Bản án số 21/2019/HNGĐ-ST ngày 30/08/2019 của TAND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 21/2019/HNGĐ-ST

Tên Bản án: Bản án số 21/2019/HNGĐ-ST ngày 30/08/2019 của TAND huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Nam Đàn (TAND tỉnh Nghệ An)
Số hiệu: 21/2019/HNGĐ-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 30/08/2019
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị Trần Thị D xin ly hôn với anh Trần Anh H
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN N
TỈNH NGHỆ AN
Bản án số: 21/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 30-8-2019
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn.
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Mạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh.
Ông Nguyễn Xuân Huế
- Thư phiên toà: Thị Thu Trang - Thư Tòa án Tòa án nhân
dân huyện N, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An tham gia
phiên toà: Ông Trần Minh Thắng – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N xét xử
thẩm công khai vụ án thụ số 48/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm
2019 về “Ly hôn; tranh chấp về nuôi con khi ly hôn; theo Quyết định đưa vụ án
ra xét xử số: 27/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 29 tháng 7 năm 2019, giữa các
đương sự:
- Nguyên đơn: Chị H Thị D, sinh năm 1995. Nơi ĐKHKTT:Xóm Đ,
N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bị đơn: Anh Trần Anh H, sinh năm 1990. Nơi ĐKHKTT: Xóm Đ, N,
huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI D VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 14/02/2019, Bản tự khai trong quá trình giải
quyết vụ án, chị H Thị D trình bày:
Về hôn nhân: Chị anh Trần Anh H kết hôn với nhau trên sở tự
2
nguyện, đăng kết hôn tại UBND N, huyện N, tỉnh Nghệ An vào ngày
07/4/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đưc 01 năm 06
tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình quan điểm sống
không hợp nhau, vợ chồng xa nhau, do chồng đi làm xa dẫn đến tình cảm vợ
chồng ngày càng phai nhạt. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 10/2018 đến nay,
không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không
còn nên làm đơn xin được ly hôn với anh Trần Anh H.
Về con chung: Chị anh H 01 con chung Trần Anh H, sinh ngày
20/01/2018. Ly hôn, chị nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng
con chung đến khi trưởng thành không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị anh Trần Anh H không tài sản chung,
không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía Bị đơn anh Trần Anh H: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập
hợp lệ nhiều lần nhưng anh H đều vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án
cũng như tại phiên tòa mà không có lý do.
Quá trình thu thập tài liệu chứng cứ qua xác minh tại nơi trú của anh
Trần Anh H Phan Thị S mẹ của anh Trần Anh H thì được cung cấp nội
D như sau: Sâm gia đình biết việc chị D nộp đơn ly hôn với anh H.
Quá trình giải quyết vụ án Sâm đã nhận được thông báo thụ vụ án, thông
báo về phiên họp kiểm tra việc tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải của Tòa
án thông báo cho anh Trần Anh H được biết nhưng bận công việc anh H
không thể về tham gia giải quyết vụ án được.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Nghệ An
phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm
phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định
của Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của
mình; Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không chấp hành đúng theo
quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội D: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 81;
Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử: Về hôn nhân: Cho chH Thị
D anh Trần Anh H được ly hôn. Về con chung: Giao con chung Trần Anh H,
sinh ngày 20/01/2018 cho chị H Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi
con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh Trần Anh H do
chị H Thị D chưa yêu cầu. Về tài sản chung và các khoản nợ của vợ chồng:
Nguyên đơn không yêu cầu, bị đơn không có ý kiến nên đề nghị không xem xét.
Về án phí: Áp dụng Điều 147 của Bộ Luật tố tụng dân sự: Nguyên đơn phải chịu
án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ tại hồ vụ án; lời trình bày
của đương sự được thẩm tra tại phiên toà; Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn chị H Thị D yêu cầu Tòa án giải quyết được
ly hôn với anh Trần Anh H hộ khẩu thường trú tại N, huyện N, tỉnh Nghệ
An, nên đây vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình về việc Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện
N theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân
sự. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần
nhưng vẫn cố tình vắng mặt; chị D đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa
giải. Do đó, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy
định tại khoản 1, khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Căn cứ Điều 227
Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo
đúng quy định.
[2]. Về hôn nhân: Chị H Thị D anh Trần Anh H kết hôn với nhau trên
sở tự nguyện, đăng kết hôn tại UBND N, huyện N, tỉnh Nghệ An
vào ngày 07/4/2017, nên đây hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng
chung sống hạnh phúc được hơn 01 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân
do tính tình, quan điểm sống không hợp nhau. Anh H đã được Tòa án đã triệu
tập nhưng không tham gia làm việc, điều đó thể hiện anh H tbỏ các quyền
nghĩa vụ của mình, không có ý thức hòa giải đoàn tụ vợ chồng. Thực tế chị D và
anh H đã sống ly thân từ tháng 10/2018 đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc
nhau nữa. Việc vợ chồng đã sống ly thân không còn quan tâm, chăm sóc nhau là
vi phạm nghiêm trọng quyền nghĩa vụ của vợ, chồng theo quy định tại Điều
19 Luật Hôn nhân và gia đình, m cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng,
đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. vậy,
căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị
D, giải quyết cho chị H Thị D được ly hôn với anh Trần Anh H.
[3]. Về con chung: Quá trình chung sống, chị D và anh H có 01 con chung
Trần Anh H, sinh ngày 20/01/2018; t lúc cháu Huy được sinh ra đến nay thì
chị D người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn, chị D nguyện vọng
được trực tiếp chăm c, nuôi dưỡng không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi
con. Xét thấy, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền lợi ích
hợp pháp của con chưa thành niên nghĩa vụ và quyền của cha mẹ; nguyện
vọng được trực tiếp nuôi con chung của chị D chính đáng. Hiện nay cháu
Trần Anh H đang còn nhỏ, chưa đủ 36 tháng tuổi theo quy định tại khoản 3
Điều 81 của Luật hôn nhân gia đình thì “Con dưới 36 tháng tuổi được giao
cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp
4
trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ thỏa thuận khác
phù hợp với lợi ích của con”. Xét về điều kiện nuôi con thì hiện nay, chị D
việc làm thu nhập ổn định, đủ các điều kiện để nuôi con. Do đó, để cuộc
sống của con không bị xáo trộn, không bị ảnh hưởng đến tâm, sinh lý, nhằm
đảm bảo quyền lợi sự phát triển về mọi mặt cho con, cần tiếp tục giao con
chung cho chị D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi
trưởng thành là phù hợp, có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Anh Trần Anh H quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản
trở.
[4]. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con nghĩa
vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, do chị D chưa yêu cầu anh H cấp dưỡng nên
tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh H.
[5]. Về tài sản chung các khoản nợ chung: Chị H Thị D không yêu cầu
Tòa án giải quyết; anh Trần Anh H không ý kiến gì nên Hội đồng xét xử
không xem xét. Trường hợp anh Trần Anh H yêu cầu thì quyền khởi kiện
bằng một vụ kiện dân sự khác.
[6]. Về án phí: Chị H Thị D phải chịu án phí dân sự thẩm trong vụ án
ly hôn.
[7]. Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết
toàn bộ vụ án là căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định
của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82 Điều 83 của Luật Hôn nhân gia
đình; Điều 147 của Bộ luật t tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị H Thị D.
1. Về hôn nhân: Cho chị H Thị D và anh Trần Anh H được ly hôn.
2. Về con chung: Giao con chung Trần Anh H, sinh ngày 20/01/2018 cho
chị H Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho đến
khi con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh H
do chị D chưa yêu cầu. Anh Trần Anh H quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà
không ai được cản trở.
lợi ích mọi mặt của con, khi do chính đáng hoặc căn cứ theo
quy định của pháp luật, khi yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án thể
quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
5
3. Về án phí: Chị H Thị D phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền
án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí
300.000đ (ba trăm nghìn đồng) chị D đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số
0002131 ngày 04/3/2019 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện N, tỉnh Nghệ An
(chị D đã nộp đ tiền án phí).
4. Về quyền kháng cáo: Chị H Thị D quyền kháng cáo bản án trong
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Trần Anh H có quyền kháng
cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày
bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
- VKSND huyện N;
- Các đương sự
- Chi CTHADS huyện N;
- TAND tỉnh Nghệ An;
- VKSND tỉnh Nghệ An
- UBND xã N, h. N;
- Lưu HSVA; VPTA
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Huy Mạnh
Tải về
Bản án số 21/2019/HNGĐ-ST Bản án số 21/2019/HNGĐ-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất