Bản án số 238/2018/HSPT ngày 24/10/2018 của TAND tỉnh Đồng Nai về tội trộm cắp tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 238/2018/HSPT

Tên Bản án: Bản án số 238/2018/HSPT ngày 24/10/2018 của TAND tỉnh Đồng Nai về tội trộm cắp tài sản
Tội danh: 138.Tội trộm cắp tài sản (Bộ luật hình sự năm 1999)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Đồng Nai
Số hiệu: 238/2018/HSPT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 24/10/2018
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH ĐỒNG NAI Độc lp - T do - Hnh phúc
Bản án số: 238/2018/HSPT
Ngày: 24-10-2018
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Sơn.
Các thẩm phán: Võ Thị Thanh Phượng
Ông Trần Nam Phương.
- Thư phiên tòa: Ông Phạm Phú Tra Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Ông Phạm Xuân Nam Kiểm sát viên.
Ny 24 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nait x
phúc thẩm công khai vụ án hình s phúc thẩm thụ số: 173/2018/TLPT-HS ngày
09 tháng 8 năm 2018 đối với bị o Nguyễn ng L đồng phạm do
kháng o của các bị o đối với Bản án hình sự thẩm số: 68/2018/HSST ngày
26/6/2018 của Tòa án nhânn huyn Trảng Bom.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Bá Tùng L, sinh năm 1996 tại Quảng Ngãi; HKTT: Thôn D,
Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; Chỗ hiện nay: tổ M, khu phố H, phường L,
thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 09/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông
Nguyễn Tấn N, sinh năm 1954 bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1965; Bị cáo
chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
2. Nguyễn Duy N1, sinh năm 1994 tại Quảng Ngãi; HKTT: Thôn A,
Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; Chỗ hiện nay: Tổ M, khu phố N, phường T,
quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa:
12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
2
Con ông Nguyễn Đ, sinh năm 1955 Phạm Thị H, sinh năm 1956; Bị cáo
chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn nguyên đơn dân sự người quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị; Tòa
án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn ng L Nguyễn Duy N1 là công nhân của Công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên A trsở tại pờng B, Quận H, Thành ph
Hồ Chí Minh đang thi ng ng trình n xưởng của ng ty TNHH sản
xuất kim loại Y (ng ty Y), trụ stại khu công nghiệp H, xã H3, huyện
T. o ngày 18/01/2018, L và N1 cùng một s công nhân kc được phân
ng làm nhiệm vụ thay thế h thống dây truyền tải điện trong ng ty Y.
Trong c làm việc, L nảy sinh ý định trộm cắp cuộn dây điện i đồng của
ng ty Y đbán lấy tiền tiêu xài nên r N1 ng tham gia, N1 đồng ý. Đến
khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, lợi dụng c không người, N1 L
khng cuộn dây điện i đồng đã qua s dụng ném ra ngi ng rào của
ng ty. Sau đó, N1 điều khiển xe tô biển s 76G1-079.xx chL đi đến
khu vực m cuộny điện và khiêng cuộn dây điện cất giấuo trong bụi cỏ
gần l đường. Sau đó, L điện thoại rủ Nguyễn Đức T (là bạn làm ng công
ty) mua bia đến đăn nhậu. Đến khoảng 00 gi15 pt ngày 19/01/2018, T
điều khiển xe tô biển s76G1-091.xx chLê Kiều H1 mang đồ ăn và bia
đến. L, N1, T và H1 ngồi nhậu vỉa hè đường số 11, khu công nghiệp H.
Trong c ngồi ăn nhậu, L và N1 nói cho T biết việc L N1 vừa trộm cp
được 01 cuộn dây điện của ng ty Y đbán lấy tiền tu i t T nói: “Tùy
bọn mày muốn làm thì làm”. Sau khi ăn nhậu xong, N1 và L khiêng cuộn
y điện đang cất giấu đn xe tô biển s76G1-079.xx chđi tu thụ,
n T và H1 cũng n xe đi về, đi được khoảng 4 t t bng an khu ng
nghiệp H phát hiện bt quả tang.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 cuộn y điện i đồng, 01 xe tô biển số
76G1-079.xx, 01 xe tô biển số 76G1-091.xx, 01 chứng minh nhân n
mang tên Phạm Nguyễn Đức T1.
3
Theo bản kết luận định g tài sản của Hội đồng định g i sản trong t
tụng hình sự thuộc y ban nhân dân huyện Trảng Bom t 01 cuộn dây điện
i đồng đã qua sdụng trọng lượng 74kg trị giá là 5.550.000 đồng, Công
ty Y đã nhận lại tài sản và kng yêu cầu gì thêm.
Tại bản cáo trạng số: 77/CT/VKS-HS ngày 06/6/2018, Viện kiểm sát nhân
dân huyện Trảng Bom đã truy tố các bị cáo Nguyễn Tùng L và Nguyễn Duy
N1 về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại Điều 173 khoản 1 Bộ luật hình
sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại bản án sơ thẩm số: 68/2018/HSST ngày 26/6/2018 của Tòa án nhân dân
huyện Trảng Bom đã áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 50; các điểm h, i, s khoản
1 Điều 51; Điều 54 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; x
phạt bị cáo Nguyễn Tùng L 04 (bốn) tháng ; xử phạt bị cáo Nguyễn Duy
N1 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt các bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, án thẩm n tuyên về xử vật chứng, án phí quyền kháng
cáo theo luật định.
Ngày 05/7/2018, các bị cáo Nguyễn Tùng L Nguyễn Duy N1 kháng
cáo xin hưởng án treo.
Quan điểm Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Hành vi của
các bị cáo Nguyễn Tùng L Nguyễn Duy N1 đã phạm tội Trộm cắp tài
sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ
sung năm 2017. Tòa án cấp thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự, xét xử bị cáo Nguyễn Tùng L 04 (bốn) tháng tù, bị cáo Nguyễn
Duy N1 03 (ba) tháng phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội
của các bị cáo đã gây ra. Bị cáo Nguyễn Tùng L bị cáo Nguyễn Duy N1
kháng cáo xin hưởng án treo nhưng không cung cấp thêm được tình tiết giảm
nhẹ đặt biệt nào khác nên đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của hai bị cáo,
y án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định nên
được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo ca các bo:
Ti phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Bá Tùng L Nguyễn Duy N1 tha nhn
4
toàn b hành vi phm ti của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Hồ
th hin: Vào khong 23 gi 30 phút ngày 18/01/2018, Nguyn Tùng L
Nguyn Duy N1 đã hành vi lén lút trm cp 01 cuộn dây điện lõi đồng trng
ng 74kg tr giá 5.550.000đ đồng ca Công ty TNHH sn xut kim loi Y,
ti khu công nghip H, xã H3, huyn T.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định các bị cáo Nguyễn Bá Tùng L và Nguyễn Duy
N1 phạm tội Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015,
sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi ca các b cáo gây nguy him cho hi, xâm phm v quyn s
hu tài sn đưc pháp lut bo v, làm mt an ninh trt t tại địa phương. Khi
xét x, Tòa án cấp thẩm đã xem xét các tình tiết gim nh như: các b cáo có
nhân thân tt, không tin án, tin s; phm ti lần đầu thuộc trường hp ít
nghiêm trng; các b cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hi ci; tài sản đã thu hồi
tr li cho b hi nên chưa gây thit hi, do đó xử phạt bị cáo L mc án 04 (bn)
tháng , x pht b cáo N1 mc án 03 (ba) tháng tù, dưới khung hình pht
phù hp và thỏa đáng.
Ti cp phúc thm, các b cáo xin ng án treo nhưng không tình tiết
gim nh trách nhim hình s nào khác chưa đưc xem xét. Các b cáo không
cung cấp được tình tiết nào mới, do đó kháng cáo ca các b cáo không căn
c chp nhn.
[4] V án phí:
Kháng cáo ca các b cáo không được chp nhn nên các b cáo phi chu
án phí hình s phúc thm.
[5] Quan điểm đ ngh ca đi din Vin kim sát nhân dân tỉnh Đng
Nai phù hp vi nhận định ca Hội đồng xét x nên đưc chp nhn.
Vì các l trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Tùng L
Nguyễn Duy N1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 50; các điểm h, i, s khoản 1 Điều 51;
Điều 54 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo NguyễnTùng L 04 (bốn) tháng về tội “Trộm cắp tài
sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
5
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy N1 03 (ba) tháng về tội “Trộm cắp tài
sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
3. Về xử vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự năm 2015, sửa
đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015;
Tịch thu tiêu hủy 01 chng minh nhân dân mang tên Phạm Nguyễn Đức
Tài (biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/10/2018, tại Chi cục thi hành án dân
sự huyện Trảng Bom).
4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày
30/12/2016 của Quốc Hi.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các Quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân H. Trảng Bom (2);
- Viện kiểm sát nhân dân H. Trảng Bom;
- Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai;
- Phòng PV 27 - Công an tỉnh Đồng Nai;
- Chi cục Thi hành án dân sự H. Trảng Bom;
- Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an H.
Trảng Bom;
- Bị cáo;
- Lưu: Hồ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng
và Thẩm phán (4).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Thành Sơn
Tải về
Bản án số 238/2018/HSPT Bản án số 238/2018/HSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất