Bản án số 24/2019/DS-ST ngày 01/11/2019 của TAND huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 24/2019/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 24/2019/DS-ST ngày 01/11/2019 của TAND huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Quảng Trạch (TAND tỉnh Quảng Bình)
Số hiệu: 24/2019/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 01/11/2019
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị T làm đơn khởi kiện chị N1
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN QUẢNG TRẠCH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 24/2018/HS-ST
Ngày: 25-9-2018
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Ngọc Anh và ông Trần Văn Định
- Thư phiên tòa: Cao Thùy Linh - Thư Tòa án nhân dân huyện
Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở a án nhân dân huyện Quảng Trạch,
tỉnh Quảng Bình xét xử thẩm công khai vụ án hình sự thẩm thụ số:
23/2018/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử
số: 25/2018/QĐXXST-HS ngày 10/9/2018, đối với bị cáo:
Trần Xuân C, sinh ngày 14/9/1991; tại: Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình;
nơi trú: thôn P, Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Thợ sơn; trình
độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch:
Việt Nam; con ông Trần Đình H Nguyễn Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án,
tiền sự: không. Bị bắt tạm giam từ ngày 04/6/2018 đến ngày 10/7/2018 được thay
thế bằng biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Anh Trần Xuân T, sinh năm 1968; nơi trú: thôn P , Q,
huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
- Những người làm chứng:
Nguyễn Nam P, sinh năm: 1996; nơi trú: thôn P, Q, huyện Q, tỉnh
Quảng Bình, vắng mặt.
Nguyễn Văn Đ, sinh năm:1990; nơi trú: thôn P, Q, huyện Q, tỉnh
Quảng Bình, vắng mặt.
Trần Xuân T, sinh năm:1989; nơi trú: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng
Bình, vắng mặt.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 23/5/2018, Trần Xuân C đến nhà Ngô Đức N
để dự tiệc sinh nhật thì gặp Nguyễn Văn Đ, Trần Trung L, Trần Xuân T, Phạm
Xuân D. T nói với C: mi làm chi mà anh Tnói mi không làm ăn chi cả mà đi đòi nợ
thuê. Bức xúc lời nói của anh T nên C nảy sinh ý định đánh anh T đdằn mặt. C
quay về nhà mình lấy một cây gậy ba khúc rồi quay lại nhà anh N giấu sân rồi
tiếp tục vào uống rượu. Sau đó C về trước, khi ra sân Clấy cây gậy ba khúc rồi điều
khiển xe mô tô Exerciter BKS 73E1-347.63 đi ra đường thì gặp Nguyễn Nam P
Nguyễn Văn H vào nhà anh N. Thấy P tC nói: Đi với anh một tí. P hỏi lại: đi
đâu thì C bảo: lại đây một lúc nên P nhất trí đi. Khi đi C đưa cây gậy ba khúc cho P
ngồi sau nói: cầm cây gậy cho anh với. P hỏi lại: đi đâu nhưng C không nói gì.
Đi được một đoạn thì gặp Nguyễn Văn Đ, Đ hỏi: đi đâu thì C nói đi lại nanh T
việc nên Đ nói: tau đi với. Khi nhà anh T thì C bảo với P đưa gậy ra cho P.
Lúc này P vẫn ngồi trên xe còn Đ xuống xe và nép mình sau tường rào. Thấy anh T
đang ăn cơm, C gọi: anh T ơi ra em hỏi. Khi anh T từ trong nhà bưng tô cơm bước
ra đứng trước cổng nhà mình, cách C đứng khoảng một mét nói: Hỏi chi đó? C
không trả lời ngay lập tức dùng gậy ba khúc mang theo đánh mạnh vào ng
mặt làm anh T ngã ngửa người xuống trước cổng. Khi thấy anh T bị ngã, do hoảng
sợ nên C bảo P chở về, đi được một đoạn thì Đ cùng nhảy lên xe cả ba chạy về
nhà anh N. Đến nơi Đ P vào còn C mang cây gậy ba khúc vứt xuống cầu H
thôn P, xã Q.
Hậu quả anh T bị thương, cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Trung ương Huế
từ ngày 24/5/2018 đến ngày 04/6/2018 thì ra viện.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tổn thương thể số: 173-18/TgT
ngày 01/6/2018 của Trung tâm Pháp y tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận: Tỷ lệ tổn
thương chung cơ thể của Trần Xuân T hiện tại là 32%.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Ngày 14/6/2018, anh Trần Xuân T
gia đình bị cáo Trần Xuân C đã thỏa thuận bồi thường các khoản chi phí điều trị và
các khoản chi phí hợp khác tổng số tiền 20.396.980 đồng. Anh Trần Xuân T đã
nhận đầy đủ số tiền trên.
Về xử lý vật chứng:
Quá trình điều tra quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Trạch đã
tạm giữ:
- 01 xe mô nhãn hiệu YAMAHA, loại Exerciter BKS 73E1-34763. Viện
kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch đã trả chiếc xe tô nói trên cho Trần
Xuân C theo Quyết định xử lý vật chứng số 05/QĐ-VKSQT ngày 08/8/2018.
3
- 01 cây gậy ba khúc, làm bằng kim loại, dài 65,5 cm, gậy hình trụ tròn,
phần cán gậy dài 25 cm, đường kính 3,5cm; phần thân gậy dài 40,5cm, đường
kính 2,5cm.
Tại Cáo trạng số 24/CT-VKSQT ngày 13 tháng 8 năm 2018, Viện kiểm sát
nhân dân huyện Quảng Trạch đã truy tố bị cáo Trần Xuân C về tội “Cố ý gây
thương tíchtheo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch giữ
nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, xem
xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội
đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, r, s khoản 1 Điều 51;
khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị o Trần Xuân C từ 24 đến
28 tháng ; Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: không xem xét. Áp dụng điểm a,
c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 cây gậy ba
khúc, làm bằng kim loại.
Tại phiên tòa, người bị hại ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử
phạt bị cáo mức án nhẹ nhất.
Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, nhận thấy
hành vi của mình là vi phạm pháp luật và nhất trí với tội danh, khung hình phạt
Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch đã truy tố, kết tội bị o, đề nghị Hội
đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của quan điều tra, Điều tra viên, Viện
kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm
quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và
tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định
của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết
định tố tụng của quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện
đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bcáo Trần Xuân C đã khai nhận toàn
bộ về hành vi phạm tội của mình vào ngày 23/5/2018, khi nghe Trần Xuân T kể lại
việc anh T nói C không làm gì đi đòi nợ thuê, do bức xúc trước lời nói của anh
T nên bị cáo C đã hành vi dùng gậy ba khúc làm bằng kim loại đánh vào vùng
mặt của anh Trần Xuân T. Hậu quả anh T phải đi cấp cứu, điều trị tại bệnh viện,
gây tổn hại sức khỏe với tỷ lệ tổn thương chung thể hiện tại 32%. Diễn biến
hành vi phạm tội mà bị cáo khai nhận phù hợp với lời khai của người bị hại, những
người làm chứng; kết quả giám định tổn thương thể của Trung tâm Pháp y tỉnh
Thừa Thiên Huế; phợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ
4
vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa. Hành vi của bị cáo đã sử
dụng cây gậy làm bằng kim loại khí nguy hiểm gây thương tích, gây tổn
thương thể cho anh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tíchđược
quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự, với tình tiết dùng hung khí
nguy hiểm được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho hội của hành vi phạm tội, các
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cùng các tình tiết khác
có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tính chất của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng, gây
nguy hiểm lớn cho hội. Hành vi đã trực tiếp xâm phạm quyền bất kh xâm
phạm về thân thể, sức khỏe, gây ảnh hưởng nặng nề về tinh thần cho người bị hại,
đồng thời còn xâm phạm đến trật tự an toàn hội nói chung, gây m bất bình
trong quần chúng nhân dân. Bị cáo tuổi còn trẻ nhưng chỉ những mâu thuẫn nhỏ
nhặt trong cuộc sống thường ngày, chưa tìm hiểu nguyên nhân bị cáo đã
dùng cây gậy đánh vào vùng mặt của anh T. Hành vi của bị cáo đã thể hiện scoi
thường pháp luật, coi thường sức khỏe của người khác. Vì vậy, cần thiết phải xét
xử bị o với hình phạt nghiêm, tương xứng với hậu quả, tính chất, mc độ nguy
hiểm cho hội của hành vi phạm tội bcáo đã gây ra. Xét thấy cần thiết phải
cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục rèn luyện
bị cáo trở thành người công dân tốt có ý thức tuân thủ pháp luật.
Tuy nhiên, xét vnhân thân các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
thấy rằng: Bcáo người nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, chưa tiền án, tiền
sự; sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường đầy đủ các khoản chi phí hợp
cho người bị hại nhằm khắc phục hậu quả mà bị cáo đã gây ra được người bị
hại viết đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; tại phiên tòa người bị hại đã ý
kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; sau khi phạm tội bị cáo đã tthú; trong
quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối
cải; bcủa bị cáo người có ng, đã từng tham gia phục vụ chiến tranh bảo vệ
Tổ quốc làm nhiệm vụ quốc tế. Đây các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự quy định tại các điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đồng thời áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để
xét xử cho bị cáo được hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bcáo đã dùng gậy sắt gây thương
tích cho anh T phải đi cấp cứu, điều trị, do vậy phải chịu trách nhiệm bồi thường
toàn bộ thiệt hại gây ra. Quá trình điều tra bị o đã tự nguyện thực hiện việc bồi
thường thiệt hại đầy đcác khoản chi phí điều trị và các khoản chi phí hợp lý khác
theo yêu cầu của người bị hại anh Trần Xuân T với tổng số tiền 20.369.980
đồng. Đến tại phiên toà người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội
đồng xét xử không xem xét.
5
[5] Về xử vật chứng: Vật chứng liên quan đến vụ án chiếc xe
nhãn hiệu YAMAHA, loại Exerciter BKS 73E1-34763 đã được tạm giữ để điều tra
được xử trả lại cho chủ shữu theo quy định của pháp luật. Đối với 01 cây
gậy ba khúc, làm bằng kim loại, dài 65,5 cm, gậy hình trụ tròn, phần n gậy dài
25 cm, đường kính 3,5cm; phần thân gậy dài 40,5cm, đường kính 2,5cm xác
định đây vật bị cáo sdụng làm công cụ phạm tội hiện không giá trị,
không sử dụng được, áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Bcáo Trần Xuân C phải chịu tiền án phí hình sự thẩm
theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm c khoản 3 Điều 134; các điểm b, r, s khoản 1 Điều 51,
khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố
tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Xuân C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xphạt bị cáo Trần Xuân C 24 (hai mươi bốn) tháng , được trừ thời gian
tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/6/2018 đến ngày 10/7/2018. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: miễn xét.
Về xử lý vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 cây gậy, m bằng kim loại
đặc điểm được mô tả cụ thể tại Biên bản giao nhận vật chứng giữa quan Cảnh
sát điều tra Công an huyện Quảng Trạch với Chi cục Thi hành án dân sự huyện
Quảng Trạch ngày 14/8/2018.
Về án phí: Buộc bcáo Trần Xuân C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình
sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.
Bcáo, người bị hại mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/9/2018).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh Quảng Bình;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
- CA huyện Quảng Trạch;
- VKSND huyện Quảng Trạch; (Đã ký)
- THADS huyện Quảng Trạch;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị Lan Phƣơng
6
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
7
Tải về
Bản án số 24/2019/DS-ST Bản án số 24/2019/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất