Bản án số 21/2025/LĐ-ST ngày 23/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 21/2025/LĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 21/2025/LĐ-ST ngày 23/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 15 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu
Quan hệ pháp luật: Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 15 - Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 21/2025/LĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/12/2025
Lĩnh vực: Lao động
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 15
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 21/2025/LĐ-ST
Ngày: 23-12-2025
V/v “Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố
hợp đồng lao động vô hiệu”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 15 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hồng Thanh – Cán bộ hưu trí
2. Ông Hoàng Minh Tuấn – Nguyên cán bộ Liên đoàn lao động TP. Thủ Dầu Một
- Thư phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Cán bộ Tòa án nhân dân khu vực
15- Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 15- Thành phố Hồ Chí Minh tham
gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 15- Thành phố Hồ
Chí Minh, t xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ số 24/2025/TLST-ngày 23
tháng 10 m 2025 về việc “Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động hiệu”
theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2025/QĐXXST-ngày 10 tháng 12 năm
2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Lệ T, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn H, H, tỉnh
Đắk Lắk, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Công ty TNHH O; địa chỉ trụ sở: Số B V, đường số I, KCN V- S, Khu
liên hợp khu công nghiệp -- Đô thị B, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng A - chức vụ: Trưởng
phòng hành chính nhân sự Công ty TNHH O, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Nguyễn Thị H, sinh m 1997; địa chỉ thường trú: Thôn H, H, tỉnh Đắk
Lắkl; địa chỉ liên lạc: Thôn T, xã P, tỉnh Gia Lai, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
+ Bảo hiểm xã hội Thành phố H; địa chỉ trụ sở: Số E đường N, phường T, Thành
phố Hồ Chí Minh, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 22/9/2025 quá trình giải quyết vụ án, nguyên
đơn Nguyễn Thị Lệ T trình bày: Nguyễn Thị Lệ T Nguyễn Thị H không
mối quan hệ gì, chỉ là người cùng xóm với nhau. Do cần việc làm, nhưng chưa đủ tuổi nên
H mượn chứng minh nhân dân của T để làm việc tại công ty. Nghe H nói vậy
cũng thiếu hiểu biết n T cho H mượn chứng minh nhân dân. Khi H đi làm
được khoảng hơn một tháng của đầu năm 2015 tại Công ty TNHH O thì được cơ quan bảo
hiểm B bị trùng với T nên bà H đã nghỉ việc tại Công ty TNHH O, còn T vẫn tiếp
tục làm việc tại Công ty G, đến tháng 3/2016 T nghỉ việc tại Công ty này, đến tháng
7/2016 bà T tiếp tục làm việc tại Công ty TNHH H1, đến tháng 6/2024 bà T nghỉ việc cho
đến nay. Sau khi nghỉ việc, T làm thủ tục để được hưởng bảo hiểm nhưng do bị trùng
thời gian đóng bảo hiểm tại Công ty TNHH O từ tháng 4/2015 đến tháng 6/2015 mà trước
đó H đã làm việc nên T chưa nhận được bảo hiểm hội một lần, hiện T mới
nhận được bảo hiểm thất nghiệp.
Để được nhận bảo hiểm xã hội một lần nên bà T khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố
hợp đồng lao động được kết giữa Nguyễn Thị Lệ T (người đi mượn chứng minh nhân
dân là bà Nguyễn Thị H) với Công ty TNHH O từ tháng 4/2015 đến tháng 6/2015 vô hiệu.
Hậu quả của việc tuyên hợp đồng lao động vô hiệu, bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đại diện bị đơn – ông Nguyễn Hoàng A trình bày: Công ty TNHH O không biết
Nguyễn Thị H ai công ty kết hợp đồng lao động với Nguyễn Thị Lệ T, đến
nay T khởi kiện thì phía Công ty mới biết H người mượn chứng minh nhân dân
của T. T bắt đầu làm việc tại Công ty TNHH O ngày 26/3/2015, đến ngày
14/4/2015 thì hai bên hợp đồng lao động, công việc của T công nhân, quá trình
làm việc, phía công ty đóng bảo hiểm đầy đủ cho T. Đến ngày 17/6/2015 thì T tự ý
nghỉ việc cho đến nay.
Nay T yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động được kết giữa Nguyễn Thị Lệ T
(người đi mượn chứng minh nhân dân Nguyễn Thị H) với Công ty TNHH O từ
tháng 4/2015 đến tháng 6/2015 vô hiệu thì Công ty TNHH O thống nhất.
* Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm hội Thành phố H: Tại
Công văn số 760/CV- BHXH ngày 14/11/2025, Bảo hiểm hội Thành phố H đề nghị
được vắng mặt trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án sẽ thực hiện đầy đủ phán quyết
của Tòa án.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H trình bày:
Nguyễn Thị H Nguyễn Thị Lệ T không mối quan hệ gì, chỉ người cùng xóm
với nhau. Do cần việc làm, nhưng lại chưa đtuổi nên H mượn chứng minh nhân
dân của T để làm việc tại công ty. Khi được T cho mượn thì khoảng đầu năm 2015
H đến làm việc tại Công ty TNHH O, công việc công nhân điện tử. Do thời gian lâu
nên không nhớ nhưng khi đó H mới làm được khoảng n 01 tháng tđược cơ
quan bảo hiểm báo số chứng minh trùng với T tại công ty hiện T đang làm việc
nên bà H đã tự ý nghỉ việc. Do đóng bảo hiểm thời gian ngắn nên H không làm thủ tục
gì để hưởng bảo hiểm.
Vì thiếu hiểu biết nên bà H đã mượn chứng minh nhân dân của bà T để giao kết lao
động với Công ty TNHH O nên qua yêu cầu khởi kiện của T về việc yêu cầu Tòa án
3
tuyên bố hợp đồng lao động được kết giữa Nguyễn Thị Lệ T (người đi mượn chứng
minh nhân dân bà Nguyễn Thị H) với Công ty TNHH O từ tháng 4/2015 đến tháng 6/2015
vô hiệu thì bà H thống nhất, không có ý kiến hay thắc mắc gì về sau.
* Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:
+ Về tố tụng: Từ khi thụ vụ án đến khi khai mạc phiên tòa thẩm, Thẩm phán,
Thư đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Nguyên đơn đại
diện bị đơn, người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng đầy đủ về
quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa thẩm, Hội
đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Kiểm sát viên không kiến nghị khắc
phục hay bổ sung gì khác.
+ Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ vụ án đã được
thẩm tra tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn bà Nguyễn Thị Lệ T về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệuđối với bị
đơn Công ty TNHH O.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn loại việc thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án quy định tại điểm d khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Do bị đơn Công ty TNHH O trụ sở tại phường B nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa
án nhân dân khu vực 15- Thành phố Hồ Chí Minh quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 và
điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn Nguyễn Thị Lệ T khởi kiện yêu cầu
Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động hiệu. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ
pháp luật yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động hiệu theo quy định tại Điều 117 của
Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị Lệ T với Công ty
TNHH O ONamBa từ tháng 4/2015 đến tháng 6/2015 vô hiệu.
Nguyên đơn xác định: Nguyễn Thị Lệ T chỉ làm việc tham gia bảo hiểm
hội tại Công ty G từ tháng 5/2015 đến ngày 03/2016 thì nghỉ việc, đến tháng 7/2016 làm
việc tại Công ty TNHH H1, đến tháng 6/2024 nghỉ việc cho đến nay, hoàn toàn không
làm việc và không tham gia bảo hiểm tại Công ty TNHH O.
Đại diện bị đơn xác định: Công ty TNHH O ONamBa hoàn toàn không biết
Nguyễn Thị H ợn chứng minh nhân dân của T để giao kết hợp đồng lao động. Do
đó, nay qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bị đơn thống nhất với yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn.
Phía Nguyễn Thị H xác định mượn chứng minh nhân dân của T để làm
việc tại Công ty TNHH O từ khoảng đầu năm 2015, sau đó hợp đồng lao động
đóng bảo hiểm xã hội dẫn đến bị trùng trong thời gian tháng 4/2015 đến tháng 6/2015.
Xét thấy: Tại Công n số 760/CV - BHXH ngày 14/11/2025 của Bảo hiểm hội
sở B1 xác định: T tham gia bảo hiểm hội với Công ty TNHH O ONamBa từ
4
tháng 4/2015 đến tháng 6/2015 với mã bảo hiểm xã hội 7415090643, đối với mã bảo hiểm
này thì bà T chưa hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm một lần.
Theo như sổ bảo hiểm hội Nguyễn Thị Lệ Thủy cung C thì T tham
gia bảo hiểm hội tại Công ty G từ tháng 5/2015 đến ngày 03/2016; tham gia bảo hiểm
hội tại Công ty TNHH H1 từ tháng 7/2016 đến ngày 4/2024 với bảo hiểm hội
7415139131.
Như vậy, thời gian đóng bảo hiểm hội của T bị trùng thời gian đóng bảo hiểm
hội của bảo hiểm 7415090643 7415139131. số 7415090643 quá trình
tham gia bảo hiểm từ tháng 4/2015 đến tháng 6/2015 tại Công ty TNHH O. số
7415139131 quá trình tham gia bảo hiểm từ tháng 5/2015 đến ngày 03/2016 tại Công
ty G, từ tháng 7/2016 đến ngày 4/2024 tại Công ty TNHH H1. Việc T cho H sử
dụng thông tin nhân để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH O trong thời
gian từ tháng 4/2015 đến tháng 6/2015 với bảo hiểm 7415090643 không đúng về
mặt chủ thể khi xác lập hợp đồng, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí,
hợp tác trung thực khi xác lập quan hệ lao động theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của
Bộ luật Lao động, vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16
của Bộ luật Lao động nên thuộc trường hợp hợp đồng lao động hiệu toàn bộ theo quy
định tại khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động. Do đó, T khởi kiện yêu cầu tuyên bố
hợp đồng lao động được kết giữa Nguyễn Thị Lệ T (người đi mượn chứng minh
nhân dân Nguyễn Thị H) với Công ty TNHH O ONamBa thời gian từ tháng 4/2015
đến tháng 6/2015 với bảo hiểm 7415090643 hiệu sở chấp nhận theo quy
định tại Điều 127, Điều 132 Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 50 Bộ luật Lao động năm
2012.
[2.2] Hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu: Do các đương sự không yêu cầu Tòa án
giải quyết hậu quả của hợp đồng hiệu nênTòa án không xem xét giải quyết về hậu quả
của hợp đồng vô hiệu.
[3] Từ những nhận định trên, căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên
đơn.
[4] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tố tụng quan điểm giải
quyết vụ án là có cơ sở.
[5] Án phí thẩm: Bị đơn phải chịu án phí 300.000đ nhưng do nguyên đơn tự
nguyện chịu thay cho bị đơn nên HĐXX ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, các điều 92, 93, 266, 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ 127; 132 của Bộ luật Dân sự năm 2005;
- Căn cứ Điều 50 Bộ luật Lao động năm 2012;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng
án phí và lệ phí Tòa án.
5
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyễn Thị Lệ T với ng ty TNHH O về
việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu”.
Tuyên bố Hợp đồng lao động giao kết giữa bà Nguyễn Thị Lệ T (người đi mượn bà
Nguyễn Thị H) Công ty TNHH O ONamBa từ tháng 4/2015 đến tháng 6/2015 với
bảo hiểm 7415090643 vô hiệu.
Các đương sự quyền nghĩa vụ liên hệ quan nhà nước thẩm quyền để
thực hiện các thủ tục liên quan đến bảo hiểm theo quy định của pháp luật.
2. Hậu quả của giao dịch dân sự hiệu: Do các đương sự không yêu cầu nTòa
án không xem xét giải quyết về hậu quả của hợp đồng vô hiệu.
3. Về án phí thẩm: Nguyên đơn Nguyễn Thị Lệ T tự nguyện chịu 300.000đ
(ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0028186
ngày 20/10/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 15- Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười m)
ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân
sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành
án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án
được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- VKSND khu vực 15- thành phố HCM;
- THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
- Các đương sự;
- Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hồ Thị Hằng
Tải về
Bản án số 21/2025/LĐ-ST Bản án số 21/2025/LĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 21/2025/LĐ-ST Bản án số 21/2025/LĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất