Bản án số 22/2023/HS-PT ngày 21/02/2023 của TAND cấp cao về tội làm giả, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
  • Bản án 22/2023/HS-PT

    Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

  • Bản án 22/2023/HS-PT

    Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 22/2023/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 22/2023/HS-PT ngày 21/02/2023 của TAND cấp cao về tội làm giả, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
Tội danh: 341.Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao
Số hiệu: 22/2023/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 21/02/2023
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Nguyễn Thị Mỹ L tội làm giả, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG
Bản án số: 22/2023/HS-PT
Ngày: 21-02-2023
CỘNG HÒA XÃ HỘI CH NGHĨA VIỆT NAM
Độc lp - T do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
C CỘNG HÒA XÃ HỘI CH NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hi đồng xét xử phúc thẩm gm có:
Thẩm phán - Ch ta phiên tòa:
ông Đinh Phước Hòa
Các thẩm phán:
ông Lê Phước Thanh
ông Trn Quc Cường
- Thư phiên tòa: ông Phạm Minh Hoàng, Thư Tòa án nhân dân cấp
cao tại Đà Nẵng.
- Đại din Vin kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên
tòa: ông Nguyn Chiến, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2023, ti đim cầu trung tâm tr s Tòa án nhân dân
cp cao tại Đà Nẵng tại điểm cầu thành phần tr s Tòa án nhân dân tỉnh
Quảng Ngãi (cơ sở tm ti Tr s Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tnh Qung
Ngãi), xét x phúc thẩm ng khai bằng hình thức trc tuyến v án hình s th
s 12/2023/TLPT-HS ngày 09 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo Nguyn Th M
L v ti “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” “Làm giả, s dụng tài liu gi của
quan, t chc”. Do kháng cáo của b hi đối vi Bn án hình sự thẩm s
07/2022/HS-ST ngày 07/12/2022 của Tòa án nhân dân tnh Quảng Ngãi.
B cáo bị kháng cáo:
Nguyễn Thị Mỹ L; sinh ngày 27/10/1984, tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi trú:
Tổ dân phố 04, phường N, thị Đ, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Nguyên
nhân viên Nhà máy gạch Tuynel P thuộc Công ty CP xây lắp khí A; trình
độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt
Nam; con ông Nguyễn Tăng T (Chết) Đỗ ThKim C; chồng Huỳnh
Ngọc M 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự:
Không; bị bắt tạm giam từ ngày 30/9/2021 cho đến nay;
- Người bị hại có kháng cáo:
Bà Huỳnh Thị Thanh T, sinh năm 1983; trú tại: tỉnh Qung Ni. Có mt
- Người bị hại:
2
1. Bà Nguyễn Thị Mộng Q, sinh năm 1982;
Trú tại: Tổ dân phố 3, Phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
2. Bà Trần Thị Kim C, sinh năm 1966;
Trú tại: Số 560 đường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1951;
Trú tại: Tổ dân phố 4, Phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
2. Bà Phạm Thị Thúy T, sinh năm 1984;
Trú tại: Tổ dân phố 3, Phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Có đơn xin xử
vắng mặt
3. Ông Võ Minh C, sinh năm 1972;
Trú tại: tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
4. Bà Lê Thị Kim C, sinh năm 1978;
Trú tại:, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
5. Ông Đinh Quốc K, sinh năm 1980;
Trú tại: tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
6. Ông Mai Hưng T, sinh năm 1984.
Trú tại: tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
7. Ông Huỳnh Ngọc M, sinh năm 1981;
Trú tại: Tổ dân phố 4, phường N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ vụ án din biến tại phiên tòa, ni dung
v án được tóm tắt như sau:
Do mối quan hđồng nghiệp với nhau tại Công ty Cổ phần khí
xây lắp A nên vào khoảng giữa tháng 9/2019, Nguyễn Thị Mỹ L đặt vấn đề vay
tiền của Huỳnh Thị Thanh T, sinh năm 1983, trú tỉnh Quảng Ngãi. Ban đầu, L
đưa ra mục đích vay để đáo hạn ngân hàng với số tiền 350.000.000 đồng, bà T tin
tưởng nên ngày 23/9/2019 đã 02 lần chuyển tiền cho L vay với số tiền
350.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận lãi suất 2.000 đồng/triệu/ngày, thời hạn trả
đến ngày 27/9/2019, sau khi vay tiền L viết Giấy mượn tiềnnội dung thể
hiện mượn số tiền 350.000.000 đồng để đáo hạn ngân hàng (Bút lục 832).
Đến ngày 27/9/2019, L tiếp tục đặt vấn đề vay tiền của T với số tiền 01
tỷ đồng với mục đích trữ gạch bán kiếm lời nói T đưa thêm 650.000.000
đồng, cộng với số tiền 350.000.000 đồng vay lần trước là đủ 01 tỷ đồng. T
đồng ý, nên từ ngày 27/9/2019 đến ngày 10/10/2019, bà T 04 lần chuyển tiền cho
L vay với số tiền 646.500.000 đồng (vì bà T đã trừ số tiền lãi 3.500.000 đồng, của
khoản vay 350.000.000 đồng). Khi vay số tiền trên thì hai bên thỏa thuận lãi suất
3
vay là 25.000 đồng/triệu/tháng hai bên đã soạn thảo và Hợp đồng cho
nhân vay tiền” thể hiện L vay số tiền 01 tỷ đồng để mua gạch 6 lỗ TTA1, thời hạn
vay từ ngày 26/9/2019 đến ngày 26/3/2020.
Sau đó L tiếp tục đặt vấn đề vay của bà T số tiền 600.000.000 đồng để mua
gạch thẻ đặc của Nhà máy gạch Tuynel P trữ bán kiếm lời. Để tạo sự tin tưởng, L
đã đưa cho T Hợp đồng đại số 37/HĐNM ngày 20/9/2019, chữ của
L với ông Minh C - Giám đốc đóng dấu Nhà máy gạch Tuynel P nên ngày
17/10/2019 T đã đưa cho L vay số tiền 600.000.000 đồng, hai bên thỏa thuận
lãi suất vay 25.000 đồng/triệu/tháng, thời hạn trả đến ngày 26/3/2020. Sau khi
đưa tiền, T đưa tờ Hợp đồng nhân vay tiền L đã viết khi vay số tiền
01 tỷ đồng để L sửa lại thành số tiền vay 1,6 tỷ đồng (Bút lục 830). Ngày
24/10/2019 L đã chuyển trả tiền lãi vay chốt đến ngày 26/10/2019 cho bà T với số
tiền 27.460.000 đồng.
Trong khoảng thời gian từ ngày 04/11/2019 đến đầu tháng 10/2020 thông
qua mạng hội Zalo, L nhiều lần điện thoại nhắn tin với bà T nhờ T vay
tiền giúp với các do: để trữ gạch bán kiếm lời; để làm đáo hạn ngân hàng cho
khách hàng; cho chị dâu, cho ruột, cho anh C giám đốc nhà máy gạch, cho cấp
dưới của chồng (Đang làm Thị đội Đ) các mối tàu thuyền do bên ngân hàng
giới thiệu (Tất cả đều thể hiện trong nội dung tin nhắn). Trước khi vay tiền T
nói với L họ lấy lãi 2.000 đồng/triệu/ngày thì L nói sẽ trả cho T 3.000
đồng/triệu/ngày, còn nếu khoản vay nào bà T nói họ lấy 3.000 đồng/triệu/ngày thì
L nói sẽ trả cho bà T 4.000 đồng/triệu/ngày. Nghe L nói như vậy, T đồng ý vay
giúp cho L nên trong khoảng thời gian từ ngày 04/11/2019 đến đầu tháng 10/2020
T đã nhiều lần chuyển tiền cho L vay với tổng số tiền 35.916.160.000 đồng
và số tiền 5.722.671.000 đồng là tiền lãi vay L chưa trả cho T, L và bà T thống
nhất cộng dồn vào tiền gốc. Trong thời gian này L đã trả tiền gốc vay với số tiền
12.775.000.000 đồng và tiền lãi vay là 7.591.660.000 đồng.
Như vậy, trong khoảng thời gian từ ngày 23/9/2019 đến ngày 02/10/2020 L
đã vay với tổng số tiền là: 1.600.000.000 + 35.916.160.000 + 5.722.671.000 =
43.238.831.000 đồng (Trong đó tiền gốc thực tế L đã nhận là 37.512.660.000
đồng, tiền lãi chuyển qua gốc là 5.726.171.000 đồng), số tiền L đã trả :
(27.460.000 đồng+12.775.000.000 đồng+7.591.660.000 đồng) = 20.394.120.000
đồng (Bao gồm cả tiền gốc lãi vay, trong đó tiền gốc vay 12.775.000.000
đồng, tin lãi vay là 7.619.120.000 đồng), số tiền hin nay L chiếm đoạt ca bà T :
43.238.831.000 đồng - 20.394.120.000 đồng = 22.844.711.000 đồng. L T đã
c nhận số tiền tn là đúng, tất c đều giao dịch thông qua tài khon nn ng, ch
02 lần T đưa tiền mặt cho L với tổng số tiền 850.000.000 đồng 01 lần L tr
tiền mặt cho T với số tiền 170.000.000 đồng.
Bị cáo L khai nhận: Số tiền vay 01 tđồng L nói với T để trữ gạch thì
L đã sử dụng để trả tiền lãi vay cho Phạm Thị Thúy T khoảng 600.000.000
đồng, còn lại khoảng 400.000.000 đồng L vào gạch còn thiếu của Nhà máy.
Khi vay tiền L có đưa cho T 01 hợp đồng số 37/HĐNM ngày 20/9/2019 giữa Nhà
4
máy gạch Tuynel P với Nguyễn Thị Mỹ L theo sự chỉ đạo miệng của ông
Minh C - Giám đốc để T tin tưởng đưa tiền cho L vay. Tất cả stiền còn lại, khi
vay tiền L nói với T “mua gạch của Nhà máy để trữ qua tết bán kiếm lời, làm
đáo hạn ngân hàng cho khách hàng”, nhưng thực tế L đã sử dụng để trả tiền gốc,
lãi vay cho các trường hợp L đã vay trước đó, trả một phần gốc, lãi cho T
nộp tiền vào Nhà máy đvào gạch còn thiếu hụt, nhưng L không xác định
được stiền đã nộp bao nhiêu. Trước khi vay tiền của T, L đã vay nợ của rất
nhiều người như Phạm Thị Thúy T, Thị Ngọc A, Công ty tài chính A, P,
Ngân hàng A.
Đối chiếu nội dung tin nhắn đã trích xuất cuộc trò chuyện giữa chủ tài
khoản tên Thanh T(Huỳnh Thị Thanh T) với chủ tài khoản tên L P
(Nguyễn Thị Mỹ L), trong khoảng thời gian từ ngày 24/9/2019 đến 13/11/2020
Bản kết luận giám định số 862/KLGĐ-PC09 ngày 07/12/2020 của Phòng Kỹ
thuật hình sự Công an tỉnh (Bút lục 723-821), t số tiền T đưa tiền mặt,
chuyển khoản theo các giấy mượn tiền”, đã thể hiện việc L vay của T để trả
nợ cho những người L đã vay trước đó, rồi lại vay tiền của những người này trả
một phần gốc và lãi vay cho T (Vay, trả xoay vòng) nhằm tạo niềm tin để tiếp tục
vay tiền của bà T.
Xác minh tại phòng giao dịch Trà Câu ngân hàng A Đ, phòng giao dịch V
Đ phòng giao dịch BIDV Đ xác định L không liên hệ hay mối quan hệ
với các phòng giao dịch để làm đáo hạn ngân hàng cho khách hàng của phòng
giao dịch (Bút lục 906 - 908).
Xác minh tại Công ty Cổ phần xây lắp và cơ khí A làm việc với ông
Minh C Giám đốc Nhà máy gạch Tuynel P (Bút lục 849-851, 858 - 865, 1001 -
1004) được biết: Từ trước đến nay Nhà máy không hợp đồng đại với
Nguyễn Thị Mỹ L ông C không chỉ đạo cho L làm Hợp đồng số 37/HĐNM
ngày 20/9/2019 đvay tiền của T. Nhà máy không sự thiếu hụt gạch số
lượng lớn như L đã khai; việc thiếu hụt gạch trách nhiệm của Thủ kho chứ
không phải trách nhiệm của L (Bút lục 964 - 977, 1025 - 1034). Hàng năm Công
ty tiến hành kiểm kê hoạt động của các Nhà máy (Kiểm kê kho sổ sách, chứng
từ), kết quả: Năm 2018: Gạch 6 lỗ T/trường A1 thiếu 1.438 viên; gạch thẻ đặc
thiếu 31 viên; gạch 2 lỗ TD thiếu 02 viên (Giá khoảng 1000 đồng/viên) (Bút lục
860); Năm 2019: Không thiếu hụt gạch (Bút lục 861); Năm 2020: Gạch 6 lỗ
T/trường A1 thiếu 94.017 viên (Bút lục 862).
Quá trình điều tra, T đã giao nộp Hợp đồng đại số 37/HĐNM các
giấy tờ thể hiện số tiền L vay của bà T,
Tại Bản kết luận giám định số 861/KLGĐ-PC09, ngày 07/12/2020, Phòng
Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận: (Bút lục 835, 836):
+ Hình dấu tròn có nội dung: “Nhà máy gạch Tuynel P Công ty Cổ phần cơ
khí và xây lắp A” dưới cột mục “Đại diện bên A” và hình dấu giáp lai ở mép phải
trên trang 1 trang 2 của “Hợp đồng đại lý” số 37/HĐNM, đề ngày 20/9/2019
5
(ký hiệu Al) với hình dấu mẫu so sánh (ký hiệu M2) là do cùng một con dấu đóng
ra.
+ Hai hình dấu giáp lai mép phải trên trang 1 trang 2 của “Hợp đồng
đại lý” số 37/HĐNM, đề ngày 20/9/2019 (ký hiệu Al) không trùng khớp của
một lần đóng dấu.
+ Chđứng tên Minh C dưới cột mục “Đại diện bên A” trên “Hợp
đồng đại lý” số 37/HĐNM, đề ngày 20/9/2019 (ký hiệu Al) bản photocopy nên
không giám định truy nguyên đồng nhất.
+ Chữ ký, chviết “Ng Thị Mỹ Ldưới cột mục „Đại diện bên B” trên
“Hợp đồng đại lý” số 37/HĐNM, đề ngày 20/9/2019 (ký hiệu Al); chữ viết, chữ
ký (trừ chữ ký, chữ viết Huỳnh Thị Thanh T” dưới cột mục “Đại diện bên A” trên
“Hợp đồng cho nhân vay tiền” đề ngày 26/9/2019 (ký hiệu A3); chữ viết, chữ
(kể cả chữ viết, chữ mặt sau) trên “Giấy xác nhận cam kết trả nợ” đề
ngày 30/9/2020 (ký hiệu A4) với chữ viết, chữ của Nguyễn Thị Mỹ L trên tài
liệu mẫu so sánh có đầu đ“Bản tự khai” đề ngày 09/11/2020 (ký hiệu M1) là do
cùng một người ký, viết ra.
Do đó, lời khai của L về số lượng gạch của Nhà máy bị thiếu hụt ông
Võ Minh C chỉ đạo đi vay tiền của bà T là không có cơ sở.
Với tài liệu chứng cứ thu thập được cho thấy bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L
không sdụng số tiền vay để đầu tư, kinh doanh phát sinh lợi nhuận chỉ lấy
các khoản vay sau để trả gốc, lãi cho các khoản vay trước nên khi vay tiền, bản
thân L biết không có khả năng trlại tiền cho bà T nhưng vẫn đưa ra nhiều thông
tin gian dối, không đúng sự thật chủ động đưa ra mức lãi suất cao để T tin
tưởng đưa tiền rồi chiếm đoạt với tổng số tiền là 22.844.711.000 đồng.
Ngoài ra, trong quá trình điều tra, Nguyễn Thị Mộng Q, sinh năm 1982,
trú tại tổ dân phố 3, Phường N, thị Đ, tỉnh Quảng Ngãi; Trần Thị Kim C,
sinh năm 1966, trú tại 560 đường N, Phường N, thị Đ, tỉnh Quảng Ngãi
Thị Kim C, sinh năm 1978 ttại thị Đ, tỉnh Quảng Ngãi gửi đơn tố cáo
Nguyễn Thị Mỹ L chiếm đoạt tài sản, cụ thể:
- Đối với Nguyễn Thị Mộng Q (Bút lục 943-951): Thông qua mối quan
hệ hàng xóm với nhau và trước đây L cũng thường xuyên vay mượn tiền của bà Q
nên vào ngày 07/6/2020 L chủ động đến nhà Q để vay tiền, L nói mục đích
vay để mua đất nhưng không đủ tiền, hứa vài ngày sau làm sổ sẽ đi vay trả
lại tiền. Q tin tưởng nên đã đưa tiền mặt cho L vay stiền 300.000.000 đồng,
số tiền này L đã trả cho Q 100.000.000 đồng, số tiền còn lại hiện nay L vẫn
chưa trả cho Q. Đối với khoản vay này, L khai: Hiện nay chưa trả cho Q
200.000.000 đồng, số tiền này L đã sử dụng để trả nợ cho người khác, nhưng
không nhớ trả cho ai, L không sdụng đúng mục đích như L đã nói với Q
thời điểm đó L đã mất khả năng trả. Qtrình điều tra, Q đã giao nộp giấy tờ
thể hiện stiền, thời gian L đã vay của bà Q. quan điều tra đã tiến hành giám
định, tại Kết luận giám định số 953/KLGĐ-PC09, ngày 17/11/2021 của Phòng Kỹ
6
thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận: ... Các chviết trên tài liệu cần
giám định đầu đề Giấy mượn tiền(ký hiệu A2) với chữ viết, chữ trên các
tài liệu mẫu so sánh Bản tự khaighi tên Người khai Nguyễn Thị Mỹ L đề ngày
09/11/2020 ngày 05/01/2021 (ký hiệu M1, M2) do cùng một người viết,
ra (Bút lục 845); về mức lãi suất hai bên chỉ thỏa thuận miệng với nhau, L
Q không đưa ra được các tài liệu nào chứng minh về việc thỏa thuận mức lãi và
số tiền lãi cụ thể đã trả là bao nhiêu. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất về nội
dung này, nhưng L và bà Q vẫn giữ nguyên lời khai.
Từ các tài liệu, chứng cứ thu thập được, sở xác định bị cáo L đã đưa
ra thông tin gian dối chiếm đoạt của Q số tiền 200.000.000 đồng. Sau khi
chiếm đoạt số tiền trên, bị cáo L đã sử dụng để trả nợ cho người khác, nhưng
không nhớ đã trả cho ai.
- Đối với Trần Thị Kim C (Bút lục 931-942): Thông qua mối quan hệ
quen biết, vào ngày 02/10/2020 L chủ động đến Cửa hàng văn phòng phẩm của
Trần Thị Kim C hỏi ợn số tiền 300.000.000 đồng để đáo hạn ngân hàng,
hứa 02 ngày sau sẽ trả lại tiền, nhưng C chỉ 200.000.000 đồng nên đã
chuyển khoản cho L mượn số tiền 200.000.000 đồng, sau khi nhận tiền L đã viết
vào sổ của bà C thể hiện L mượn của C số tiền 200.000.000 đồng. Sau đó
02 ngày L đã bỏ đi khỏi địa phương, cắt đứt mọi liên lạc, đến nay vẫn chưa trả lại
số tiền trên cho bà C. L khai: Thời điểm mượn tiền của C thì bản thân đã mất
khả năng trả nợ, nhưng do bị nhiều người đòi nợ nên đã nói dối vớiC là mượn
tiền để đáo hạn ngân hàng nhằm m cho C tin tưởng đưa tiền cho mượn, số
tiền này L đã sử dụng để trả nợ cho người khác nên hiện nay chưa trả cho C
(Bút lục 1170-1173). Quá trình điều tra, C đã giao nộp giấy tờ thể hiện số tiền
L đã mượn của bà. quan điều tra đã tiến hành giám định, tại Kết luận giám
định số 953/KLGĐ-PC09, ngày 17/11/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an
tỉnh, kết luận: Các chữ viết nội dung “Ngày 2/10/2020 L mượn: 200.000.000
đồng (Hai trăm triệu đồng chẵn) Nguyễn Thị Mỹ L”, chữ đề tên Nguyễn Thị
Mỹ L trên tài liệu cần giám định (Ký hiệu Al) với chữ viết, chữ trên các tài
liệu mẫu so sánh “Bản tự khai” ghi tên người khai Nguyễn Thị Mỹ L đề ngày
09/11/2020 ngày 05/01/2021 (Ký hiệu Ml, M2) do cùng một người viết,
ra (Bút lục 845).
Tcác tài liệu, chứng cứ thu thập được, sở xác định bị cáo L đã đưa
ra thông tin gian dối chiếm đoạt của C số tiền 200.000.000 đồng. Sau khi
chiếm đoạt số tiền trên, bị cáo L đã sử dụng để trả nợ cho người khác, nhưng
không nhớ đã trả cho ai.
- Đối với bà Lê Thị Kim C (Bút lục 952-963):
Thị Kim C khách hàng thường xuyên mua gạch của Nhà máy
gạch Tuynel P thông qua L. Vào khoảng tháng 3 tháng 4/2020, C đã đưa
cho L với tổng số tiền 136.700.000 đồng, sau khi nhận tiền L đã đưa cho C 02
phiếu xuất kho sản phẩm hoàn thành số 155 ngày 30/3/2020, số lượng 74.000
7
viên gạch 6 lỗ TTA1 và số 258 ngày 09/4/2020, số lượng 50.000 viên gạch 6 lỗ
TTA1. Đến khoảng tháng 10/2020 khi L đi khỏi nơi trú, C đem phiếu xuất
kho trên đưa cho Nhà máy để xuất gạch thì Nhà máy kiểm tra xác định phiếu
xuất kho số 258 chưa nộp tiền 59.000.000 đồng vào Nhà máy, riêng phiếu xuất
kho số 155 chỉ mới nộp vào Nhà máy số tiền 38.800.000 đồng, số tiền còn lại
chưa nộp 38.900.000 đồng nên Nhà máy chỉ xuất gạch theo số phiếu đã nộp
tiền. Trong quá trình điều tra bổ sung, nhà máy gạch Tuynel P đã cung cấp các
chứng tnhư: Phiếu thu số PT0141 ngày 31/3/2020, Phiếu thu số PT0246 ngày
27/4/2020, Hóa đơn gtrị gia tăng số 0000700 ngày 30/3/2020, Hóa đơn giá trị
gia tăng số 0001213 ngày 30/4/2020, Bảng bán lẻ hàng hóa dịch vụ theo số
hóa đơn 0001213, Bảng thu tiền ngày 27/4/2020 thể hiện số tiền 131.700.000
đồng bị cáo L đã nhận của Thị Kim C thì bị cáo đã nộp đầy đủ vào Nhà
máy, Nhà máy hiện đã xuất gạch trả cho C C đơn không yêu cầu đối
với Nguyễn Thị Mỹ L và Nhà máy gạch Tuynel P.
Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L tố giác vợ chồng ông
Đinh Quốc K, Huỳnh Thị Thanh T hành vi đe dọa giết người đối với gia đình
của L cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Tuy nhiên, qua xác minh c
định vợ chồng T, ông K không hành vi đe dọa giết người như L đã tố giác
(Bút lục 852 - 853, 1015 - 1017).
Đối với lãi sut vay: L T đu xác nhn lãi suất vay ban đầu do T đưa
ra 2,5%/tng 2.000 đồng/triệu/ny, còn c khoản vay khác T nói vay giúp
cho L thì L tự đưa ra mức i suất 3.000 đồng đến 4.000 đồng/triu/ngày để trả cho
T, cụ th: khi bà T nói đã vay của người khác 2.000 đồng/triệu/ngày thì L i sẽ trả
cho bà T 3.000 đồng/triệu/ngày, còn nếu khoản vayo bà T nói đã vay của người
khác 3.000 đồng/triệu/ngày thì L nói sẽ trcho T 4000 đồng/triệu/ngày (Bút lục
1170 - 1173). L T chc định được tổng số tiền i vay đã nhn, đã tr chứ
không c định được cụ thể số tiền i vay đã nhn, đã trcủa từng khoản vay. Với
c tài liu, chứng cứ đã nêu tn cho thy: Việc thỏa thuận mức lãi suất tn là do L
tự đưa ra với mức lãi sut cao, đây ng thđon của L nhằm mục đích để T
vay tiền giúp L, đồng thời hin nay L T khôngc định được cụ thể số tiền lãi
vay đã nhận, đã trcủa từng khoản vay nên chỉ nh mức i suất vay theo tổng số
tiền gốc vay đã nhận và tiền lãi vay đã tr trong khoảng thời gian từ ngày 23/9/2019
đến ngày 02/10/2020 (374 ngày) cụ thể như sau: tổng số tiền gốc vay L đã nhn
37.512.660.000 đồng; tổng số tiền lãi vay L đã tr7.619.120.000 đồng (Bút lục
1164 - 1165), nên mc lãi sut theo số tiền trên được nh như sau: 7.619.120.000
đồng/ 37.512.660.000 đồng/ 374 ngày x 30 x 100% = 1,63%/tng (=19,56%/năm),
i suất y kng ợt quá mức i suất cao nhất do Bluật dân sự quy định.
vậy, không đủ sở đ truy cứu trách nhiệm nh s đối với Huỳnh Thị Thanh T
về tội Cho vay nặng i trong giao dịch dân s” quy định tại Điều 201 Bluật Hình
sự.
Thông tin về tài sản của bị cáo gồm:
8
- Xác minh tài khoản của Nguyễn Thị Mỹ L tại một số ngân hàng trên địa
bàn tỉnh Quảng Ngãi, xác định hiện nay tài khoản của L không có số dư.
- Xác minh tại Văn phòng đăng ký đất đai các huyện, thị xã, thành phố, xác
định vợ chồng L đứng tên mt số thửa đất cụ thể:
+ Thửa đất số 746, tờ bản đồ số 04, diện tích 167m
2
tại Phường N, thị xã Đ:
Thửa đất này vợ chồng L được mẹ ruột L tặng cho. Ngày 14/9/2009 L đã thế chấp
tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam C nhánh Quảng Ngãi (Viettinbank)
Phòng giao dịch Đ vay số tiền 800.000.000 đồng. Đến ngày 13/11/2020, L ủy
quyền cho ông M chuyển nhượng thửa đất trên cho Nguyễn Thị Minh H, sinh
ngày 08/3/1951, trú tại TDP 4, Phường N, thị Đ với số tiền 1,1 tỷ đồng. Qua
làm việc, L khai nhận s tiền này v chồng L đã trả cho Ngân hàng
Viettinbank số tiền 810 triệu đồng, trả cho A số tiền khoảng hơn 20 triệu đồng,
trả cho Công ty tài chính P số tiền khoảng 77 triệu đồng, trả cho ông Nguyễn
Tăng Chí (A ruột L) số tiền 180 triệu đồng (Bút lục 503 - 507, 513, 994 - 995).
+ Thửa đất số 790, tờ bản đồ số 4, diện tích 202m
2
tại Phường N, thị Đ:
Ngày 08/8/2019 vợ chồng L thế chấp thửa đất trên tại Ngân hàng A C nhánh Đ
vay số tiền 600 triệu đồng, thời hạn vay 12 tháng. Đến ngày 12/8/2020 vợ chồng
L đã đáo hạn theo Hợp đồng tín dụng số 4508-LAV-2020 tại Ngân hàng A C
nhánh Đ (Ngôi nhà này hiện nay chồng con của bị cáo L đang ở) (Bút lục 679
- 720).
+ Thửa đt số 39, tờ bản đồ số 5, địa chỉ: phường PhQuang, th xã Đ, diện
tích: 1.431m
2
BHK: Ngày 20/8/2020 L nhn chuyn nng thửa đất trên của ông
N Khuôn bà Trần Thị Thanh Nga. Đến ngày 01/10/2020, vợ chồng L chuyển
nhượng cho ông Nguyn Tăng H, sinh ngày 15/7/1984, trú ti t n ph 4, Phường
N, thị Đ ng Nguyễn Tăng H không hpc làm việc nên ca xác định được g
chuyển nng) (Bút lục 578 - 583).
+ Thửa đất s1225, tờ bản đồ số 40, diện tích 439,5m
2
tại P, thị Đ:
Ngày 03/7/2020 L đã nhận chuyển nhượng thửa đất trên của vợ chồng ông
Nguyễn Quang Tuyên, Huỳnh Thị Phú. Ngày 24/8/2020 đã thế chấp thửa đất
trên tại Ngân hàng A C nhánh Đ vay số tiền 330 triệu đồng. Ngày 11/11/2020 L
đã ủy quyền cho ông Huỳnh Ngọc M hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên
cho Nguyễn Thị Kim Thùy, sinh ngày 11/4/1984, trú Phường N, thị xã Đ
(Hiện nay bà Thùy không mặt tại nơi tnên không làm việc được). Thửa
đất trên Thùy chưa đăng ký tại Phòng đăng ký đất đai C nhánh thị Đ, L vẫn
còn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ngày 11/10/2021,
quan điều tra đã ra Lệnh biên đối với thửa đất này (Bút lục 532, 538 - 545,
699-720, 924 - 927).
Hiện nay L đang sở hữu 15.042 cổ phiếu (Mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu)
tại Công ty CP cơ khí và xây lắp A. Ngày 03/11/2021, Cơ quan điều tra đã có văn
bản đề nghị tạm dừng việc chuyển nhượng số cổ phiếu trên (Bút lục 929).
9
Về dân sự: Quá trình điều tra, các bị hại yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L
trả lại số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt, cụ thể:
- Huỳnh Thị Thanh T số tiền: 22.844.711.000 đồng (Hai mươi hai tỷ tám
trăm bốn mươi bốn triệu bảy trăm mười một nghìn đồng);
- Nguyễn Thị Mộng Q số tiền: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng);
- Trần Thị Kim C số tiền: 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng);
Đến nay bị cáo chưa khắc phục hậu quả đã gây ra.
Tại Bản án hình sự thẩm số 07/2022/HS-ST ngày 07/12/2022, Tòa án
nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã quyết định:
[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản” và tội “Làm giả, sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
- Áp dụng: Điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L 17 (Mười bảy) năm về tội “Lừa đảo
chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng: Điểm b khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51;
Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L 03 (Ba) năm về tội “Làm giả, sử dụng
tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L phải chấp
hành hình phạt chung của hai tội 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam (30/9/2021).
[2] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự;
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu trách nhiệm trả lại cho bà Huỳnh
Thị Thanh T số tiền 22.844.711.000 đồng (Hai mươi hai tỷ tám trăm bốn mươi
bốn triệu bảy trăm mười một nghìn đồng).
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu trách nhiệm trả lại cho
Nguyễn Thị Mộng Q số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
- Buộc bị cáo Nguyễn Thị Mỹ L phải chịu trách nhiệm trả lại cho Trần
Thị Kim C số tiền 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định v phần nghĩa vụ thi hành án, xử
lý vật chứng, biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 21/12/2022, bị hại chị Hunh ThThanh T đơn kháng cáo đề ngh
hủy bản án hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa: Bị hi ch Hunh Th Thanh T gi nguyên yêu cầu kháng
cáo đề ngh Tòa án hủy bản án thẩm với do: quan tiến hành t tng tnh
Quảng Ngãi không làm do b cáo Nguyễn Th M L lại vay mượn tin ca
ch Thị Ngc A, Phm Th Thúy T, sau đó lấy tin vay ca ch T để tr cho
các chị trên nên không biện pháp thu hồi tài sn tr li cho ch T; gia đình bị
cáo cố tình chuyển nhượng quyn s dụng đất cho ông Nguyễn Tăng H, Nguyn
10
Th Kim Thùy thế chấp cho cho Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển nông
thôn Việt Nam, chi nhánh huyn Đ cố tình tẩu tán tài sản, nhm trốn tránh
nghĩa vụ tr n.
Đại din Vin kiểm sát nhân dân cp cao tại Đà Nẵng phát biểu quan điểm
v gii quyết v án: Quá trình giải quyết v án, Hội đồng xét xử đã tuân thủ quy
định đúng quy đnh ca B lut t tụng hình sự. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều
355 B lut t tụng hình sự, đề ngh Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo
ca b hi Hunh Th Thanh T.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chng c đã được thm tra tại phiên tòa; căn cứ kết
qu tranh lun tại phiên tòa và trên cơ s xem xét đầy đủ toàn diện các chứng c,
ý kiến ca Kiểm sát viên, trình bày ca b cáo. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhn
định như sau:
[1]. Ti phiên a phúc thẩm, b o Nguyn Th M L tnh khn nhn ti.
Li khai ca b o tại phn tòa phù hợp vi li khai ca người b hi; bn kết lun
giám định c tài liu, chng c khác đưc thu thp hp pp trong hồ vụ
án. Đủ sở c định: Trong khong thi gian t tháng 9/2019 đến tháng 10/2020,
Nguyn Th M L đã những th đon gian di i cần vay tin vi mc i sut
cao để đáo hạn nn hàng, mua đất, tr gạch để kiếm li…để các bị hi tin ng
cho vay, t đó chiếm đoạt ca ch Hunh Th Thanh T 22.844.711.000 đồng,
Nguyn Th Mng Q 200.000.000 đồng, bà Trần Th Kim C 200.000.000 đồng. Sau
khi vay được tin, b cáo đã sử dng không đúng mục đích như đã nói với các b hi.
Do đó, Tòa án cấp thẩm đã xét xử b o Nguyn Th M L v tội La đảo
chiếm đoạt i sản quy định ti điểm a khon 4 Điu 174 B lut Hình sự n
c, đúng người, đúng tội, không oan.
[1.1] Trong quá trình vay tiền ch T, b cáo có đưa cho chị T Hợp đồng đại
số 37/HĐNM ngày 20/9/2019, vi ni dung: Nhà máy gạch Tuynel P bán cho
Nguyn Th M L 2.050.000 viên gạch Tuynel với giá 2.020.000.000 đồng để ch
T tin tưởng cho b cáo vay 1.000.000.000 đng. Theo kết luận giám định thì Hợp
đồng nêu trên giả mo. vậy, b cáo L b truy t xét x v tội Làm giả, s
dụng tài liu gi của quan, tổ chctheo quy định tại điểm b khoản 3 Điu
341 B luật Hình sự là đúng pháp luật.
[1.2] B cáo và các bị hại không có kháng cáo v tội danh và mức hình phạt
đối vi b cáo.
[2]. Xét kháng cáo của ch Hunh Th Thanh T yêu cầu xác định thời điểm
Nguyn Th M L vay tin của bà Th Ngc A, Phạm Th Thúy T, vay tin
của bà Ngọc A, Thúy T để làm gì, vay bao nhiêu tiền để t đó xem xét vic b cáo
vi ch Ngc A, Thúy T thỏa thun nhm trn tránh nghĩa v tr n, Hội đồng
xét xử thy:
11
[2.1] Ti Bn bn ghi li khai ngày 09/11/2020, b cáo L khai: Trước khi tôi
bt đu vay tin ca T thì tôi có đi vay tin ca ch Phm Th Ty T, trú tại t dân
ph 3, phường N, th Đ, tnh Qung Ngãi. Tính đến thi đim i bắt đầu vay tin
ca T thì tôi còn nợ ch T khong 2 t đồng (tin gc), sau khi vay tin ca T i có
dùng để tr lãi cho chị T, sau đó tôi tiếp tc vay tin ca ch T để tr i cho T, s tin
tôi vay của T ch yếu dùng đ tr i cho nhng s tin i đã vay nóng (bl 1139)
[2.2] Ti Bn t khai ngày 22/10/2021, bị cáo L khai: Hiện nay, ngoài
ch T, tôi còn nợ ch Thị Ngc A s tin 3,7 tỷ…chị T TDP3, phường N, th
xã Đ (theo li ch T nói là tôi còn nợ ch tôi không nhớ s tin) (bl 1132)
[2.3] Tại Biên bản ghi li khaingày 04/3/2021, ch Phm Th Thúy T
khai: “Khong gn cuối năm 2018 (tôi không nhớ c th thời gian)… Ban đầu khi
nói tôi đưa tiền cho L vay để L đưa tiền cho ch h mua đất, L nói là chị h L mua
bán đất ngoài Đà Nẵng có lời rt nhiều, nói tôi cho L vay để L đưa chị h ca L
mua đất kiếm li, L s đưa tiền lãi cho tôi, ban đầu tôi chỉ đưa cho L vài trăm
triệu để L đưa chị h mua đất, nhưng thời điểm đó L đưa lại tiền cho tôi tiền
lãi rất nhanh nên tôi khá tin tưởng. Sau này, tôi cũng nhiều lần đưa tin cho L
như vậy, khi vài trăm, khi vài t, L đều nói đưa tiền cho ch h mua đất
ly li, L s tính lãi cho tôi. Những lần đó, L cũng đưa tiền lại cho tôi rất nhanh
c tin gốc lãi, L nói tin li do ch h mua bán đất có. Tuy nhiên đến
thời điểm tôi cho L vay 5,7 t đồng thì L tr tiền tôi rất lâu, L nói chưa bán được
đất. hin L còn nợ tôi 9 tỷ” (bl 997)
[2.4] Tại Biên bản ghi li khai ngày 07/01/2021, chị Thị Ngc A khai:
Vào khoảng tháng 8/2019, L gọi điện thoại cho tôi nói bà đang mua đt
TP Nha Trang, tnh K Hòa, nhưng còn thiếu tiền nên hỏi tôi tiền nhàn ri
không cho mượn s tiền 300.000.000 đồng, tôi nghe vậy nên đồng ý cho L
ợn. Sau đó, khoảng 10 ngày thì bà L chuyn tr cho tôi. Sau đó, bà L nhiu ln
đặt vấn đ n tin ca tôi, khi n của tôi L đưa ra nhiều do như: đu
mua tàu , đáo hạn ngân hàng cho anh trai, cho mấy anh em quan anh M
chng ch L, cho c Linh con gái đang hc, cho cha ca bạn thân anh M…Tôi
nghe L nói như vậy, tôi tin tưởng nên t tháng 8/2019 đến khoảng tháng
9/2020 tôi đã nhiều ln chuyn tin, np tin mt tại ngân hàng cho L n.
vài lần tôi đưa tiền mt trc tiếp cho L ợn. Do quá nhiều lần tôi đưa
tiền cho bà L ợn nên tôi không nh c th s lần và số tin tng lần đưa L.
Trong thời gian này L cũng nhiu ln tr tiền cho tôi nhưng L không
chuyn tr đủ s tiền tôi đưa L ợn. Hiên nay, L còn nợ tôi số tin
3.700.000.000 đồng (ba t bảy trăm triệu đông.)….đến tháng 10/2020, tôi nghe
tin L b trốn, tôi liên lạc cho L nhưng không được, k t thời điểm đó đến
nay tôi suy sụp tinh thn hiện nay tôi đang bị bnh nặng nên tôi chưa làm đơn tố
cáo bà L” (bl 979)
[2.5] Như vy, li khai ca ch Lê Thị Ngc A, ch Phm Th Ty T và bị o
L khai có ni dung thng nht vi nhau, th hin do n tin b cáo đã vay tin ca ch
T để tr cho ch Ngc A, Ty T sau đó li vay tin ca ch Ngc A, Ty T đ tr
12
cho ch T. Vì vy, khon tin b o chiếm đot ca ch T đã chuyn sang cho ch
Ngc A, ch Thúy T giao dch dân s hp pháp, các chị nhn tin ngay tình (trả n),
các ch ng không biết s tiền y do b o phm ti mà có, ng không phi đồng
phm ca b cáo trong vic ra tin, tu n tài sản. Hơn na, tin loại i sản đặc
bit, không có nhng đc tính đ phân bit, mà được a trộn ngay khi ch Ngc A,
Ty T nhn được và s dụng nên không th xác đnhm vt chng trong v ánnh
s. Do đó, Tòa án cp thm xác định b o chiếm đot ca ch T s tin
22.844.711.000 đng buc Nguyn Th M L phi tr li cho ch T s tin y
có căn c.
[3] Xét kháng cáo ca ch T cho rng v chng Nguyn Th M L, Hunh
Ngc M chuyển nhượng thửa đất s 39, t bản đồ s 5, diện tích 1.431m
2
, địa ch:
phưng Ph Quan, th Đ cho ông Nguyễn Tăng H vào ngày 01/10/2020; tha
đất s 1225, t bản đồ s 40, diện tích 439,5m
2
, địa ch: xã P, th Đ cho
Nguyn Th Kim Thùy vào ngày 11/11/2020; thế chp thửa đt s 790, t bản đồ
s 4, diện tích 202m
2
, đa ch: th trn Đ, huyn Đ cho Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn Việt Nam, chi nhánh huyện Đ vào ngày 05/8/2019 nhm
tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ tr n, thy: Việc xem xét các hợp đồng
chuyển nhượng, thế chp quyn s dụng đất không thuộc phm vi gii quyết
trong v án hình s nên các quan tiến hành tố tng tnh Quảng Ngãi không
xem xét căn c. Ch T quyền khi kin v án dân s đề ngh hy nhng
hợp đồng chuyển nhượng, thế chấp nêu trên đ bo v quyn li hợp pháp của
mình. Theo tài liệu trong h lời khai ca b cáo tại phiên tòa thì anh Hunh
Ngc M không biết vic b cáo vay tiền ca ch T, quá trình anh M đồng ý chuyển
nhưng, thế chp nhng thửa đất trên thì nhng thửa đất này không bị quan
nhà nước thẩm quyn cm chuyển nhượng. Vì vậy, không có cơ sở để kết lun
anh M đồng phm vi b cáo Nguyễn Th M L trong vic vay tin ch T
chuyển nhượng quyn s dụng đất nhm tẩu tán tài sản.
[4]. Vi nhng nhận định nêu trên, không có cơ s để chp nhận kháng cáo
ca ch Hunh Th Thanh T.
[5]. V án phí: Chị Hunh Th Thanh T không phải chu án p phúc thẩm.
[6]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không b
kháng nghị n có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ đim a khoản 1 Điều 355, Điều 356 B lut T tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của b hi ch Hunh Th Thanh T. Gi
nguyên Bản án hình sự thm s 07/2022/HS-ST ngày 07/12/2022 của Tòa án
nhân dân tnh Qung Ngãi.
Áp dụng đim a khon 4 Điu 174; đim b khoản 3 Điều 341; đim s khon
1, khon 2 Điu 51; Điu 38; Điu 55 B luật Hình sự.
13
X pht: B cáo Nguyn Th M L 17 (i by) năm về tội Lừa đảo
chiếm đoạt tài sn”, 03 (ba) năm về tội Làm giả, s dụng tài liu gi của
quan, t chc”, tổng hợp hình pht buc b cáo phải chấp hành hình pht chung
ca 02 (hai) tội 20 (hai mươi) năm tù, thi hn chấp hành hình phạt được
tính từ ngày bt tm giam 30/9/2021.
2. V trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điu 48 B luật nh s buc b cáo Nguyễn Th M L phi chu
trách nhiệm tr li cho ch Hunh Th Thanh T s tiền 22.844.711.000 đồng (hai
mươi hai tỷ tám trăm bốn mươi bốn triu bảy trăm mười một nghìn đồng).
3. K t ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án, người
phải thi hành án chậm thi hành thì hàng tháng ngưi phải thi hành án còn phải tr
cho người được thi hành án khon tiền lãi suất theo quy định tại Điều 357 B lut
dân sự 2015, tương ứng vi khon tiền và thời gian chậm thi hành án, cho đến khi
thi hành xong bản án.
Trường hp quyết định được thi hành theo quy đnh tại Điều 2 Lut thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền tha thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành
án hoặc b ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 9 Luật thi
hành án dân sự.
4. V án p: Ch Hunh Th Thanh T không phi chịu án phí phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án thẩm không kháng cáo, kháng
ngh như: trách nhiệm dân sự đối với Nguyễn Th Mng Q, Trn Th Kim C,
x vật chng, biện pháp pháp án phí thẩm hiệu lực pháp luật k t
ngày hết thi hn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k t ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Vụ Giám đốc kiểm tra I - TAND tối cao;
- VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
- TAND tỉnh Quảng Ngãi;
- Cơ quan CSĐT-Công an tỉnh Quảng Ngãi;
- Phòng HSNV-Công an tỉnh Quảng Ngãi;
- Cơ quan CSTHAHS-CA tỉnh Quảng Ngãi;
- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;
- Cục THADS tỉnh Quảng Ngãi;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ngãi;
- Bị cáo;
- Người tham gia tố tụng khác;
- Lưu HSVA, PHCTP, LT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Đinh Phước Hòa
Tải về
Bản án 22/2023/HS-PT Bản án 22/2023/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án 22/2023/HS-PT Bản án 22/2023/HS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất