Bản án số 23/2019/HNGĐ-ST ngày 16/04/2019 của TAND tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 23/2019/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 23/2019/HNGĐ-ST ngày 16/04/2019 của TAND tỉnh Hải Dương về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Hải Dương
Số hiệu: 23/2019/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/04/2019
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG
Bản án số: 13/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 16/4/2019
“V/v tranh chấp ly hôn”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Cường
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khóa.
Bà Dương Thị Kim Hồng.
- Thư phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư Tòa án nhân dân tỉnh
Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Hà Thị Hiệp -
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 16 tháng 04 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải
Dương xét xử thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ số
82/2018/HNGĐ TLST ngày 11/6/2018 về Tranh chấp ly hôn. Theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16A/2019/QĐ - ST ngày 05/3/2019
quyết định hoãn phiên tòa số 09/2019/QĐ-ST ngày 15/3/2019 giữa:
1. Nguyên đơn: Hà Thị D, sinh ngày 28/02/1984.
Nơi ở hiện nay : Thôn V, xã C, huyện G, tỉnh Hải Dương ( vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Byeon Gwon S, sinh ngày 25/7/1962.
Địa chỉ hiện nay : Số 560 -9 Phường G, quận G, thành phố S, Hàn
Quốc ( vắng mặt).
NỘI D VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn Thị D trình bày:
Qua trung tâm môi giới hôn nhân chị đã biết kết hôn với ông Byeon Gwon
S ( Quốc tịch Hàn Quốc) ngày 11/9/2009 tại Sở pháp - UBND tỉnh Hải
Dương. Sau khi đăng kết hôn được 2 tháng đã sang Hàn Quốc đoàn tụ
với chồng. Trong thời gian chung sống tại Hàn Quốc, do chênh lệch về tuổi
tác ngôn ngữ nên vợ chồng sống không hạnh phúc. Đến cuối năm 2010
bỏ về Việt Nam, từ đó vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Nay xác định
tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn
ông Byeon Gwon S.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: D xác định vợ chồng không
con chung, không tài sản chung, nợ chung nên không đnghị Tòa án
giải quyết.
2
Do điều kiện công việc nên chị đề nghị được giải quyết vắng mặt
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu ý kiến về
việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử; việc chấp
hành pháp luật của đương sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về
quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu trong hồ cho thấy mâu
thuẫn của bà Thị D ông Byeon Gwon S đã kéo dài, mục đích hôn nhân
không đạt được. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi
kiện, xử cho bà D được ly hôn ông Byeon Gwon S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án xem xét ý kiến
của các đương sự, quan điểm đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận
định:
[1].Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án D cung cấp địa chỉ
của ông Byeon Gwon S tại số 560 9 phường G, quận W, Tp. S, Hàn Quốc
địa chỉ khi sang Hàn Quốc sinh sống kết hôn cùng chồng. Ngoài địa
chỉ trên D không cung cấp được địa chỉ nào khác. Tòa án đã ủy thác
pháp cho quan thẩm quyền của Đại Hàn Dân Quốc nhưng không thực
hiện được địa chỉ không đầy đủ. Ngày 22 tháng 10 năm 2018, Tòa án đã
gửi công văn số 29/2018/CV-TA cho Đại Sứ Quán Việt Nam tại Hàn Quốc,
đề nghị đăng toàn bnội D yêu cầu ly hôn giữa Thị D ông Byeon
Gwon S trên cổng thông tin điện tử của quan đại diện Nước Cộng hòa
hội chủ nghĩa Việt Nam tại nước ngoài, đồng thời đăng thông báo trên cổng
thông tin điện tử của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Đến ngày 07/3/2019,
Tòa án nhận được công điện số 062/ĐSQ-LS của Đại sứ quán Việt Nam tại
Hàn Quốc thể hiện việc đã đăng trên Cổng thông tin điện tự của Đại sứ quán
30 ngày nhưng đương sự không đến nhận hồ sơ tống đạt. Nên căn cứ khoản 1
Điều 228; điểm c khoản 6 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân s, Hội đồng xét x
vắng mặt bà D và ông Byeon Gwon S.
[2]. Về nội D:
- Về quan hệ hôn nhân: Thị D ông Byeon Gwon S kết hôn
trên sở tự nguyện, đăng kết hôn ngày 11/9/2009 tại Sở pháp -
UBND tỉnh Hải Dương hôn nhân hợp pháp. D đã có thời gian sang Hàn
Quốc đoàn tụ với chồng, nhưng do bất đồng ngôn ngữ, tuổi tác nên chị đã
chốn ra ngoài sinh sống, đến cuối năm 2010 về Việt Nam. Từ đó hai bên
không liên lạc với nhau, không trách nhiệm với nhau. Như vậy, hai bên
thời gian sống ly thân đã lâu, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên chấp
nhận yêu cầu ly hôn của D; tạo điều kiện để các bên sớm ổn định cuộc
sống.
3
- Về con chung, tài sản chung, nợ chung: D xác định không có,
không đề nghị Tòa án giải quyết.
[3].Về án phí: Bà D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy
định của pháp luật.
Vì những lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 147; Khoản 1 Điều
228; Điểm c khoản 6 Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí
lệ phí; Nghị quyết s326/QH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án
phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. V quan h hôn nhân: X cho bà Hà Th D đưc ly hôn ông Byeon Gwon
S.
2. Về án phí: Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng)
án phí hôn nhân gia đình thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng án phí
300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0001533
ngày 11 tháng 6 năm 2018 tại chi Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương.
D đã nộp đủ án phí.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Thị D, ông Byeon Gwon S được quyền
kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể tngày nhận được bản án hoặc
bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
( Đã ký)
Nguyễn Mạnh Cường
Tải về
Bản án số 23/2019/HNGĐ-ST Bản án số 23/2019/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất