Bản án số 21/2021/HS-ST ngày 08/02/2021 của TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội về tội buôn bán hàng cấm
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 21/2021/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 21/2021/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 21/2021/HS-ST ngày 08/02/2021 của TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội về tội buôn bán hàng cấm |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Đông Anh (TAND TP. Hà Nội) |
| Số hiệu: | 21/2021/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 08/02/2021 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN ĐÔNG ANH Độc lập- Tự do – Hạnh phúc
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 21/2021/HS-ST
Ngày: 08/02/2021
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Lâm Bình
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dƣơng Xuân Đính
Bà Nguyễn Thị Giang
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đăng Hùng- Cán bộ Tòa án nhân dân
huyện Đông Anh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa: B
Đỗ Thị Kim Thanh- Kiểm sát viên
Ngày 08 tháng 02 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh-
Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2021/TLST-
HS ngày 27 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
13/2021/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Mạnh A, sinh năm 1985 tại Hà Nội; Nơi cư trú: Thôn
X, xã Y, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt
Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Nghề nghiệp:
Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn B (Đã chết) và bà Phạm Thị C; Có vợ là
Nguyễn Thị D và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2017;
Theo danh chỉ bản số 007 ngày 23/12/2020 của Công an huyện Đông Anh xác
định: Tiền án tiền sự: Không; Tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 16/12/2020. Có mặt.
Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị D,
sinh năm 1990. Nơi cư trú: Thôn X, xã Y, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.
Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo ca
́
c ta
̀
i liê
̣
u co
́
trong hồ sơ vu
̣
a
́
n va
̀
diê
̃
n biến ta
̣
i phiên to
̀
a, nô
̣
i dung vu
̣
án như sau: Hồi 10 giờ 30’ ngy 16/12/2020, tổ công tác Đội điều tra cảnh sát
kinh tế- Công an huyện Đông Anh lm nhiệm vụ tại đoạn đường thôn X, Y,
Đông Anh, H Nội phát hiện Nguyễn Mạnh A v 01 nam thanh niên đang đứng
cạnh 02 xe ô tô (01 xe taxi của Hãng taxi 123 và 01 xe ô tô Vios) đang quay đuôi
2
xe vào nhau có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hnh kiểm tra. Qua kiểm tra, tổ
công tác giữ được Nguyễn Mạnh A v số hng hóa đang giao dịch l 05 thùng
cattong niêm phong dán kín bên trong có 250 cây, tương đương 2.500 bao thuốc
lá nhãn hiệu Blend No 555 loại vỏ mu xanh tím than. Nguyễn Mạnh A khai số
thuốc lá bị kiểm tra l thuốc lá nhập ngoại nhưng không xuất trình được hóa đơn,
chứng từ chứng minh nguồn gốc, xuất xứ của hàng hóa. Do đó, Tổ công tác đã
đưa A cùng tang vật về trụ sở Công An huyện Đông Anh để đấu tranh lm rõ.
Cơ quan điều tra thu giữ của bị can Nguyễn Mạnh A:
+ 01 xe ô tô BKS: 30E-793.92, nhãn hiệu: TOYOTA, số loại: VIOS E, màu
sơn: Nâu vng, số máy: 2NRX242154, số khung: RL4B29F32H5027242, bên
trong xe không có tài sản gì.
+ 01 Chứng nhận đăng ký xe ô tô số 335358 do Phòng cảnh sát giao thông-
Công an TP. Hà Nội cấp cho chủ xe: Nguyễn Mạnh A, đăng ký lần đầu ngày
27/11/2017.
+ 01 Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường D
tiện giao thông cơ giới đường bộ số KD 4984145 của trung tâm đăng kiểm xe cơ
giới 29-13D cấp ngày 10/12/2020.
+ 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô
số B20/0151130 do Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Sài Gòn - Hà Nội- Công ty
bảo hiểm BSH Đông Đô cấp ngày 14/7/2020 cho chủ xe: Nguyễn Mạnh A.
+ 01 điện thoại Oppo F5 màu vàng, số Imei 1: 867453032173315, Imei 2:
867453032173307, bên trong lắp sim số thuê bao: 0936242658.
+ 01 điện thoại di động Iphone 6, màu vàng, số Imei: 359252066241849,
bên trong lắp sim số thuê bao: 0984266838.
+ 250 cây (Tương đương 2500 bao) thuốc lá điếu nhãn hiệu BLEND NO
555 GOLD.
Tiến hnh khám xét nơi ở của Nguyễn Mạnh A, thu giữ:
- 720 bao thuốc lá nhãn hiệu Blend No.555 Gold vỏ màu xanh tím than
(Mỗi bao có 20 điếu thuốc lá), đều là thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất.
- 20 bao thuốc lá nhãn hiệu Blend No.555 ORIGINAL vỏ màu vàng, (Mỗi
bao có 20 điếu thuốc lá), đều là thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất.
Tiến hành khám xét nhà của ông Nguyễn Văn Hòa (Bố vợ A) tại Thôn Đông,
Việt Hùng, Đông Anh, H Nội, thu giữ:
- 2370 bao thuốc lá nhãn hiệu Blend No.555 Gold vỏ màu xanh tím than
(Mỗi bao có 20 điếu thuốc lá) đều là thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất.
- 500 bao thuốc lá nhãn hiệu MarlBoro Gold Original màu trắng (Mỗi bao
có 20 điếu thuốc lá), đều là thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất.
Tại bản kết luận giám định số 10865/KLGĐ – PC09 ngày 23/12/2020 của
Phòng Kỹ thuật hình sự - CATP Hà Nội, kết luận: Tổng số thuốc lá tạm giữ ban
đầu và tạm giữ trong quá trình khám xét là: 6.110 bao đều là thuốc lá điếu do
3
nước ngoài sản xuất. Phòng kỹ thuật hình sự hoàn lại số lượng 5480 bao thuốc lá
sau khi trích mẫu giám định.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng sáng ngày 09/12/2020, Nguyễn Mạnh
A sử dụng tài khoản mang tên “A Bay” lên mạng xã hội Facebook tìm nguồn mua
thuốc lá điếu nhập lậu. Sau khi tìm được tài khoản Facebook đăng tin bán thuốc lá
điếu nhập lậu, nhắn tin qua Facebook thỏa thuận với người chủ hàng sẽ mua 04
thùng (Mỗi thùng chứa 50 cây, mỗi cây chứa 10 bao) thuốc lá điếu nhãn hiệu
Blend No.555 Gold với giá 160.000 đồng/01 cây và gửi cho người chủ hàng số
điện thoại 0984.266.838 của A để tiện cho việc liên lạc. Sau đó, A nhận được điện
thoại của người bán thuốc lá, người này hẹn A khoảng 19 giờ 30 phút ngày
10/12/2020 sẽ có xe tải vận chuyển hàng giao cho A tại khu vực bến xe Ngọc Hồi
(Trong khu công nghiệp Ngọc Hồi, Thanh Trì, Hà Nội). Theo lịch hẹn, 19 giờ 30
phút ngày 10/12/2020, A điều khiển ô tô nhãn hiệu Toyota Vios BKS 30E- 793.92
đến khu vực bến xe Ngọc Hồi để nhận hàng. Khoảng 19 giờ 45 phút, A nhận được
điện thoại của người lái xe tải hẹn gặp để giao hàng v đã nhận đủ 04 thùng thuốc
lá điếu nhãn hiệu Blend No.555 Gold, đồng thời trả cho người lái xe 32.000.000
đồng điều khiển xe ô tô vận chuyển số thuốc lá trên về cất giấu tại tầng 2 nhà ông
Nguyễn Văn E (Bố vợ A) tại thôn Đông, Việt Hùng, Đông Anh, H Nội.
Do thấy giá thuốc lá rẻ, A tiếp tục tìm mua để bán kiếm lời dịp tết Nguyên
đán. Ngy 11/12/2020, A nhắn tin thỏa thuận qua mạng xã hội Facebook với chủ
hàng (Không rõ nhân thân lai lịch, không nhớ tên Facebook) để đặt mua 04 thùng
thuốc lá điếu nhãn hiệu Blend No.555 Gold với giá 160.000 đồng/01 cây và gửi
cho người này số điện thoại 0936.242.658 của A để liên lạc. Sau đó, A nhận được
điện thoại của người chủ hàng hẹn A 20 giờ 30 phút ngày 12/12/2020 có mặt tại
Bến xe Thanh Trì, Hoàng Mai, Hà Nội để nhận hàng. Theo lịch hẹn, A điều khiển
xe ô tô BKS: 30E - 793.92 đến điểm hẹn để nhận thuốc lá. Khoảng 20 giờ 45 phút,
A nhận được điện thoại của người lái xe tải hẹn gặp để giao hàng và nhận đủ 04
thùng thuốc lá, trả cho người lái xe 32.000.000 đồng rồi sử dụng xe BKS 30E -
793.92 vận chuyển số thuốc lá trên về cất giấu: 02 thùng tại tầng 2 nhà ông Nguyễn
Văn Hòa v 02 thùng còn lại tại chỗ ở của A. Đối với 02 thùng thuốc lá cất giấu tại
nhà ông Hòa, khoảng 09 giờ ngày 13/12/2020, A đến nh ông Hòa để lấy thuốc lá
đi bán. Khi mở ra thì phát hiện chỉ có một thùng chứa 50 cây thuốc lá điếu nhãn
hiệu Blend No.555 Gold, thùng còn lại chứa 50 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu
MarlBoro Gold Original do chủ hàng giao nhầm và hẹn sẽ đổi trả cho A sau.
Sáng ngày 15/12/2020, có một nam thanh niên khoảng 30 tuổi đến gặp A đặt
mua 05 thùng (Tương đương 250 cây) thuốc lá điếu nhãn hiệu Blend No.555 Gold.
A thỏa thuận và thống nhất với nam thanh niên giá bán l 180.000 đồng/01 cây,
nam thanh niên đồng ý và A yêu cầu đặt cọc 2.000.000 đồng rồi hẹn sẽ giao hàng
vào sáng ngày 16/12/2020. Mặc dù lúc này A còn cất giấu ở nh hơn 300 cây thuốc
lá điếu nhãn hiệu Blend No.555 Gold nhưng A không bán ngay cho nam thanh
niên trên m để lại số thuốc lá này bán dịp tết Nguyên đán. Vẫn theo D thức cũ, để
4
có thuốc lá giao cho người mua, A tiếp tục nhắn tin qua Facebook thỏa thuận đặt
mua 05 thùng (Tương đương 250 cây) thuốc lá điếu nhãn hiệu Blend No.555 Gold
với giá 160.000 đồng/01 cây và hẹn sẽ giao trong ngày 15/12/2020. Khoảng 22 giờ
ngày 15/12/2020, A điều khiển xe ô tô BKS 30E - 793.92 đến khu vực bến xe
Ngọc Hồi để nhận 05 thùng catton chứa thuốc lá và thanh toán số tiền 40.000.000
đồng cho người lái xe tải chuyển hàng. Sau đó, A vận chuyển 05 thùng thuốc lá về
cất giấu, 02 thùng để trong bếp nhà ông Nguyễn Văn E, còn 03 thùng cất giấu
trong cốp xe ô tô BKS 30E: 793.92.
Khoảng 10 giờ ngày 16/12/2020, A điều khiển xe ô tô BKS 30E - 793.92
đến nhà ông E, vào bếp lấy 02 thùng catton thuốc lá để lên ghế sau xe ô tô vận
chuyển về cửa hàng tạp hóa A D ở X, Y, Đông Anh, H Nội giao cho khách. Khi
về đến cửa hng, nam thanh niên đi xe taxi 123 BKS: 30E – 776.63 đã đợi trước
cửa hàng, A đỗ xe ô tô cạnh xe taxi, sau đó mở cốp xe, bê 03 thùng catton chứa
thuốc lá sang cốp xe taxi 123 giao cho nam thanh niên, nam thanh niên mở 01
thùng catton ra kiểm tra, khi A đang tiếp tục bê 02 thùng catton chứa thuốc lá ở ghế
sau để giao nốt cho nam thanh niên thì bị Công an huyện Đông Anh phát hiện kiểm
tra thu giữ tang vật. Nam thanh niên bất ngờ bỏ chạy thoát.
A không xuất trình được hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ
số thuốc lá nêu trên. Ngoài ra, A còn bán lẻ cho nhiều người không rõ nhân thân,
lai lịch khoảng 41 cây thuốc lá điếu nhãn hiệunhãn hiệu Blend No.555 Gold với giá
180.000 đồng, hưởng lợi khoảng 800.000 đồng, ngoài lời khai của A không có tài
liệu no khác nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với nam thanh niên mua thuốc lá của A, quá trình điều tra không xác
định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với tài khoản facebook mà A đặt mua thuốc lá các ngày 09, 11,
15/12/2020, quá trình điều tra A không nhớ tài khoản Facebook đăng nhập nên Cơ
quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Đối với anh Chu Đức Minh là lái xe taxi 123 chở nam thanh niên bỏ chạy.
Quá trình điều tra, anh Minh không trực tiếp chứng kiến việc giao dịch mua bán
thuốc lá giữa A và nam thanh niên, không biết trong 05 thùng cattong có chứa
thuốc lá điếu nhập lậu nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với chị Nguyễn Thị D (Vợ A), quá trình điều tra không biết việc A có
kinh doanh thuốc lá điếu nhập lậu, số thuốc lá điếu nhập lậu thu giữ tại nhà chị D
được đóng trong thùng cattong dán kín nên chị D không biết là thuốc lá nên Cơ
quan điều tra không đề cập xử lý. Chị Nguyễn Thị D tự nguyện nộp số tiền
2.800.000 đồng tiền thu lời bất chính thay cho A.
Đối với ông Nguyễn Văn E, bà Tá Thị F (Mẹ vợ A), anh Nguyễn Văn G
(Em vợ A) không biết số hàng mà A gửi là thuốc lá lậu vì được đóng trong thùng
cattong dán kín, không biết A kinh doanh thuốc lá điếu nhập lậu, A l người trực
tiếp cất và vận chuyển đi bán nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
5
Đối với xe ô tô BKS : 30E – 793.92, nhãn hiệu Toyota màu sơn nâu vng,
quá trình điều tra xác định chủ sở hữu đăng ký mang tên Nguyễn Mạnh A. Chiếc
xe trên chị Nguyễn Thị D được bố mẹ cho tiền mua nhưng do không có giấy phép
lái xe nên nhờ A đứng tên, sử dụng làm D tiện đi lại và thuê người lái để tăng thêm
thu nhập. Ngy 14/01/2021, Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trao trả
cho chị D chiếc xe trên kèm 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô, 01 giấy kiểm
định an toàn, 01 giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự để quản lý và sử
dụng.
Đối với 02 chiếc điện thoại của A; 5.480 bao thuốc lá điếu do nước ngoài
sản xuất (Đã trừ số mẫu sau giám định); 2.800.000 đồng là vật chứng vụ án,
chuyển Tòa án nhân dân huyện Đông Anh giải quyết theo thẩm quyền.
Cáo trạng số 12/CT-VKSĐA ngy 25/01/2021 của Viện trưởng Viê
̣
n kiê
̉
m
sát nhân dân huy ện Đông Anh quyết đi
̣
nh truy tố b ị cáo Nguyễn Mạnh A về tội:
Buôn bán hàng cấm theo quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo khai nhận tội và thừa nhận: Bị cáo biết việc buôn bán thuốc lá điếu
nhập lậu do nước ngoài sản xuất là mặt hng Nh nước cấm buôn bán, tàng trữ,
vận chuyển. Để có thêm thu nhập, kiếm lời, bị cáo nảy sinh và thực hiện hành vi
buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu. Tổng số bao thuốc lá điếu bị cáo đã mua để với
mục đích bán ra thị trường là 6.110 bao, tất cả đều không có hóa đơn, chứng từ
chứng minh nguồn gốc xuất xứ số thuốc lá nêu trên. Bị cáo đã thu lời được
khoảng 800.000 đồng. Ngày 16/12/2020, khi bị cáo đang có hành vi bán 250 cây
(Tương đương 2.500 bao) thuốc lá điếu do nước ngoi sản xuất nhãn hiệu Blend
No.555 Gold cho người nam thanh niên (Không rõ nhân thân, lai lịch) tại thôn X,
xã Y, huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội thì bị Công an huyện Đông Anh phát
hiện kiểm tra, bắt giữ. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp
luật. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đã ăn năn, hối cải và mong nhận được sự
khoan hồng của pháp luật để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thnh người tốt cho xã hội,
nuôi dưỡng mẹ già cùng 03 con nhỏ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị D xác nhận đã tự
nguyện nộp số tiền 2.800.000 đồng tiền thu lời bất chính thay cho bị cáo A. Chị
tự nguyện sung vào ngân sách Nh nước và không có yêu cầu gì về số tiền này.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ quyền công tố tại
phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, một lần nữa khẳng định
việc truy tố bị cáo về tội danh v điều luật như Cáo trạng đã nêu l đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Xử phạt: Nguyễn Mạnh A từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.
- Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo với mức 20.000.000 đồng.
- Về xư
̉
ly
́
vâ
̣
t chư
́
ng:
6
+ Tịch thu, sung vo ngân sách Nh nước 02 chiếc điện thoại do sử dụng
trực tiếp vào việc phạm tội và số tiền 2.800.000 đồng thu lời bất chính do chị
Nguyễn Thị D tự nguyện giao nộp;
+ Tịch thu, tiêu hủy 5.480 bao thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất (Còn
lại sau khi lấy mẫu giám định) do là vật Nh nước cấm kinh doanh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện
Đông Anh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Kiểm sát
viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự,
thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên
tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi và tội danh của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên
tòa phù hợp với lời khai của bị cáo và người chứng kiến, Kết luận giám định, các
tài liệu, chứng cứ khác tại cơ quan điều tra và kết quả tranh tụng công khai tại
phiên toà. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Khoảng 10h30’ ngày
16/12/2020, khi bị cáo Nguyễn Mạnh A đang có hành vi bán 250 cây (Tương
đương 2.500 bao) thuốc lá điếu do nước ngoi sản xuất nhãn hiệu Blend No.555
Gold cho một nam thanh niên (Không rõ nhân thân, lai lịch) tại thôn X, xã Y,
huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội thì bị Công an huyện Đông Anh phát hiện
kiểm tra, bắt giữ. Ngoài ra, bị cáo còn tàng trữ 3.610 bao thuốc điếu do nước ngoài
sản xuất với mục đích để bán kiếm lời. Tổng số bao thuốc lá điếu do nước ngoài
sản xuất bị cáo buôn bán là 6.110 (Sáu nghìn một trăm mười một) bao. Tất cả đều
không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ số thuốc lá nêu trên và
là mặt hàng thuộc trường hợp Nh nước cấm kinh doanh. Số tiền bị cáo đã thu lời
được khoảng 800.000 đồng.
Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Mạnh A phạm tội Buôn bán hàng cấm.
Tội phạm và hình phạt quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 190 Bộ luật hình sự.
Nội dung Điều luật quy định:
“1. Ngươ
̀
i na
̀
o th ực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc
các trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304,
305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến
1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 1 năm đến 5 năm:
...
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 08
năm đến 15 năm:
...
b,Thuốc lá điếu nhập lậu 4.500 bao trở lên”

7
Đánh giá hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tội phạm không
những xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hng hoá m Nh nước cấm
kinh doanh mà còn gây lũng đoạn thị trường. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình
sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do ý thức coi
thường pháp luật, tham lam tư lợi nên vẫn vi phạm. Việc đưa bị cáo ra xét xử và
có mức hình phạt thỏa đáng nhằm mục đích giáo dục bị cáo trở thnh người có
ích cho xã hội; đấu tranh, giáo dục, phòng chống tội phạm nói chung, đồng thời
tuyên truyền nhắc nhở đến các cơ sở sản xuất, kinh doanh chấp hành tốt quy định
của pháp luật trong hoạt động mua bán, cung ứng hàng hóa ra thị trường, nâng
cao ý thức của người dân trong đấu tranh chống gian lận thương mại, kiểm soát
thị trường, đặc biệt dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán và thể hiện tính
nghiêm minh của pháp luật trước mọi hành vi phạm tội là cần thiết.
[3] Về nhân thân và tiền án, tiền sự của bị cáo:
- Về tiền án, tiền sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
[4] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo có
thành tích trong việc tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện,
phòng chống tội phạm được Công an huyện Đông Anh xác nhận; Gia đình bị cáo
có hoàn cảnh khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa D; Sau khi phạm tội đã
nộp lại số tiền thu lời bất chính để khắc phục hậu quả nên bị cáo được hưởng các
tình tiết giảm nhẹ theo Điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về hình phạt chính: Khi lượng hình, Tòa án xét đến các tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để từ đó có hình phạt tương
xứng với mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, cụ thể:
Bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù có thời
hạn, tương xứng với mức độ hành vi, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một
thời gian nhất định mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo
phạm tội do cơ hội, phát sinh từ chế độ quản lý Nh nước về mạng xã hội, về quản lý
thị trường còn có những thiếu sót nhất định; Số tiền thu lời không lớn; Bị cáo là lao
động chính trong gia đình v có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1,
Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự như đã đánh giá ở trên nên cần giảm nhẹ một
phần hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của
khung hình phạt được áp dụng quy định tại Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xác định hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, không
có điều kiện để thi hành án nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với
bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106
Bộ luật tố tụng hình sự để:
8
+ Tịch thu, sung vào ngân sách Nh nước 02 chiếc điện thoại của bị cáo do
sử dụng trực tiếp vào việc phạm tội và số tiền 2.800.000 đồng thu lời bất chính do
chị Nguyễn Thị D tự nguyện giao nộp;
+ Tịch thu, tiêu hủy 13 thùng cát tông bên trong chứa 5.480 bao thuốc lá
điếu do nước ngoài sản xuất (Còn lại sau khi lấy mẫu giám định) do là vật Nhà
nước cấm kinh doanh.
+ Đối với xe ô tô BKS : 30E – 793.92, nhãn hiệu Toyota, chủ sở hữu đăng
ký mang tên Nguyễn Mạnh A. Lời khai của bị cáo v phía gia đình chị Nguyễn Thị
D phù hợp với nhau v đều xác định : Chiếc xe trên chị D được bố mẹ cho tiền
mua nhưng do không có giấy phép lái xe nên chị D nhờ A đứng tên, có thuê người
lái và sử dụng làm D tiện đi lại của gia đình. Do đó, ngy 14/01/2021, Cơ quan
điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trao trả cho chị D chiếc xe trên kèm 01 giấy
chứng nhận đăng ký xe ô tô, 01 giấy kiểm định an toàn, 01 giấy chứng nhận bảo
hiểm trách nhiệm dân sự để quản lý và sử dụng l có căn cứ.
[7] Đối với nam thanh niên mua thuốc lá của A, quá trình điều tra không
xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý l có căn
cứ.
Đối với tài khoản facebook mà A đặt mua thuốc lá các ngày 09, 11,
15/12/2020, quá trình điều tra, do A không nhớ tài khoản Facebook đăng nhập nên
Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý l đúng quy định pháp luật.
Đối với anh Chu Đức Minh là lái xe taxi 123 chở nam thanh niên bỏ chạy.
Quá trình điều tra, anh Minh không biết v không liên quan đến việc mua bán
thuốc lá giữa A và nam thanh niên nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có
căn cứ.
Đối với chị Nguyễn Thị D (Vợ A), ông Nguyễn Văn E, bà Tá Thị F (Bố mẹ
vợ A), anh Nguyễn Văn G (Em vợ A), quá trình điều tra không biết việc A có kinh
doanh thuốc lá điếu nhập lậu, không biết bên trong các thùng catton dán kín bị thu
giữ tại nhà mình là thuốc lá nhập lậu nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có
căn cứ.
[8] Quan điểm của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh giữ
quyền công tố tại phiên toà về tội danh, hình phạt chính đối với bị cáo và xử lý
vật chứng l có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[9] Về án phí: Bị cáo pA chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp
luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
có quyền kháng cáo theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạnh A phạm tội: Buôn bán hàng cấm.

9
2. Về hình phạt chính: Căn cứ Điểm b Khoản 3 Điều 190; Điê
̉
m s, t Khoản
1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Mạnh A 05 (Năm) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính
từ ngày 16/12/2020.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều
47 Bộ luật hình sự;
+ Tịch thu, sung vo ngân sách Nh nước 02 chiếc điện thoại di động và số
tiền 2.800.000 đồng;
+ Tịch thu, tiêu hủy 13 thùng cát tông chứa thuốc lá điếu nhập lậu.
(Chi tiết, tình trạng, đặc điểm theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ
quan cảnh sát điều tra- Công an huyện Đông Anh với Chi cục thi hành án dân sự
huyện Đông Anh và Giấy nộp tiền vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự
huyện Đông Anh cùng ngày 29/01/2021.).
4. Về án phí:
- Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn,
giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo pA chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chỉ có quyền kháng cáo phần bản án
hoặc quyết định có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình./.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- TAND Thành phố Hà Nội;
- Sở tư pháp TP. Hà Nội;
- VKSND huyện Đông Anh;
- Công an huyện Đông Anh;
- Chi cục THADS huyện Đông Anh;
- UBND xã Y;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ./. Nguyễn Lâm Bình
10
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
11

12
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
HUYỆN ĐÔNG ANH Độc lập- Tự do – Hạnh phúc
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 10 giờ 00 phút ngy 06 tháng 3 năm 2018
Tại: phòng nghị án tầng 2 - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thnh
phố Hà Nội.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Tiến Trung.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Dƣơng Xuân Đính
2/ Bà Ngô Thị Thu Hiền
Tiến hành nghị án đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2018/TLHS-
ST ngy 02 tháng 02 năm 2018 đối với:
Bị cáo Trần Quang Tịnh, sinh năm 1979 tại Hà Nội.
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh
tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƢ SAU:
1/ Về tội danh: Hội đồng xét xử nhất trí biểu quyết 3/3:
13
Tuyên bố bị cáo Trần Quang Tịnh phạm tội “Tng trữ trái phép chất ma túy”.
2/ Điều luật áp dụng và hình phạt:
Hội đồng xét xử nhất trí biểu quyết 3/3 căn cứ vào:
Điều 249, khoản 1, điểm c; Điều 51 khoản 1 điểm s Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Trần Quang Tịnh 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ
ngày 04/11/2017.
3/ Các vấn đề khác: Hội đồng xét xử nhất trí biểu quyết 3/3:
- Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự
Hội đồng xét xử biểu quyết nhất trí 3/3: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày
để đảm bảo thi hành án kể từ ngày tuyên án.
- Căn cứ Điều 47 khoản 1 điểm c Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 khoản 2
điểm a Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chứa 0,334 gam Hêrôin. (Tình
trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/01/2018 giữa Công
an huyện Đông Anh v Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh).
- Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 khoản 1; Điều 332 v Điều
333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 21 khoản 1 v điểm a khoản 1 Điều 23
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án cùng danh mục kèm theo.
Bị cáo Trần Quang Tịnh pA chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí
hình sự sơ thẩm.
Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Kim Nỗ, huyện Đông Anh, thnh
phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện quy định của
pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo pA
chấp hành hình phạt tù của bán án đã cho hưởng án treo.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể
từ ngày tuyên án.
Biên bản nghị án đã được các thành viên Hội đồng xét xử đọc lại, nhất trí
100% (3/3) thông qua./.
14
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN
TÒA
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 13/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 11/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 10/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 05/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Bản án số 34/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Bản án số 33/2025/HNGĐ-PT ngày 02/12/2025 của TAND TP. Đà Nẵng về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 02/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 01/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 28/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 27/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm