Bản án số 25/2019/DS-ST ngày 05/11/2019 của TAND huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 25/2019/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 25/2019/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 25/2019/DS-ST ngày 05/11/2019 của TAND huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình về tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Quảng Trạch (TAND tỉnh Quảng Bình) |
| Số hiệu: | 25/2019/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 05/11/2019 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | ông Lê Văn H vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Tình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Xuân Lợi
2. Bà Đậu Thị Phú
- Thư ký phiên tòa: ông Trần Thanh Quang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Quảng Trạch
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân
huyện Quảng Trạch tham gia phiên toà:
Ông Phạm Văn Duẫn - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch
xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 20/2019/TLST-TCDS, ngày 03 tháng 5
năm 2019 về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 19/2019/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng C Việt Nam
Địa chỉ: Tòa nhà CC, khu bán đảo Linh Đ, phường Hoàng L, quận Hoàng
Mai, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: ông Dương Quyết Th – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Hồng Ph – Giám đốc phòng giao dịch
Ngân hàng C huyện Quảng Trạch (theo Quyết định ủy quyền số 1792/QĐ-NHCS
ngày 09/5/2015)
Người được ủy quyền tham gia tố tụng: bà Trần Thị Thu Ng – Chức vụ: Phó
Giám đốc Ngân hàng C huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. (Theo văn bản ủy
quyền số 63/QĐ-NHCS ngày 18/02/2019); địa chỉ: xã Quảng Phương, huyện Quảng
Trạch, tỉnh Quảng Bình.
2. Bị đơn: Ông Lê Văn H
Trú tại: thôn Tân Th, xã Cảnh H, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
Tại phiên tòa nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG TRẠCH
TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số 25/2019/TCDS-ST
Ngày: 05 - 11 – 2019
“V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện bản tự khai và tại phiên tòa của nguyên đơn Ngân hàng C
hội Việt Nam trình bày:
Vào ngày 10/02/2015 giữa Ngân hàng C Phòng giao dịch huyện Quảng Trạch
và ông Lê Văn H giao kết Hợp đồng tín dụng số 6600000703419156, Ngân hàng
cho ông Hậu vay số tiền 30.000.000 đồng, mục đích trồng rừng bạch đàn, lãi suất
0,72%/tháng, lãi quá hạn 130%, kỳ hạn trả nợ 12 tháng/lần, số tiền trả nợ 5.000.000
đồng/lần, lãi trả vào ngày 10 hàng tháng. Thời hạn cho vay 60 tháng, hạn trả cuối
cùng vào ngày 10/02/2020. Tuy nhiên, quá trình thực hiện Hợp đồng ông H đã
không thực hiện nghĩa vụ trả tiền lãi như đã cam kết. Phía ngân hàng đã nhiều lần
thông báo, làm việc yêu cầu ông H thanh toán tiền lãi đến hạn nhưng ông H vẫn
không thực hiện.
Ngoài ra, vào ngày 17/5/2016 ông Lê Văn H đã ký kết với Ngân hàng C
huyện Quảng Trạch Hợp đồng tín dụng số 6600000707374909 để vay số tiền
12.000.000 đồng, mục đích làm bể chứ nước và nhà vệ sinh, lãi suất 0,75%/tháng,
lãi quá hạn 130%, kỳ hạn trả nợ 6 tháng/lần, số tiền trả nợ 1.334.000 đồng/lần, lãi
trả vào ngày 17 hàng tháng. Thời hạn cho vay 60 tháng, hạn trả nợ cuối cùng vào
ngày 17/5/2021. Tuy nhiên, trong quá trình khởi kiện, ông H đã thực hiện trả tiền lãi
đầy đủ theo cam kết trong hợp đồng. Vì vậy tại phiên tòa, phía Ngân hàng đã rút
yêu cầu khởi kiện đối với khoản vay này.
Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Văn H phải có nghĩa vụ
thanh toán toàn bộ số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng số 6600000703419156,
10/02/2015. Tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày
05/11/2019) là 36.419.337 đồng, trong đó tiền nợ gốc 30.000.000 đồng, tiền nợ lãi
6.419.337 đồng và yêu cầu ông Hậu phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh kể từ
ngày tiếp theo ngày 05/11/2019 cho đến khi thanh toán xong tiền nợ, để thu hồi vốn
cho Nhà nước.
Tại biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải ngày 15/7/2019, bị đơn ông Lê
Văn H trình bày: ông thừa nhận giữa ông và Ngân hàng C huyện Quảng Trạch đã
ký kết Hợp đồng tín dụng vào ngày 10/02/2015 để vay số tiền 12.000.000 đồng, lãi
suất, kỳ hạn trả nợ như đại diện Ngân hàng đã trình bày. Quá trình vay ông vẫn thực
hiện nghĩa vụ trả nợ tiền lãi hàng tháng đầy đủ.
Riêng đối với khoản vay 30.000.000 đồng là do bà Cao Thị Ng đứng ra làm
hợp đồng, tự ký và nhận tiền, bản thân ông không biết.
3
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch phát biểu
ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến tại phiên tòa,
người tiến hành tố tụng đã tuân theo pháp luật tố tụng; Về việc giải quyết vụ án:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên
tòa, đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều
91, 94, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26 Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp
nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Lê Văn H phải trả nợ cho
Ngân hàng C Việt Nam số tiền gốc và lãi tính đến ngày 05/11/2019 là 36.419.337
đồng, theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết số 6600000703419156, 10/02/2015 và phải
tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày 06/11/2019 cho đến khi thanh toán
xong tiền nợ; buộc bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy
định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được
thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: bị đơn ông Lê Văn H có Hộ khẩu
thường trú tại xã Cảnh H, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Căn cứ điểm a
khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc
thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch.
Giữa Ngân hàng C Phòng giao dịch huyện Quảng Trạch với ông Lê Văn H đã
xác lập giao dịch dân sự bằng việc ký hợp đồng tín dụng đẻ vay vốn. Quá trình vay
vốn ông H không thực hiện nghĩa vụ trả tiền lãi hàng tháng cho Ngân hàng, đã vi
phạm hợp đồng, nên Ngân hàng khởi kiện tại Tòa án đòi số tiền nợ gốc và tiền lãi
phát sinh theo Hợp đồng tín dụng ký kết. Vì vậy, xác định đây là tranh chấp dân sự,
thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch theo khoản 3
Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập đến tham gia
phiên tòa cho ông Lê Văn H nhiều lần, nhưng ông H vẫn vắng mặt, điều này thể
hiện ông H không chấp hành pháp luật. Căn cứ vào các Điều 227 và 228 Bộ luật tố
tụng dân sự, HĐXX xét xử vắng mặt ông Lê Văn H.
[2] Về nội dung tranh chấp, yêu cầu của đương sự:
Theo yêu cầu khởi kiện, lời trình bày của các đương sự và tài liệu,
chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Giữa Ngân hàng C huyện Quảng Trạch
4
với ông Lê Văn H đã ký kết hai Hợp đồn tín dụng, theo đó Ngân hàng đã giải ngân
số tiền vay cho ông H theo hai Hợp đồng, với tổng số tiền là 42.000.000 đồng. Như
vậy, các hợp đồng tín dụng giữa hai bên có nội dụng và hình thức phù hợp với quy
định pháp luật, là hợp đồng hợp pháp nên có hiệu lực thi hành. Quá trình thực hiện
hợp đồng ông Lê Văn H đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền lãi hàng tháng cho Ngân hàng,
nên Ngân hàng đã khởi kiện để yêu cầu Tòa án buộc ông Hậu trả toàn bộ số tiền nợ
theo các Hợp đồng tín dụng đã ký kết.
Tuy nhiên tại phiên tòa, phía Ngân hàng đã rút một phần yêu cầu khởi kiện
về việc yêu cầu ông Lê Văn H trả nợ số tiền 12.000.000 đồng theo Hợp đồng tín
dụng số 6600000707374909, ngày 17/5/2016. Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu
khởi kiện của Ngân hàng là hoàn toàn tự nguyện, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều
244 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận và đình chỉ dối với phần yêu cầu mà ngân
hàng đã rút.
Xét ý kiến của ông Lê Văn H về việc ông cho rằng Hợp đồng tín dụng
6600000703419156, số tiền vay 30.000.000 đồng là do bà Cao Thị Ng tự làm ký hồ
sơ và nhận tiền. Quá trình hòa giải ông có đề nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
hòa giải (ngày 15/7/2019) bản thân ông sẽ tự đến Tòa án để yêu cầu tiến hành thủ
tục thẩm định chữ ký của ông trong hồ sơ vay vốn, nếu quá thời hạn trên mà ông
không đến yêu cầu thì xem như ông từ bỏ và đề nghị Tòa án căn cứ vào hồ sơ vay
vốn do phía ngân hàng cung cấp để giải quyết. Tuy nhiên quá thời hạn 15 ngày
nhưng ông H không có yêu cầu và cũng không có ý kiến gì, nên Tòa án đã đưa vụ
án ra xét xử. Ngày 29/10/2019, Tòa án tiếp tục xác minh về vấn đề trên, kết quả ông
H có ý kiến không yêu cầu Tòa án thẩm định chữ ký nữa và cũng không cung cấp
được các tài liệu chứng cứ nào.
Như vậy, theo các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thể hiện trong
quá trình thực hiện hợp đồng, bên vay ông Lê Văn H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ lãi
hàng tháng đối với Hợp đồng tín dụng số 6600000703419156, ngày 10/02/2015. Vì
vậy xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp quy
định của pháp luật. Căn cứ vào các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Điều 91, 94, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi
kiện của Ngân hàng C Việt Nam, buộc ông Lê Văn H phải có nghĩa vụ thanh toán
cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là 30.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày
05/11/2019 là 6.419.337 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (05/11/2019), ông Lê Văn H
còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo thỏa thuận trong Hợp đồng, nếu vi phạm
nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận thì phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền
5
nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng
cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.
Xét quan điểm, đề xuất của Kiểm sát viên tại phiên tòa về hướng giải quyết
vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, phù hợp với quy định của
pháp luật nên chấp nhận.
[3] Về án phí: Do yêu cầu của của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn
phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp
luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39,
Điều 147, Điều 227, 228; 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, 94, 95
Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ
Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Xét xử vắng mặt bị đơn ông Lê Văn H.
2. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C
Việt Nam về việc yêu cầu bị đơn ông Lê Văn H trả số tiền nợ gốc 12.000.000 đồng
theo Hợp đồng tín dụng số 6600000707374909, ngày 17/5/2016.
3. Buộc ông Lê Văn H phải trả cho Ngân hàng C Việt Nam số tiền theo hợp
đồng tín dụng số 6600000703419156, ngày 10/02/2015 là 36.419.337 đồng; trong
đó: tiền nợ gốc: 30.000.000đ, tiền nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (05/11/2019)
6.419.337 đồng.
“Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (05/11/2019), ông Lê Văn H
còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi theo thỏa thuận trong Hợp đồng, nếu vi phạm
nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận thì phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền
nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng
cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc”.
3. Về án phí: Buộc ông Lê Văn H phải chịu 1.820.966 đồng tiền án phí dân
sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi
6
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự”.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày
tuyên án sơ thẩm (ngày 05/11/2019) đối với người có mặt hoặc kể từ ngày bản án
được tống đạt hợp lệ đối với người vắng mặt.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- TAND tỉnh Quảng Bình; (Đã ký)
- VKSND huyện Quảng Trạch;
- Chi cục THADS huyện Quảng Trạch;
- Đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Phạm Hữu Tình
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 21/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 19/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 30/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 29/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 29/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 28/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 28/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 26/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 24/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 23/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 23/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 17/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 17/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 16/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 15/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 15/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 08/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 08/10/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm