Bản án số 23/2018/DSPT ngày 10/04/2018 của TAND tỉnh Phú Yên về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 23/2018/DSPT

Tên Bản án: Bản án số 23/2018/DSPT ngày 10/04/2018 của TAND tỉnh Phú Yên về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND tỉnh Phú Yên
Số hiệu: 23/2018/DSPT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 10/04/2018
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH PHÚ YÊN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯ _______________________
Bản án số: 23/2018/DSPT
Ngày: 10/4/2018
V/v: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất
.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Tấn Hoàng
Các Thẩm phán: Ông Lương Quang
Bà Lê Thị Thái Lan
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang -Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Trần Thị
Thu Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm
công khai vụ án thụ số: 87/2017/TLPT- DS ngày 27 tháng 10 năm 2017 vtranh chấp
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Do bản án dân sự thẩm số: 23/2017/DSST ngày 05 tháng 9 năm 2017 của Tòa án
nhân dân huyện S, tỉnh Phú Yên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa ván ra xét xử phúc thẩm số:109/2017/QĐ-PT ngày 20 tháng
12 năm 2017 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Văn S- sinh năm 1965. Có mặt
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T- sinh năm 1971. Có mặt
Đồng cư trú tại: thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Nguyễn Thị H- sinh năm 1970. Có mặt
Anh Nguyễn Văn T- sinh năm 1991.Vắng mặt
Anh Nguyễn Văn N- sinh năm 1994.Vắng mặt
Ông Nguyễn Văn B- sinh năm 1960.Vắng mặt
Tất cả đồng trú tại: thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên.
Nguyễn Thị Ấ- sinh năm 1951. Vắng mặt
TT: KP B, thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên.
Nguyễn Thị Đ- sinh năm 1955. Vắng mặt
TT: KP T, thị trấn C, huyện S, tỉnh Phú Yên.
Ủy ban nhân dân xã S
Đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Công T- sinh năm 1985
Chức vụ: Công chức địa chính- xây dựng . Vắng mặt
Chi nhánh Ngân hàng NN và PTNT huyện S, tỉnh Phú Yên.
Đại diện ủy quyền: Ông Vũ Anh T- sinh năm 1977. Phó giám đốc. Vắng mặt
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn T- sinh năm 1971, Nguyễn Thị H- sinh năm
1970, các anh: Nguyễn Văn T Nguyễn Văn N- sinh năm 1994.Tất cả Bị đơn,
người có quyền và nghĩa vụ liên quan trong vụ án nêu trên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 15.11.2016, tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn
ông Võ Văn S trình bày: Năm 2001 ông nhận chuyển nhượng diện tích 740m² đất sản
xuất nông nghiệp của ông Nguyễn Văn T. Tọa lạc: Xứ đồng C, thôn T, S, huyện S, tỉnh
Phú Yên với số tiền: 700.000đ (bảy trăm ngàn đồng). Việc chuyển nhượng hai bên lập
giấy chuyển nhượng ghi ngày 30.5.2001và ông đã sản xuất trực tiếp trên đất này. Đầu năm
2016 ông Nguyễn Văn T cho rằng đất tranh chấp là của ông, thời hạn chuyển nhượng đã hết
nên ngang nhiên lấy lại đất. Tại tòa,yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất và buộc ông T phải trả lại đất cho ông.
Tài liệu tại hồ tại phiên tòa Bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày: Ông thống
nhất với lời trình bày của ông S, về nguồn gốc đất chuyển nhượng là của gia đình ông được
nhà nước cấp theo NĐ 64/CP đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 14.12.1995,
ông không tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng với ông S lập ngày 30.5.2001. Nhưng căn
cứ vào giấy chuyển nhượng các bên đã thỏa thuận: Ông S sử dụng đất này cho đến khi nhà
nước chia đất lại, sau 20 năm thì ông S phải trả lại đất cho ông, tính đến nay thời hạn đã hết
nên lấy lại đất để trực tiếp sản xuất.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Các ông, bà Nguyến Thị , Nguyễn Thị Đ,
Nguyễn Văn B, Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N thống nhất trình bày:Nhà
nước giao đất cho hộ gia đình chúng tôi 20 năm, trong đó diện tích 740m² các bên đang
tranh chấp, việc cấp đất là theo NĐ 64/CP do ông Nguyễn Văn S đại diện đứng tên, còn việc
chuyển nhượng đất giữa ông S và ông T tự ý chứ chúng tôi không biết, riêng H biết
việc chuyển nhượng đất nhưng không phản đối, nay xảy ra tranh chấp chúng tôi thống nhất
như lời trình bày của ông Nguyễn Văn T.
Đại diện Ủy ban nhan dân S trình bày: Việc tranh chấp giữa các bên UBND
không có ý kiến, đề nghị Tòa giải quyết theo quy định pháp luật.
Đại diện Chi nhánh NHNN và PTNT huyện S trình bày: Các bên đang tranh chấp diện
tích đất 740m² một phần trong tổng diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận QSD đất
đứng tên ông Nguyễn Văn T đang thế chấp vay vốn tại Chi nhánh ngân hàng. Diện tích đất
tranh chấp có liên quan đến giấy chứng nhận QSD đất mà ông T đang thế chấp, nhưng ngoài
diện tích này vẫn còn nhiều diện tích khác, nên không ảnh hưởng đến tài sản thế chấp. Do
đó ngân hàng không có ý kiến gì.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 23/2017/DSST ngày 05.9.2017 của Tòa án nhân dân
Huyện S, đã quyết định:
Áp dụng: Khoản 01 Điều 147, khoản 01 Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các
Điều 08, 129, 500 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 10,24 Điều 3 khoản 3
Điều 126.
Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn T phải giao trả cho ông Văn S toàn bộ diện tích đất
740m² tại thửa 137, tờ bản đồ số 08 ( nay thuộc thửa đất 519 tờ bản đồ số 71, bản đđịa
chính năm 2012). Tại thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí định giá, quyền kháng cáo.
- Ngày 18 tháng 9 năm 2017 bị đơn người quyền lợi nghĩa vụ liên quan (bà
H, các anh: Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N) có đơn kháng cáo: Không đồng ý quyết định của
bản án sơ thẩm đã tuyên đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại.
Tại phiên tòa phúc thẩm :
- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Bị đơn những người quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên nội yêu cầu
kháng cáo.
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong
quá trình giải quyết vụ án giai đoạn phúc thẩm của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký, các
đương sự đúng quy định.Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS đề nghị giữ
nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ tại hồ ván được thẩm tra tại phiên tòa;
căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến các bên đương sự, kiểm sát viên.
Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về yêu cầu kháng cáo của Bị đơn những người quyền, nghĩa vliên
quan:
Đối tượng tranh chấp của các đương sự đối với diện tích đất: 770m² nhưng đo đạc
thực tế 740m² thuộc số tờ bản đồ 8, thửa 137 (theo bản đồ địa chính năm 2012 thuộc thửa
đất 519 tờ bản đồ số 71) đã được UBND huyện S cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày
14.12.1995 đứng tên ông Nguyễn Văn T. Tọa lạc : tại thôn T, S, huyện S, tỉnh Phú Yên.
Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn T và ông Võ Văn S đều thống nhất hợp đồng chuyển nhượng
QSD đất lập ngày 30.5.2001 là ý chí tự nguyện của các bên không tranh chấp.Sau khi giao
kết hai bên đã giao đất nhận đủ tiền, ông Siều đã sử dụng đất liên tục từ đó không ai
tranh chấp, ông T chỉ yêu cầu ông S trả lại đất đã chuyển nhượng thời hạn chuyển
nhượng đã hết.
Xét nội dung, hình thức hợp đồng ông Nguyễn Văn T chuyển nhượng diện tích đất
740m² cho ông Võ Văn S ngày 30.5.2001 là một phần trong tổng diện tích đất 7.115m² được
cấp theo quy định 64/CP cho các nhân khẩu : Thị H, ông Nguyễn Văn T,
Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn T Nguyễn Văn N do ông Nguyễn Văn T đại diện đứng
tên đã được UBND huyện S cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 14.12.1995, khi ông T
chuyển nhượng đất cho ông S thì các thành viên trong hộ gia đình ông T không biết, sau đó
H vợ ông T biết nhưng không phản đối. Như vậy, việc chuyển nhượng đất giữa ông T
và ông S là chưa tuân thủ về hình thức của hợp đồng chuyển nhượng QSD đất theo quy định
của pháp luật, nhưng xét thấy diện tích ông T chuyển nhượng chỉ một phần thuộc số tờ bản
đồ 8, thửa 137 chứ không phải toàn bộ diện tích đất 7.115m² cân đối theo nghị định 64/CP
cho 05 nhân khẩu, nên không ảnh hưởng đến quyền lợi của các thành viên khác trong hộ gia
đình. Mặc khác, sau khi chuyển nhượng hai bên đã thực hiện xong việc giao đất nhận
tiền, các thành viên trong hộ không phản đối.Tại phiên tòa ông T cho rằng, trong hợp đồng
thể hiện ông S sử dụng diện tích đất cho đến khi nhà nước chia đất lại, sau 20 năm thì
ông S phải trả lại đất cho ông trực tiếp sản xuất, nhưng qua kiểm tra nội dung này không
trong hợp đồng.
Từ những căn cứ trên, theo quy định tại điều 129 của Bộ luật dân sự năm 2015
khoản 3 Điều 210 Luật đất đai năm 2013 cấp sơ thẩm quyết định là có căn cứ pháp luật, nên
không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, chấp nhận
lời đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[2] Về án phí : Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn T người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N. Giữ nguyên quyết định
của bản án sơ thẩm.
Áp dụng Điều 129,500, 688 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 210
khoản 3 Điều 126 Luật đất đai năm 2013.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của ông Võ Văn S theo đơn khởi kiện đề ngày 15/11/2016.
Buộc ông Nguyễn Văn T đại diện cho hộ gia đình phải trả cho ông Văn S 740m²
đất tại thửa 137, tờ bản đồ số 08 (nay thuộc thửa đất 519 tờ bản đồ số 71, bản đồ địa chính
năm 2012), tại thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên. Như biên bản định giá tài sản do TAND
huyện S lập ngày 21/7/2017 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00142 của UBND
huyện S cấp ngày 14/12/1995.
Kiến nghị quan thẩm quyền điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số 00142 ngày 14/12/1995 của UBND huyện S đã cấp cho ông Nguyễn Văn T, chuyển cho
ông Võ Văn S theo diện tích và số thửa như trên.
Về chi phí định giá tài sản: Căn cứ Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự
Ông Nguyễn Văn T phải chịu 2.000.000đ tiền chi phí định giá. Ông Võ Văn S đã nộp
tạm ứng, nên ông Nguyễn Văn T phải hoàn trả lại cho ông S 2.000.000đ.
Về án phí: Căn cứ Điều 147, 148 của Bộ luật tố tụng dân sự
Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000đ tiền án phí DSST 300.000đ án phí dân sự
phúc thẩm, nhưng được trừ vào số tiền ông T đã tạm nộp án phí phúc thẩm là 300.000đ tại
biên lai số: 0744 ngày 22 tháng 9 năm 2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện S, nên ông
T còn phải chịu 300.000đ án phí DSST
Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn N mỗi người phải chịu 300.000đ
án phí DSPT, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm mỗi người đã nộp
300.000đ theo các biên lai: 0755, 0754, 0756 cùng ngày 06.10.2017 tại Chi cục THADS
huyện S. Bà H, anh T, N đã nộp đủ.
Hoàn lại cho ông Võ Văn S 300.000đ tiền tạm ứng án phí DSST theo biên lại số 0565
ngày 20.3.2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện S.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì
người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án,
quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực
hiện theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
-TAND cấp cao tại Đà Nẵng; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Phú Yên(2);
- TAND huyện S (2);
- CC THADS huyện S;
- P.GĐKT;
- VP-TNV;
- Các đương sự; MAI TẤN HOÀNG
Tải về
Bản án số 23/2018/DSPT Bản án số 23/2018/DSPT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất