hành xong các
quyết định xử phạt hành chính, đã hết thời hạn bị coi là “đã bị xử phạt vi phạm
hành chính” theo quy định của pháp luật. Đối với Trần Công T1 quá trình điều
tra xác định không có tiền án, tiền sự về hành vi được quy định tại Điều 321, 322
Bộ luật hình sự.
[8.2] Do đó, hành vi của các ông Nguyễn T2, ông Bùi Văn D, ông Trần
Công T1 tham gia đánh bạc ngày 17/3/2023 dưới hình thức đánh bài phỏm được,
thua bằng tiền với tổng số tiền đánh bạc được xác định là 4.830.000 (bốn triệu
tám trăm ba mươi nghìn đồng) là chưa đủ mức để truy cứu trách nhiệm hình sự
về tội đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự mà chỉ vi phạm
hành chính. Cơ quan CSĐT Công an huyện Mộ Đức đã chuyển cho Công an
huyện Mộ Đức đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các ông
Nguyễn T2, Bùi Văn D, Trần Công T1 về hành vi đánh bạc trái phép được quy
định tại điểm a khoản 2 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12

8
năm 2021 của Chính phủ Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an
ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa
cháy; phòng, chống bạo lực gia đình, bằng hình thức phạt tiền, mức tiền phạt mỗi
đối tượng là 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm nghìn đồng) là đúng quy định.
[9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thanh T là người cao tuổi và người có công
với cách mạng có đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm nên được xét
miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định cua pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan có quyền kháng cáo bản án này theo quy định tại các Điều 331, 333 của
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
[11] Về căn cứ truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân
huyện Mộ Đức tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Tuy
nhiên, bị cáo không có thu nhập, là người cao tuổi theo luật người cao tuổi, đang
nuôi con học đại học và sống phụ thuộc vào con cái. Nên đề nghị áp dụng hình
phạt tiền của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo sẽ gây khó khăn về tài chính
và cuộc sống của bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều
36 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo
không giam giữ.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi giám
sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian cải tạo không
giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ giám sát, giáo dục nhận
được bản án và quyết định thi hành án.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Thanh T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo
quy định tại khoản 3 Điều 100; Điều 68 Luật thi hành án hình sự năm 2019.
Trong thời gian chấp hành án, bị cáo Nguyễn Thanh T phải thực hiện một
số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và phải thực hiện những
nghĩa vụ quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015,
được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm
2015.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bộ bài tây (loại bài 52 lá) đã qua sử dụng
- Tịch thu, sung Ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo T và các đối tượng
dùng vào việc đánh bạc là 4.830.000đồng (bốn triệu tám trăm ba mươi nghìn
đồng); trong đó bị cáo Nguyễn Thanh T 1.570.000 đồng (một triệu năm trăm bảy
chục nghìn đồng); ông Nguyễn T2 số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng);
9
ông Trần Công T1 số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng); ông Bùi Văn D số
tiền 460.000 đồng (bốn trăm sáu mươi nghìn đồng).
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh T số tiền 23.000.000 đồng (hai mươi ba
triệu đồng) của bị cáo T không dùng vào mục đích đánh bạc.
Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/9/2023 giữa Cơ quan cảnh sát
điều tra- Công an huyện Mộ Đức và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộ Đức,
tỉnh Quảng Ngãi có kèm theo 01 giấy ủy nhiệm chi số tiền 27.830.000 đồng (hai
mươi bảy triệu tám trăm ba chục nghìn đồng), số 06, ngày 20/9/2023 của Công
an huyện Mộ Đức.
3. Về án phí: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 12, Điều 14, 15 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị
cáo Nguyễn Thanh T là người cao tuổi và người có công với cách mạng có đơn
đề nghị miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm nên được xét miễn nộp án phí hình
sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2015.
Bị cáo Nguyễn Thanh T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn
15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định
của pháp luật.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
- VKSND huyện Mộ Đức;
- CQCSĐT Công an huyện Mộ Đức;
- Cơ quan THAHS Công an huyện Mộ Đức;
- Phòng NVLT Công an huyện Mộ Đức;
- Chi Cục THADS huyện Mộ Đức;
- Bị cáo;
- Những người tham gia tố tụng khác;
- Lưu: Hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Trần Thanh Sang
10
11
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 22/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Bản án số 16/2026/KDTM-PT ngày 14/02/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 14/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm