Bản án số 24/2025/LĐ-ST ngày 23/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 24/2025/LĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 24/2025/LĐ-ST ngày 23/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu
Quan hệ pháp luật: Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai, tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 24/2025/LĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/12/2025
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị Ngọc D yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – ĐỒNG NAI
Bản án số: 24/2025/-ST
Ngày: 23/12/2025
V/v: Tranh chấp về việc tuyên
bố hợp đồng lao động vô hiệu”.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGA VIỆT NAM
Độc lập - T do - Hạnh pc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bùi Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Đinh Xuân Dậu Cán bộ hưu trí
+ Ông Xuân Tuất Nguyên Giám đốc Bảo hiểm hội huyện Trảng
Bom, tỉnh Đồng Nai
- Thư phiên tòa: Đặng Thị Thu Huyền Thư Tòa án nhân dân khu
vực 3 - Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai tham gia phiên
toà: Ông Cao Văn Bình Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 -
Đồng Nai xét xử thẩm ng khai vụ án thụ lý số 14/2025/TLST- ngày 08
tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp về việc tuyên bố hợp đồng lao động
hiệu theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST- ngày 25
tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:Trần Thị Ngọc D, sinh năm 1989;
Địa chỉ thường trú: ấp Q, xã QT, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (nay là xã
Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai).
Địa chỉ tạm trú: ấp TB, xã Bình Minh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (nay
đường 58, ấp TB, xã Bình Minh, tỉnh Đồng Nai).
- Bị đơn:Trần Ngọc Kim C, sinh năm 1992.
Đa ch: ấp TB, Bình Minh, huyện Trảng Bom (nay ấp TB, Bình
Minh), tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Công ty TNHH DN VN;
Địa chỉ: Khu công nghiệp SM, xã BS, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai (nay
là Khu công nghiệp SM, xã Bình Minh, tỉnh Đồng Nai).
2
Người đại diện theo pháp luật: Bà Trà Lam T1 Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Địa chỉ: Tổ 1, ấp 2, Bình Lợi, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai (nay tổ
1, ấp 2, phường Tân Triều, tỉnh Đồng Nai).
+ Bảo hiểm xã hi tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Minh T Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Đinh Thị Phương Hoa Chức vụ: Phó
trưởng phòng Tổ chức Hành chính (Theo Giấy ủy quyền số 21/GUQ-BHXH
ngày 23/10/2025).
Địa chỉ: đường Huy Gp, phường QT, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai
(nay là đường Hà Huy G, phường Trấn Biên, tỉnh Đồng Nai).
(Bà D, bà C, bà H và T1 đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Trần Thị Ngọc D trình bày:
Đầu tháng 02/2025, tiến hành mang s bo him hi mã s
7508011363 ti Bo him hi tỉnh Đồng Nai để np h sơ hưởng tr cp bo
him xã hi. Tuy nhiên, trong quá trình xét duyt và x lý h sơ thì phát hin b
trùng thời gian đóng bo him hi vi s bo him xã hi s 7508151861 làm
vic ti Công ty trách nhiệm hữu hạn DN VN t tháng 12/2007 đến tháng 02/2011.
Theo đó, ngoài quyển s bo him hi hin ti ca mang s s 7508011363
thì còn mt quyn s bo him xã hi khác mang s s 7508151861.
Về quyển sổ bảo hiểm xã hội số 7508151861, bà xin giải trình như sau: Bà và
Trần Ngọc Kim C là hai chị em, vào tháng 12/2007, do hoàn cảnh gia đình khó
khăn, bà C chưa đủ tuổi lao động nhưng muốn đi làm để hỗ trợ kinh tế gia đình
cùng trang trải cuộc sống. Do thiếu hiểu biết về pháp luật nên đã cho C
mượn các giấy tờ hồ nhân của gồm chứng minh nhân dân, yếu lịch
để đi làm và đóng bảo hiểm xã hội tại Công ty trách nhiệm hữu hạn DN VN từ
tháng 12/2007 đến tháng 02/2011 nhằm thêm thu nhập đỡ đần cuộc sống trước
mắt của gia đình và có đóng bảo hiểm xã hội.
Cùng thời điểm trên thì D cũng đã làm việc Công ty trách hiệm hữu hạn
Nam Yang SM từ tháng 07/2007 đến tháng 10/2007; làm việc tại tại Công ty trách
nhiệm hữu hạn Đông Phương Đồng Nai Việt Nam từ tháng 11/2007 đến tháng
02/2010; làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Moland từ tháng 7/2010 đến
tháng 06/2011 làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Đông Phương Đng Nai
Vit Nam từ tháng 05/2012 đến tháng 01/2024 đã được Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng
Nai cấp sổ bảo biểm mang tên Trần Thị Ngọc D mã số 7508011363.
Đầu năm 2025, bà D đã liên hệ đến quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai
để làm thủ tục hưởng các chế độ Bảo hiểm hội đối với mã ssổ 7508011363
thì dược biết trong khoảng thời gian từ tháng 7/2007 đến tháng 02/2011 D
thời gian đóng Bảo hiểm xã hội trùng nhau vì có tồn tại 02 sổ Bảo hiểm xã hội với
số 7508011363 số 7508151861 nên không thể giải quyết chế độ bảo hiểm
cho bà D được.
3
Xét thấy, việc D cho C ợn hồ nhân để đi làm việc vi phạm
nguyên tắc trung thực” trong giao kết hợp đồng lao động. Việc này đã làm ảnh
hưởng rất lớn đến quyền lợi của trong việc hưởng chế độ bảo hiểm xã hội.
Nay làm đơn khởi kiện để yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai
giải quyết các vấn đề sau: Tuyên các Hợp đồng lao động số 017184 ngày
11/12/2007 (hợp đồng thời hạn 01 năm từ 11/12/2007 đến 11/12/2008) số
017184 ngày 11/12/2008 (hợp đồng không xác định thời hạn), trong khoảng thời
giam tham gia làm việc từ tháng 12/2007 đến tháng 02/2011 giữa Trần Thị
Ngọc D (do Trần Ngọc Kim C mượn tên) Công ty trách nhiệm hu hạn DN
VN hiệu. không yêu cầu giải quyết hậu quả của Hợp đồng hiệu, tự
nguyện chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.
- Bị đơn Trần Ngọc Kim C bản tự khai trình y: Vào năm 2007 do
hoàn cảnh gia đình khó khăn, thời điểm đó chưa đủ tuổi lao động, không nắm
các quy định của pháp luật về lao động nên đã mượn hnhân của chị
gái Trần Thị Ngọc D để làm hồ đi làm đã các hợp đồng lao động
ngày 11/12/2007, ngày 11/12/2008 với Công ty trách nhiệm hữu hạn DN VN để
làm việc từ tháng 12/2007 đến tháng 02/2011 và tham gia bảo hiểm hội với
số 7508151861. Nay D khởi kiện yêu cầu tuyên hiệu hợp đồng lao động
được kết giữa (thực tế lấy tên của D) với Công ty trách nhiệm hữu hạn
DN VN trong khoảng thời gian từ tháng 12/2007 đến tháng 02/2011 thìđồng ý,
bà không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu, không yêu cầu bồi thường
thiệt hại và không có ý kiến gì khác.
- Người quyền nghĩa vụ liên quan - Công ty trách nhiệm hữu hạn DN VN
do bà Trà Lam T1đại diện theo pháp luật có bản tự khai trình bày:
Công ty trách nhiệm hữu hạn DN VN có ký kết hợp đồng lao động số 017184
ngày 11/12/2007 thời gian làm việc là 01 năm từ ngày 11/12/2007 đến 11/12/2008
01 hợp đồng lao động số 017184 ngày 11/12/2008, hợp đồng không xác định
thời hạn với bà Trần Thị Ngọc D. Trước khi ký hợp đồng lao động Công ty đã yêu
cầu người lao động phải cung cấp thông tin cá nhân, giấy tờ tùy thân, yếu
lịch, tất cả các giấy tờ trên phải có xác nhận của phòng tư pháp huyện Trảng Bom,
tỉnh Đồng Nai (cũ) UBND Bình Minh, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
(cũ). Do xác nhận từ chính quyền địa phương nên công ty đã hoàn toàn tin
tưởng vào các tài liệu người lao động cung cấp tiến hành hợp đồng lao
động.
Ngày 01/3/2011, Công ty đã chấm dứt hợp đồng lao động với Trần Thị
Ngọc D Công ty đã hoàn tất mọi nghĩa vụ giải quyết mọi chế độ cho người
lao động.
Việc D cho C mượn hđể giao kết hợp đồng lao động với Công ty
hành vi vi phạm nguyên tắc trung thực vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin
khi giao kết hợp đồng lao động. Công ty không hề biết sự lừa dối trong việc
cung cấp thông tin sai để ký kết hợp đồng lao động kể trên. Nên Công ty không có
ý kiến đối với việc Tòa án tuyên bố Hợp đồng lao động hiệu cũng như giải
quyết hậu quả hợp đồng hiệu. Đồng thời, đại diện của Công ty xin được vắng
4
mặt tại các buổi làm việc, các phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ, các phiên
họp hòa giải các phiên tòa xét xử theo giấy triệu tập của Tòa án. Đề nghị Tòa
án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Người quyền nghĩa vụ liên quan - Bảo hiểm hội tỉnh Đồng Nai do
bà Đinh Thị Phương H đại diện theo ủy quyền có bản tự khai trình bày:
Trần Thị Ngọc D yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng lao động giữa
Trần Thị Ngọc D (do Trần Ngọc Kim C mượn tên) với Công ty trách nhiệm
hữu hạn DN VN thời gian từ tháng 12/2007 đến tháng 02/2011 là hiệu. Bảo
hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai có ý kiến như sau:
Qua tra cứu dữ liệu của ngành Bảo hiểm xã hội, Trần Thị Ngọc D, sinh
ngày 20/05/1989, số CMND 271814333, số CCCD 075189007560. Hiện 02 sổ
Bảo hiểm xã hội (7508151861 7508011363) thời gian đóng Bảo hiểm xã hội
trùng nhau, cụ thể như sau:
Mã số sổ
BHXH
Thời gian đóng
BHXH
Đơn vị sử dụng lao động
Đã hưởng
7508151861
12/2007-
02/2011
Công ty TNHH DN VN
(xã Bình Minh, Đồng Nai)
-
7508011363
07/2007-
10/2007
Công ty TNHH Nam Yang SM
(H.Trảng Bom, Đồng Nai)
Trợ cấp thất
nghiệp
11/2007-
02/2010
Công ty TNHH Đông Phương
Đồng Nai Việt Nam (H.Trảng
Bom, Đồng Nai)
07/2010-
06/2011
Công ty TNHH Moland
(H. Trảng Bom, Đồng Nai)
05/2012-
01/2024
Công ty TNHH Đông Phương
Đồng Nai Việt Nam (H.Trảng
Bom, Đồng Nai)
Ngày 19/02/2025, Bảo hiểm hội tỉnh Đồng Nai làm việc với Trần
Thị Ngọc D Trần Ngọc Kim C ghi nhận về việc trùng thời gian đóng Bảo
hiểm xã hội là do bà Trần Thị Ngọc D cho bà Trần Ngọc Kim C ợn hồ sơ để đi
làm và tham gia Bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH DN VN từ tháng 12/2007 đến
tháng 02/2011 (sổ Bảo hiểm xã hội mã số 7508151861).
Như vậy, Hợp đồng lao động kết giữa bà Trần Ngọc Kim C (mang tên
Trần Thị Ngọc D) với Công ty TNHH DN VN từ tháng 12/2007 đến tháng
02/2011 thuộc trường hợp được hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-
BHXH ngày 31/5/2022 của Bộ Lao động-Thương binh hội: Trường hợp
người lao động mượn hồ của người khác để giao kết Hợp đồng lao động
hành vi vi phạm nguyên tắc trung thực và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi
giao kết Hợp đồng lao động, đây trường hợp Hợp đồng lao động hiệu toàn
bộ và Tòa án nhân dân có quyền tuyên bố Hợp đồng lao động vô hiệu.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
5
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm
phán Hội đồng xét xử, Thư a án; việc chấp hành pháp luật của người
tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được tiến hành theo quy định pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án: Chấp nhận đơn khởi kiện của Trần Thị
Ngọc D về việc tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Trần Ngọc Kim C (lấy tên bà
Trần Thị Ngọc D) kết các hợp đồng lao động t tháng 12/2007 đến tháng
02/2011 với Công ty trách nhiệm hữu hạn DN VN hiệu. Do các đương sự
không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng hiệu, không yêu cầu bồi thường
thiệt hại nên không phải đặt ra xem xét giải quyết. Ghi nhận việc nguyên đơn tự
nguyện chịu toàn bộ án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp, tư cách đương sự:
Trần Thị Ngọc D khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố các Hợp đồng lao
động số 017184 ký ngày 11/12/2007 (thời gian làm việc 01 năm từ ngày
11/12/2007 đến 11/12/2008) 01 Hp đồng lao động số 017184 ngày
11/12/2008 (hợp đồng không xác định thời hạn) giữa bà Trần Ngọc Kim C (lấy tên
Trần Thị Ngọc D), địa chỉ: đường 59, ấp TB, xã Bình Minh, tỉnh Đồng Nai để
kết các hợp đồng lao động trên với Công ty trách nhiệm hữu hạn DN VN, địa
chỉ: Khu công nghiệp SM, Bình Minh, tnh Đồng Nai, trong khoảng thời gian
m việc từ tháng 12/2007 đến tháng 02/2011 hiệu. Căn cứ vào khon 1
Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm v khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân
sự xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp về việc tuyên bố hợp đồng lao động
hiệu” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 3 Đồng
Nai. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sxác định Trần Thị Ngọc D
nguyên đơn; Trần Ngọc Kim C bị đơn; Bảo hiểm hội tỉnh Đồng Nai
Công ty trách nhiệm hữu hạn DN VN người quyền lợi nghĩa vụ liên quan
trong vụ án.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Nguyên đơn xác định thời điểm nhận biết được
quyền lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm khoảng tháng 02/2025. Do
đó, còn thời hiệu khởi kiện theo khoản 3 Điều 190 Bộ luật Lao động năm 2019.
[3] Về thủ tục tố tụng khác: Trần Thị Ngọc D, Trần Ngọc Kim C
Nguyễn Thị Phương H đơn đề nghị xét xvắng mặt. Công ty trách nhiệm hữu
hạn DN VN do bà Trà Lam T1 là đại diện theo pháp luật đã có văn bản trình bày ý
kiến xin vắng mặt đề ngày 04/11/2025. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật t
tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[4] Về nội dung vụ án: Từ tháng 12/2007 đến tháng 02/2011, D khai đã
cho C (em gái) mượn giấy tờ, hồ sơ nhân của mình gồm chứng minh nhân
dân và sơ yếu lý lịch để C đi làm và tham gia đóng bảo hiểm xã hội tại Công ty
TNHH DN VN, do thời điểm đó bà C chưa đủ tuổi ký hợp đồng lao động, gia đình
khó khăn không hiểu biết pháp luật. Trong thời gian này, C đã hợp đồng
lao động dưới tên D được Bảo hiểm hội tỉnh Đồng Nai cấp sổ bảo hiểm
xã hội mang tên Trần Thị Ngọc D mã số 7508151861.
6
Cùng thời gian trên, bản thân bà D làm việc tại nhiều công ty khác, gồm:
Công ty TNHH Nam Yang SM (07/2007–10/2007), Công ty TNHH Đông Phương
Đồng Nai Việt Nam (11/2007–02/2010 05/201201/2024), Công ty TNHH
Moland (07/201006/2011) được Bảo hiểm xã hội tỉnh Đồng Nai cấp sổ bảo
hiểm xã hội mang tên Trần Thị Ngọc D, mã số 7508011363.
Theo Biên bản ngày 19/02/2025 tại Bảo hiểm hội tỉnh Đồng Nai đã xác
định trường hợp người lao động ợn hồ để đi giao kết hợp đồng lao động
hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin
khi giao kết hợp đồng lao động nên đây trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu
toàn bộ. Căn cứ Điều 15, Điều 16 Điều 49, Điều 50 Điều 51 Bộ luật Lao
động m 2019 Điều 10 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của
Chính phủ.
Theo quy đnh ca B luật Lao động, vic giao kết hợp đồng lao động phi
tuân th nguyên tc t nguyn, trung thc, thiện chí đúng ch th. Trong v
vic này, C đã s dng h sơ, giấy t nhân ca D để giao kết hợp đng
lao động vi Công ty TNHH DN VN, trong khi bà D không trc tiếp làm vic ti
Công ty này.
Hành vi trên là vi phm nguyên tc trung thực và nghĩa vụ cung cp thông tin
khi giao kết hợp đồng lao động. Trường hp này thuộc trường hp hợp đồng lao
động hiu toàn b theo hướng dn tại Công văn s 1767/LĐTBXH-BHXH
ngày 31/5/2022 ca B Lao động - Thương binh và Xã hội.
Do đó, Hội đng xét x căn cứ chp nhn yêu cu khi kin ca nguyên
đơn, tuyên bố các hp đồng lao động số 017184 ký kết t tháng 12/2007 đến tháng
02/2011 gia Công ty TNHH DN VN và Trn Ngc Kim C (mang tên Trn Th
Ngc D) là vô hiu toàn b.
[5] Đối vi vic gii quyết hu qu ca hợp đồng hiu: Nguyên đơn xác
định không yêu cu Tòa án gii quyết hu qu ca hp đồng lao động hiu,
không yêu cu bi thường thit hại và các đương s không tranh chp khác
liên quan đến quyền, nghĩa vụ phát sinh t hợp đồng lao động nêu trên. Do đó,
Hội đồng xét x không xem xét gii quyết ni dung này.
[6] Các đương sự có quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết
các chế độ về bảo hiểm xã hội.
[7] Về án phí: Trần Thị Ngọc D tự nguyện chịu 300.000đ án phí lao động
sơ thẩm nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định
của pháp luật.
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Đồng Nai
phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng
xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm v
khoản 1 Điều 39, Điều 48, Điều 68, Điều 70, Điều 147, Điều 203, khoản 2 Điều
7
210, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 243, Điều 264, Điều 266, Điều 273,
Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Điều 15, Điều 16, Điều 49, Điều 50, Điều 51 Điều 190 Bộ luật
Lao động năm 2019; Điều 10 Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của
Chính phủ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Trần Thị Ngọc D về việc yêu cầu
tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu.
Tuyên bố Hợp đồng lao động được ký kết giữa bà Trần Ngọc Kim C và Công
ty TNHH DN VN từ 12/2007 đến tháng 02/2011 (sổ Bảo hiểm xã hội số
7508151861) vô hiệu.
Các đương sự quyền liên hệ quan thẩm quyền để được giải quyết
chế độ về bảo hiểm xã hội.
2. Về án phí thẩm: Trần Thị Ngọc D phải chịu 300.000đ án phí lao
động thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí D đã nộp theo
Biên lai thu số 0001705 ngày 25 tháng 9 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh
Đồng Nai.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể tngày nhận được bản án
hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định.
Nơi nhận:
- TAND tnh Đng Nai;
- VKSND tnh Đồng Nai;
- VKSND khu vc 3 Đồng Nai;
- THADS tỉnh Đng Nai;
- Phòng THADS khu vc 3 - Đng Nai;
- c đương s;
- u h sơ v án.
Tải về
Bản án số 24/2025/LĐ-ST Bản án số 24/2025/LĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 24/2025/LĐ-ST Bản án số 24/2025/LĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất