Bản án số 23/2022/HS-ST ngày 15/04/2022 của TAND TP. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 23/2022/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 23/2022/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 23/2022/HS-ST ngày 15/04/2022 của TAND TP. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND TP. Phúc Yên (TAND tỉnh Vĩnh Phúc) |
| Số hiệu: | 23/2022/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 15/04/2022 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Bích
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Cao Phong và ông Nguyễn Danh Bình
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hiền- Thư ký Toà án nhân dân thành phố
Phúc Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn H Đăng - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2022, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thành
phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:
14/2022/TLST- HS ngày 24 tháng 3 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 21/2022/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 04 năm 2022, của Tòa án nhân dân
thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đối với bị cáo:
Họ và tên Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1991 tại Phú Thọ; nơi đăng ký hộ
khẩu thường trú: Khu 14, xã H, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao
động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt N; con ông Nguyễn Xuân N và bà Nguyễn Thị V; vợ
Phạm Thị Như Q (đã ly hôn) con có 01 con sinh năm 2014:
Tiền án: 01 tiền án, cụ thể: Ngày 29/10/2019, TAND huyện Mê Linh - Hà
Nội xử phạt Nguyễn Ngọc H 7 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong
hình phạt tù ngày 09/07/2020, xong án phí ngày 18/2/2020, chưa được xóa án
tích. Tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2021 đến nay tại Trại tạm
giam công an tỉnh Vĩnh Phúc. (có mặt)
Người chứng kiến:
Chị Nguyễn Thị Tuyết X, sinh năm 1988 (vắng mặt)
Chị Trần Thị S, sinh năm 1984 (vắng mặt)
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC
Bản án số: 23/2022/HS-ST
Ngày 15/4/2022
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
Độc lập- Tự do - Hạnh phúc
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 31 tháng 12 năm 2021, Nguyễn Ngọc H
cùng với người bạn nghiện tự giới thiệu tên là N không rõ địa chỉ cụ thể, có nhu
cầu sử dụng ma túy, nên cả hai rủ nhau, rồi cùng nhau từ thành phố Phúc Yên
đến thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên mua ma túy về sử dụng.
Sau đó N điều khiển xe mô tô màu đen, nhãn hiệu wave (không rõ BKS)
chở H đến địa phận Phổ Yên, Thái Nguyên thì N gặp và trực tiếp mua 01 gói ma
túy giá 100.000đồng của một người nam giới không rõ danh tính địa chỉ. Mua
được ma túy N đưa gói ma túy cho H cầm cất vào túi quần phía trước bên phải
đang mặc sau đó ngồi lên xe mô tô của N để đi về thành phố Phúc Yên.
Khoảng 17 giờ cùng ngày khi H và N về đến khu vực phường T, Phúc
Yên, thì H xuống xe đợi để N đi mua cơm. Khi N đi được một lúc thì H bị Công
an phường T kiểm tra, phát hiện, bắt giữ về hành vi tàng trữ trái phép chất ma
túy, thu giữ vật chứng gồm:
Thu giữ tại túi quần phía trước, bên phải H đang mặc 01 gói giấy màu
trắng bên trong chứa các cục bột màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký
hiệu A1. Thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu ITEL IT2580 màu đen đã cũ,
đã qua sử dụng.
Tại kết luận giám định số 67/KLGĐ ngày 04/01/2022 của phòng Kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định và kết luận: “Chất bột cục màu trắng
của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1459g, loại
Heroine”. Hoàn lại đối tượng giám định gồm: A1= 0,1126g mẫu và bao gói sau
giám định.
Tại kết luận giám định số: 129/KLGĐ ngày 10/01/2022 của phòng Kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định và kết luận: “Tìm thấy chất ma
túy Morphine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của
Nguyễn Ngọc H – sinh năm 1991, ở xã H, Hạ Hòa, Phú Thọ gửi đến giám định”.
Hoàn lại đối tượng giám định gồm 0,00ml mẫu và bao gói sau giám định.
Đối với người đàn ông tên N và chiếc xe mô tô màu đen, nhãn hiệu Wave
N sử dụng chở H đi mua ma túy ngày 31/12/2021, Cơ quan điều tra chưa làm rõ
được nhân thân, lai lịch cụ thể, tiếp tục làm rõ xử lý sau.
Tại Cáo trạng số: 22/CT - VKSPY ngày 24 tháng 3 năm 2022, Viện kiểm
sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố Nguyễn Ngọc H về tội “Tàng trữ trái
3
phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
năm 2015.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc H khai
nhận thành khẩn về hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên, thừa nhận
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên truy tố về tội “Tàng
trữ trái phép chất ma túy” là đúng, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được
hưởng mức án thấp nhất.
Tại phiên tòa kiểm sát viên luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định
truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo Nguyễn Ngọc H; sau khi đánh giá tính chất,
mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm
s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo
Nguyễn Ngọc H từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ
sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Bị
cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì, đại diện Viện kiểm sát không
có ý kiến gì về các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có
thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Sau khi thẩm tra các chứng cứ có trong hồ sơ, nghe lời khai của bị cáo, ý
kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố
Phúc Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, Kiểm sát
viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự,
thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa,
bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết
định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi,
quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã
thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà Nguyễn
Ngọc H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mà Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo là
phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như: Biên bản bắt người phạm tội quả
tang ngày 31 tháng 12 năm 2021, lời khai của người làm chứng; phù hợp với vật
4
chứng thu giữ được. Vì vậy, có đủ cơ sở để khẳng định: Hồi 17 giờ 00 phút ngày
31/12/2021, tại tổ 2, phường T, thành phố Phúc Yên, Nguyễn Ngọc H có hành vi
tàng trữ trái phép 0,1459g ma túy Heroine mục đích để sử dụng thì bị Công an
phường T, thành phố Phúc Yên phát hiện bắt quả tang. Hành vi nêu trên của
Nguyễn Ngọc H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và
hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, có
khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm tù. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân
thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 22/CT -
VKSPY ngày 24 tháng 3 năm 2022 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là
nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà
nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì
vậy, cần pH xử lý nghiêm khắc trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng
và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
[4] Xét nhân thân, tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu, có
01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này
của bị cáo bị coi là tái phạm bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không lấy
đó là bài học cho mình mà tiếp tục phạm tội nên cần có hình phạt nghiêm khắc
đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới có tác dụng giáo dục
riêng và phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Quá trình điều tra và tại phiên tòa
bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên
được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình
sự. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo
giúp bị cáo có điều kiện cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và xã hội.
[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ phép chất ma túy vì mục đích sử
dụng cho bản thân, quá trình điều tra và tại phiên tòa làm rõ bị cáo là người
nghiện ma túy không có tài sản, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Vì
vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[6] Về vật chứng vụ án: Đối với toàn bộ số ma túy cùng bao gói và 01 vỏ
chai nhựa cơ quan giám định hoàn lại cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu ITEL IT2580 màu đen đã cũ, đã
qua sử dụng. Không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo H,
nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
5
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng tiền án phí theo quy
định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h
khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma
túy”.
Xử phạt: Nguyễn Ngọc H 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù
tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 31 tháng 12 năm 2021.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu, tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định A1= 0,1126g cùng toàn
bộ bao gói, 01 chai nhựa đựng mẫu nước tiểu và toàn bộ bao gói sau giám định.
Trả lại cho Nguyễn Ngọc H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu ITEL IT2580
màu đen đã cũ, đã qua sử dụng nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành
án (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 25
tháng 3 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên).
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn,
giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Ngọc H pH nộp 200.000đồng (Hai trăm
nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án
để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Nơi nh
ậ
n
:
- VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
- VKSND thành phố Phúc Yên;
- Công an thành phố Phúc Yên;
- Chi cục THADS thành phố Phúc Yên;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
- Cơ quan THA hình sự có thẩm quyền;
- Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
- Sở Tư pháp Phú Thọ
- Bị cáo;
- Lư
u HS, VP.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Hoàng Văn Bích
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 22/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Bản án số 16/2026/KDTM-PT ngày 14/02/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 14/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm