Bản án số 23/2021/HS-PT ngày 01/04/2021 của TAND tỉnh Phú Yên về tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án 23/2021/HS-PT Phú Yên
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án 23/2021/HS-PT Phú Yên
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 23/2021/HS-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 23/2021/HS-PT ngày 01/04/2021 của TAND tỉnh Phú Yên về tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc |
|---|---|
| Tội danh: | 321.Tội đánh bạc (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Phú Yên |
| Số hiệu: | 23/2021/HS-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 01/04/2021 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: | Lê Văn Công về tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN
Bản án số: 23/2021/HS-PT
Ngày: 01/4/2021
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Thu;
Các Thẩm phán: Ông Mai Tấn Hoàng và bà Đậu Thị Quy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thùy Phương – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân
tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ
Thị Minh Tâm –Kiểm sát viên Trung cấp.
Ngày 01 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc
thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 88/2020/TLPT-HS ngày 11 tháng
11 năm 2020 đối với các bị cáo Lê Văn Công và đồng phạm,do có kháng cáo của các bị
cáoLê Văn Công và đồng phạmđối với Bản án sơ thẩm số:56/2020/HS-ST ngày 25
tháng 8 năm 2020của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Các bị cáo có kháng cáo:
1. Lê Văn C, sinh năm 1978; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn X, xã A, thành
phố T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; giới
tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Minh T,
sinh năm 1954 (chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956; tiền án, tiền sự: Không;
tạm giữ từ ngày 26/9/2018 đến ngày 05/10/2018; bị cáo tại ngoại: có mặt.
2. Lê Trung H (tên gọi khác: A), sinh năm 1994; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú:
Thôn X, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa
(học vấn): 05/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông Lê Văn L, sinh năm 1945 và bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1958; Vợ: Đỗ
Phạm Cát N, sinh năm 2000, có 01 con sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: Ngày
23/5/2017, bị Công an xã A, thành phố T xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành
vi “Đánh bạc”, chưa nộp phạt; bị cáo tại ngoại: có mặt.
3. Phạm Như L, sinh năm 1985; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn X, xã A,
thành phố T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12;
giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm
Duy K, sinh năm 1953 và bà Lê Thị T, sinh năm 1960; vợ Nguyễn Thị H, sinh năm
2
1986 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án, tiền sự:
Không; nhân thân: Ngày 09/6/2020, bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm
phạt 03 năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; bị
cáo tại ngoại: Vắng mặt.
4. Huỳnh Từ D, sinh năm 1990; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn P, xã A,
huyện T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; giới
tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh L,
sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1968; vợ Trần Thị Mỹ D, sinh năm
1993 và 02 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự:
Không; bị cáo tại ngoại: có mặt.
5. Bùi Đại P, sinh năm 1991; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn L, xã A, thành
phố T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; giới
tính: Nam;dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đức T,
sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị Thu S, sinh năm 1961; tiền án, tiền sự: Không; nhân
thân: Ngày 31/3/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy An xử phạt 09 tháng tù cho hưởng
án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng về tội “Cố ý gây thương tích”; Ngày
09/6/2020, bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm phạt 03 năm tù về tội “Tổ
chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; bị cáo tại ngoại: Vắng mặt.
6. Trần Quốc T, sinh năm 1990; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Khu phố B,
Phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học
vấn): 8/12; giới tính: Nam;dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con
ông Trần Văn D, sinh năm 1959 và bà Trương Thị L, sinh năm 1960; tiền án, tiền sự:
Không; nhân thân: Ngày 10/12/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Hòa xử phạt 01
năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 04 tháng 04 ngày về
tội “Cố ý gây thương tích”; tạm giữ từ ngày 26/9/2018 đến ngày 05/10/2018; bị cáo
tại ngoại: có mặt.
7. Nguyễn P, sinh năm 1979; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn P, xã B, thành
phố T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 4/12; giới
tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn H
(chết) và bà Lê Thị T, sinh năm 1953; vợ Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1979 và 02
con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án: Ngày 13/9/2002, bị
Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài
sản” (chưa bồi thường dân sự); Ngày 30/01/2003, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy An
xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 01 năm 03 tháng tù về tội “Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp với hình phạt tại bản án ngày 23/01/2002 của Tòa án
nhân dân huyện Sơn Hòa là 04 năm 09 tháng tù (chưa nộp án phí và bồi thường dân
sự); tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/3/2001, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy An
xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 29/7/2009, bị Tòa án nhân dân
thành phố Tuy Hòa xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày
29/7/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội
“Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/01/2010;tạm giữ từ ngày 26/9/2018
đến ngày 05/10/2018; bị cáo tại ngoại: có mặt.
3
8. Lê Hoàng V (tên gọi khác: Đ), sinh năm 1974; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú:
Thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học
vấn): 6/12; giới tính: Nam;dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con
ông Lê Hoàng L (chết) và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1943; vợ Trần Thị Mỹ L, sinh
năm 1983 và 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không;
nhân thân: Ngày 27/08/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Hòa xử phạt 09 tháng
tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 05 tháng 16 ngày về tội “Đánh bạc”;
Ngày 15/11/1999, bị Tòa án nhân dân huyện Tuy Hòa xử phạt 04 tháng tù về tội “Gây
rối trật tự công cộng”; tạm giữ từ ngày 26/09/2018 đến ngày 05/10/2018; bị cáo tại
ngoại: có mặt.
9. Lê Đình V, sinh năm 1986; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú:Thôn X, xã A, thành
phố T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; giới
tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình T,
sinh năm 1954 và bà Đặng Thị T (chết); tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày
26/9/2018 đến ngày 05/10/2018; bị cáo tại ngoại: vắng mặt.
10. Trương Văn X, sinh năm 1976; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Khu phố 3,
phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học
vấn): 07/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
con ông Trương L, sinh năm 1943 và bà Trương Thị Bích C, sinh năm 1948; vợ Lê
Thị N, sinh năm 1984, có 02 con: Lớn 14 tuổi, nhỏ 11 tuổi; tiền án, tiền sự: Không;
nhân thân: Ngày 16/7/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xử phạt 01 năm
03 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng về tội “Đánh
bạc”, phạt bổ sung 3.000.000 đồng; tạm giữ từ ngày 26/9/2018 đến ngày 05/10/2018;
bị cáo tại ngoại: có mặt.
11. Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1979; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn X, xã
A, thành phố T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa (học vấn):
07/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông
Nguyễn Ngọc H sinh năm 1957 và bà Lê Thị L, sinh năm 1957; tiền án, tiền sự:
Không; tạm giữ từ ngày 26/09/2018 đến ngày 29/09/2018; bị cáo tại ngoại: vắng mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Văn Công: Ông Ngô Minh T – Luật sư – Văn
phòng Luật sư X thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Phú Yên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Để có tiền tiêu xài cá nhân, ngày 22/9/2018, Lê Văn C thuê Phạm Như L và
Huỳnh Từ D đến khu đất bỏ hoang của ông Nguyễn Đồng S và bà Dương Thị A ở
thôn X, xã A, thành phố T chặt cây, mua bạt nhựa dựng thành lều; mua chiếu, ghế
nhựa, đèn chiếu sáng nối dây điện với bình ắc quy để làm nơi tổ chức đánh bạc ăn
thua bằng tiền dưới hình thức xóc đĩa để C thu tiền xâu.
4
Lê Văn C chuẩn bị đĩa sứ, chén nhựa và dùng các lá bài trong bộ bài tây 52 lá
để cắt thành 04 con vị hình tròn, đường kích 02cm, hình quân cơ, rô, chuồn, bích để
xóc cho các con bạc đặt cược. Sau khi xóc xong thì người chơi đặt tiền cược xuống
chiếu bạc, hình thức đặt cược “Chẵn – Lẻ” và “Tài – Lộc”. Nếu 04 con vị có kết quả:
02 và 04 con cùng màu là Chẵn, ngược lại 01 và 03 con vị cùng màu là lẻ, tỉ lệ thắng
thua là 01 chung 01; riêng hình thức cược Tài – Lộc nếu kết quả 03 con vị cùng màu
thì tỉ lệ thắng thua là 1 chung 2,5; nếu 04 con vị cùng màu thì tỉ lệ thắng thua là 01
chung 09. Trong quá trình đánh bạc, con bạc nào muốn ăn thua trực tiếp với các con
bạc còn lại thì tự mở chén, tùy từng ván các con bạc tự mở chén chứ không có người
làm cái chính. Cứ khoảng 01 giờ đồng hồ thì mỗi con bạc đóng tiền xâu cho C với số
tiền 50.000đồng đến 100.000đồng.
Với cách thức nêu trên, từ ngày 23/9/2018 Lê Văn C bắt đầu tổ chức đánh bạc,
thời gian sòng bạc hoạt động khoảng từ 12 giờ đến 21 giờ hàng ngày. Trong quá trình
tổ chức đánh bạc, C thuê L, D, và Lê Trung H cảnh giới và chở con bạc từ khu vực
cầu Đ thuộc thôn X, xã A đến sòng bạc; thuê Bùi Đại P tuần tra, canh gác ngay tại
khu vực xung quanh sòng bạc, với mức tiền công cho mỗi người là 300.000đ/ngày.
Ngày 26/9/2018, Lê Văn C tiếp tục tổ chức cho Trần Quốc T, Nguyễn P, Lê
Hoàng V, Lê K, Lê Đình V, Trương Văn X, Võ Minh N và Nguyễn Ngọc V đánh bạc
với hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền từ 20 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực
lượng Công an TP Tuy Hòa bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc với số tiền 20.680.000
đồng cùng với nhiều đồ vật, tài sản khác. Riêng Phạm Như L, Huỳnh Từ D, Bùi Đại P
và Lê Trung H bỏ chạy thoát.
Ngoài ra, cơ quan điều tra còn thu giữ số tiền trên người của các con bạc gồm:
Trần Quốc T 5.100.000đồng sẽ dùng để đánh bạc; Nguyễn P 20.000.000đồng, trong
đó có 5.000.000đồng sẽ dùng để đánh bạc; Lê Hoàng V 1.300.000đồng sẽ dùng để
đánh bạc; Lê K 70.000đồng sẽ dùng để đánh bạc; Lê Đình V 30.000đồng sẽ dùng để
đánh bạc và Trương Văn V 3.400.000đồng nhưng không dùng để đánh bạc. Như vậy,
tổng số tiền thu giữ trên người các con bạc mà họ sẽ dùng để tiếp tục đánh bạc là
11.500.000đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2020/HSST ngày 25/8/2020 của Tòa án nhân
dân thành phố Tuy Hòa đã xử:
Tuyên bố các bị cáo Lê Văn C, Phạm Như L, Huỳnh Từ D, Bùi Đại P, Lê Trung
H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Áp dụng Điểm c, d Khoản 1, 3 Điều 322; Điểm s
Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: phạt Lê Văn C 01 năm 09 tháng tù, phạt bổ sung Lê
Văn C 30.000.000đồng; phạt Phạm Như L 01 năm 03 tháng tù; phạt Huỳnh Từ D 01
năm tù; phạt Bùi Đại P 01 năm 03 tháng tù. Áp dụng điểm c, d, đ khoản 1 Điều 322;
điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; phạt Lê Trung H 01 năm 06 tháng tù.
Các bị cáo Trần Quốc T, Nguyễn P, Lê Hoàng V, Lê K, Lê Đình V, Trương
Văn X, Võ Minh N, Nguyễn Ngọc V phạm tội “Đánh bạc”. Áp dụng khoản 1, 3 Điều
321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Riêng bị cáo Nguyễn Phố áp dụng
thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: phạt Nguyễn Phố 01 năm 03 tháng tù;
phạt Trương Văn X 09 tháng tù; phạt Trần Quốc T 09 tháng tù; phạt Lê Hoàng V 09
5
tháng tù; phạt Nguyễn Ngọc V 09 tháng tù; phạt Lê Đình V 09 tháng tù; phạt Lê K 09
tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng; phạt Võ Minh N 09
tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên phần trách nhiệm dân sự, phần xử lý vật
chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vào các ngày 26/8/2020, 28/8/2020, 31/8/2020, 04/9/2020, 06/9/2020 bị cáo
Huỳnh Từ D, Phạm Như L, Nguyễn P, Lê Trung H, Trần Quốc T kháng cáo xin giảm
nhẹ hình phạt.
Vào các ngày 26/8/2020, 31/8/2020, 01/9/2020, 04/9/2020, bị cáo Lê Đình V,
Lê Hoàng V, Nguyễn Ngọc V, Lê Văn C, Bùi Đại P kháng cáo xin hưởng án treo.
Ngày 28/8/2020, bị cáo Trương Văn X kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và
xin được áp dụng hình phạt bằng tiền.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo Lê Văn C, Lê Hoàng V bổ
sung kháng cáo xin giảm hình phạt.
- Luật sư Ngô Minh T bào chữa cho bị cáo Lê Văn C cho rằng: gia đình bị cáo
có hoàn cảnh khó khăn, cha bị cáo đã chết, mẹ bị cáo lớn tuổi hay đau ốm, bị cáo
đang nuôi cháu ruột 05 tuổi không có cha mẹ. Sau khi xử sơ thẩm, bị cáo đã nhận
thức được việc làm sai trái của mình nên đã vay mượn 30 triệu đồng để nộp phạt bổ
sung theo quyết định của bản án sơ thẩm, bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối cải nên đề
nghị Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng
xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các
bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục: Đối với các bị cáo Phạm Như L, Bùi Đại P, Lê Đình V, Nguyễn
Ngọc V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 2 lần nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa nên Hội
đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bị cáo này.
[2]. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội đúng
như nội dung cáo trạng đã truy tố và thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xử đúng người,
đúng tội. Vì vậy, đủ cơ sở xác định Bản án sơ thẩm xét xử và kết tội đối với các bị cáo
là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Xét kháng cáo của các bị cáo thấy rằng:
[3.1]. Đối với bị cáo Lê Văn C: Là người giữ vai trò chính trong việc tổ chức
đánh bạc. Bị cáo C thuê bị cáo L và D chặt cây, mua bạt nhựa dựng thành lều; chuẩn
bị dụng cụ để làm nơi tổ chức đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức xóc đĩa để
thu tiền xâu. C thuê L, D, và H cảnh giới và chở con bạc từ khu vực cầu Đ thuộc thôn
6
X, xã A đến nơi đánh bạc; thuê Bùi Đại P tuần tra, canh gác ngay tại khu vực xung
quanh, trả công cho các bị cáo khác. Với hình thức tổ chức như vậy, có nhiều con bạc
ở những địa phương khác nhau đến tham gia đánh bạc, gây mất trật tự trị an tại địa
phương. Tuy Lê Văn C chưa có tiền án, tiền sự nhưng hành vi của bị cáo nghiêm
trọng, xâm phạm đến trật tự công cộng mà cụ thể là xâm phạm nếp sống văn minh của
xã hội, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Giữa lúc Đảng và Nhà nước ta đang đẩy
mạnh phong trào toàn dân đoàn kết, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, xóa
đói giảm nghèo thì bị cáo lại đứng ra thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc dưới hình
thức xóc đĩa được thua bằng tiền, là một tệ nạn của xã hội, đi ngược lại chủ trương
chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ
của hành vi phạm tội của bị cáo và xử phạt bị cáo Lê Văn C 01 năm 09 tháng tù là
phù hợp. Tuy nhiên, bị cáo C có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, số tiền thu lợi không
lớn (1.900.000 đồng); hiện tại hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động
duy nhất nuôi mẹ là người cao tuổi, thường xuyên ốm đau và nuôi 01 cháu ruột 05
tuổi không có cha mẹ. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã nhận thức được việc làm sai
trái, đã vay mượn để nộp đủ số tiền 30.000.000 đồng mà Tòa án cấp sơ thẩm phạt bổ
sung đối với bị cáo, là thể hiện thái độ thực sự ăn năn hối cải và là tình tiết mới phát
sinh ở giai đoạn xét xử phúc thẩm. Vì vậy, chấp nhận kháng cáo, sửa án sơ thẩm,
giảm cho bị cáo C một phần hình phạt, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Pháp
luật Nhà nước mà yên tâm cải tạo.
[3.2]. Đối với bị cáo Phạm Như L, Bùi Đại P: Các bị cáo đồng phạm với vai
trò là người giúp sức tích cực trong tội tổ chức đánh bạc, được bị cáo C thuê chuẩn bị
lều bãi, cảnh giới và chở người đến địa điểm đánh bạc. Về nhân thân cả hai bị cáo đều
đã bị xét xử và kết án về tội tổ chức đánh bạc. Ngoài lần phạm tội này bị phát hiện xử
lý, chỉ hai tháng sau hai bị cáo này tiếp tục tham gia tổ chức đánh bạc, bị khởi tố và
ngày 09/6/2020, bị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm phạt 03 năm tù về
tội “Tổ chức đánh bạc”. Do đó, mức án 01 năm 03 tháng tù cấp sơ thẩm áp dụng đối
với bị cáo L, P là phù hợp nên không chấp nhận kháng cáo xin giảm của bị cáo L và
không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo P.
[3.3]. Đối với bị cáo Lê Trung H: Bị cáo cũng đồng phạm với vai trò là người
giúp sức trong việc tổ chức đánh bạc, được bị cáo C thuê cảnh giới và chở người đến
địa điểm đánh bạc. Tuy nhiên, H mới tham gia ngày đầu tiên 26/9/2018, chở một
chuyến 2 người thì bị phát hiện, chưa được nhận tiền công từ bị cáo C. Tính chất, mức
độ hành vi phạm tội của bị cáo H thấp hơn bị cáo P và L nhưng án sơ thẩm xử bị cáo
01 năm 06 tháng tù cao hơn mức án áp dụng đối với bị cáo P và L là có phần nghiêm
khắc. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H đã thật thà khai báo và thực sự ăn
năn hối cải, là hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1
Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong nhóm các bị cáo phạm tội “tổ chức đánh bạc”, tính
chất mức độ phạm tội của bị cáo H thấp nhất nên áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự, xử
dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội
phạm. Vì vậy, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt
để bị cáo thấy được sự công bằng của pháp luật mà yên tâm cải tạo.
7
[3.4]. Đối với bị cáo Huỳnh Từ D: Bị cáo đồng phạm với vai trò là người giúp
sức trong tội tổ chức đánh bạc, được bị cáo C thuê chuẩn bị lều bãi, cảnh giới và chở
người đến địa điểm đánh bạc, được nhận tiền công 900.000 đồng. Bị cáo D có nhân
thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn (hộ cận nghèo), vợ bị
bệnh động kinh, con bị khuyết tật teo bán cầu não. Bị cáo D đã thật thà khai báo và
thực sự ăn năn hối cải, là hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm
s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo lần đầu phạm tội nên áp dụng Điều 54 Bộ
luật hình sự, xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục
và phòng ngừa tội phạm. Vì vậy, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm cho bị cáo
một phần hình phạt, để bị cáo yên tâm cải tạo.
[3.5]. Đối với bị cáo Nguyễn P: Bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích,
nhân thân có 03 lần bị kết án trong đó có 01 lần bị kết án về tội đánh bạc, lại tiếp tục
tham gia đánh bạc nên cần phải xử lý nghiêm. Tuy nhiên, bị cáo đem tiền đi trả nợ 15
triệu, còn 5 triệu đồng đi mua gà để bán nhưng do ham vui nên mới tham gia chơi thời
gian được khoảng 1 giờ, thua mất mấy trăm nghìn đồng thì bị bắt. Mức án 01 năm 03
tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo P có phần nghiêm khắc. Vì
vậy, Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm, giảm cho bị cáo một phần hình phạt, để bị cáo
yên tâm cải tạo.
[3.6]. Đối với bị cáo Trần Quốc T, Lê Hoàng V và Trương Văn X: Là những
bị cáo có nhân thân xấu, lại tiếp tục tham gia đánh bạc nên cần phải cách ly khỏi đời
sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Tuy
nhiên,các bị cáo đều là nông dân, chỉ vì ham vui mà tham gia đánh bạc, số tiền dùng
vào việc đánh bạc không lớn (T 5.100.000 đồng; Hoàng V 1.300.000 đồng); mức án
09 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với 03 bị cáo này là có phần nghiêm
khắc. Vì vậy, Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm, giảm cho bị cáo T, Hoàng V và X một
phần hình phạt, để các bị cáo yên tâm cải tạo.
[3.7]. Đối với bị cáo Lê Đình V và Nguyễn Ngọc V: Là những bị cáo có nhân
thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, lẽ ra có thể xem xét cho hưởng án treo nhưng sau khi
phạm tội, cả hai bị cáo này bỏ trốn, cơ quan tiến hành tố tụng đã truy nã nên không đủ
điều kiện để được hưởng án treo, vì thế không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo
của các bị cáo. Tuy nhiên, các bị cáo tham gia đánh bạc thuộc trường hợp phạm tội
lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tình tiết giảm nhẹ này chưa được cấp sơ
thẩm áp dụng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và giảm cho bị cáo
Đình Việt và Vinh một phần hình phạt, để các bị cáo yên tâm cải tạo.
[4]. Về án phí: Các bị cáo Lê Văn C, Lê Trung H, Huỳnh Từ D, Nguyễn P, Trần
Quốc T, Lê Đình V, Lê Hoàng V, Nguyễn Ngọc V, Trương Văn X kháng cáo được chấp
nhận không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[5]. Các bị cáo Bùi Đại P, Phạm Như L kháng cáo không được chấp nhận nên
phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[6]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
đã có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử không xét.
8
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo, giữ
nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với hai bị cáo Bùi Đại P, Phạm Như L;
Căn cứ Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ
thẩm về hình phạt đối với các bị cáo Lê Văn C, Lê Trung H, Huỳnh Từ D, Nguyễn P,
Trần Quốc T, Lê Đình V, Lê Hoàng V, Nguyễn Ngọc V, Trương Văn X.
[1]. Tuyên bố các bị cáo Lê Văn C, Phạm Như L, Huỳnh Từ D, Bùi Đại P, Lê
Trung H phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
Áp dụng điểm c, d Khoản 1 Điều 322; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình
sự đối với các bị cáo Lê Văn C, Phạm Như L, Huỳnh Từ D, Bùi Đại P, Lê Trung H;
Áp dụng điểm đ Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Trung H; Áp
dụng khoản 3 Điều 322 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Văn C;
- Xử phạt Lê Văn C 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án,
được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 26/9/2018 đến ngày 05/10/2018.
Phạt bổ sung bị cáo Lê Văn C 30.000.000 đồng để nộp vào Ngân sách Nhà
nước, được khấu trừ vào số tiền đã nộp tại Biên lai thu tiền số 0002239 ngày 22 tháng
01 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa (đã thi hành xong);
- Xử phạt Phạm Như L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ
ngày bắt thi hành án;
- Xử phạt Bùi Đại P 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi
hành án.
- Xử phạt Huỳnh Từ D 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi
hành án;
-Xử phạt Lê Trung H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
[2]. Tuyên bố các bị cáo Trần Quốc T, Nguyễn P, Lê Hoàng V, Lê Đình V,
Trương Văn X, Nguyễn Ngọc V phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1, 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Áp dụng
điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Đình V và Nguyễn Ngọc V;
Áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn P:
- Xử phạt Nguyễn P 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án,
được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 26/9/2018 đến ngày 05/10/2018;
- Xử phạt Trần Quốc T 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành
án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 26/9/2018 đến ngày 05/10/2018;
- Xử phạt Lê Hoàng V 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành
án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 26/9/2018 đến ngày 05/10/2018;
- Xử phạt Trương Văn X 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi
hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 26/9/2018 đến ngày 05/10/2018;
9
- Xử phạt Lê Đình Việt 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành
án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 26/9/2018 đến ngày 05/10/2018;
- Xử phạt Nguyễn Ngọc V 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi
hành án, được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 26/9/2018 đến ngày 29/9/2018;
Phạt bổ sung các bị cáo Trần Quốc T, Nguyễn P, Lê Hoàng V, Lê Đình V,
Trương Văn X, Nguyễn Ngọc V mỗi người 10.000.000 đ(Mười triệu đồng).
[3]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án
phí, lệ phí Tòa án, các bị cáo Lê Văn C, Lê Trung H, Huỳnh Từ D, Nguyễn P, Trần
Quốc T, Lê Đình V, Lê Hoàng V, Nguyễn Ngọc V, Trương Văn X không phải chịu án
phí hình sự phúc thẩm.
Các bị cáo Bùi Đại P, Phạm Như L mỗi người phải chịu 200.000 đ(Hai trăm
nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
[4]. Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Bị cáo;
- VKSND tỉnh Phú Yên (02 bản);
- TAND TP Tuy Hòa, Phú Yên (02 bản);
- Người bào chữa;
- PV 27;
- CQ THAHS Công an TP Tuy Hòa, Phú Yên;
- Sở tư pháp tỉnh Phú Yên;
- Phòng KTNV và THA;
- Lưu HSHS, lưu án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Minh Thu
10
11
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 10/04/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 10/04/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 03/04/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 26/03/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 26/03/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 22/03/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 22/03/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 14/03/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 23/02/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 21/02/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 18/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 11/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 10/01/2024
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 22/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 20/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 19/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 14/12/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 30/11/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 29/11/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 21/11/2023
Cấp xét xử: Phúc thẩm