Bản án số 20/2023/HS-ST ngày 16/03/2023 của TAND TP. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 20/2023/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 20/2023/HS-ST ngày 16/03/2023 của TAND TP. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tội danh: 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Phúc Yên (TAND tỉnh Vĩnh Phúc)
Số hiệu: 20/2023/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 16/03/2023
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHÚC YÊN
TỈNH VĨNH PHÚC
Bản án số: 20/2023/HS-ST
Ngày 16 - 3 - 2023
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do- Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Vũ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thịnh và bà Phan Thị Nhung.
- Thư phiên tòa: Đỗ Thị Hiền - T Tòa án nhân dân thành phố
Phúc Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 3 năm 2023, tại Nhà văn hóa T2, phường H, thành phố P,
Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ
án hình sự thụ số: 17/2023/HSST ngày 24 tháng 02 năm 2023; theo Quyết định
đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2023 đối với bị
cáo:
Trọng T (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 18 tháng 6 năm 1987; Nơi
sinh: Huyện H, tỉnh Phú Thọ; trú tại: Phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc;
giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn
hóa: 09/12; Đảng, đoàn thể: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Văn
B bà Trần Thị H; vợ là Trần Thị Thanh G 02 con; tiền án, tiền sự:
Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15 tháng 12 năm 2022 đến nay, “có
mặt”.
Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Anh Đào Anh B1 “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15 tháng 12 năm 2022, Trọng T đang đi
lang thang khu vực bến xe P thuộc phường H, P, Vĩnh Phúc tnhu cầu sử
dụng ma túy Heroine. Tại đây, T gặp mua 01 túi ma túy Heroine với giá
200.000 đồng của một người đàn ông không danh tính, địa chỉ cụ thể. Sau khi
mua được ma túy, T cầm túi ma túy cất vào túi áo khoác bên phải đang mặc và tìm
nơi sử dụng. Đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, khi T đang đi đến một quán
2
nước khu vực bến xe P thì bị Công an thành phố P kiểm tra phát hiện bắt quả
tang thu giữ toàn bộ vật chứng, gồm:
- T1 tại túi áo khoác bên phải đang mặc của Trọng T có 01 túi nilon màu
trắng, bên trong chứa các cục bột màu trắng, được cho vào phong hiệu A1
niêm phong theo quy định.
- Thu giữ mẫu nước tiểu của Trọng T đựng trong 01 chai nhựa nắp
đậy kín được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật.
Tại Bản kết luận giám định số 3692/KL-KTHS ngày 19 tháng 12 năm 2022
của Phòng K Công an tỉnh V, kết luận: “Chất bột cục màu trắng của mẫu hiệu
A1 gửi giám định ma túy, khối lượng 0,1981g (Không phảy một chín tám
một gam, không kể bao bì), loại Heroine”. quan giám định đã hoàn lại A1 =
0,1575 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói.
Tại bản Kết luận giám định số 3711/KLGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2022 của
Phòng K Công an tỉnh V đối với mẫu nước tiểu thu giữ của Trọng T, kết luận:
“Tìm thấy chất ma túy Morphine trong mẫu nước tiểu thu của Trọng T, SN
1987, HKTT: phường Đ, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc gửi đến giám định.
Morphine là chất ma túy nằm ở danh mục IIA, STT 55, Nghị định số 57/2022/NĐ-
CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính phủ”. quan giám định hoàn lại
0,00ml mẫu cùng bao gói được niêm phong kín.
Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKSPY ngày 23 tháng 02 năm 2023 của Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Lê Trọng
T vtội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật
Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên vẫn giữ
nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trọng T về tội danh như đã nêu trên đề
nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51
Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù; thời
hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ, tạm giam bị cáo. Ngoài ra đại diện
Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí theo qui định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên,
Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên của quan điều tra
Công an thành phố P, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc
Yên đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về khởi tố vụ án,
khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn,
trưng cầu giám định, lấy lời khai của bị can những người tham gia tố tụng, kết
luận điều tra, ban hành cáo trạng. Thời hạn điều tra, truy tố đảm bảo đúng theo
quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo không ai khiếu nại đối với các
hành vi, quyết định của những người tiến hành tố tụng. Vì vậy, hành vi, quyết định
của những người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
3
[2] Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như sau: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15
tháng 12 năm 2022, tại khu vực bến xe P, thuộc địa phận phường H, thành phố P,
tỉnh Vĩnh Phúc, Trọng T đang hành vi cất giấu tại túi áo khoác bên phải
đang mặc 01 gói ma túy (loại Heroine) có khối lượng 0,1981 gam với mục đích để
sử dụng thì bị Công an thành phố P phát hiện, bắt quả tang và thu giữ cùng toàn bộ
vật chứng.
[3] Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại biên bản bt
người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng những
người tham gia tố tụng khác. Phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm
sát nhân dân thành phố Phúc Yên và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ
án như: Vật chứng thu giữ của vụ án, kết luận giám định khối lượng Heroine của
Phòng K - Công an tỉnh V,...Vì vậy đủ sở để kết luận Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Phúc Yên đã truy tố bị cáo Trọng T về tội “Tàng trữ trái phép
chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự hoàn toàn đúng
người, đúng tội, không oan sai.
Điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua
bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp
sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c)…Heroine..có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[4] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy
hiểm cho hội, bị cáo tuổi đời còn trẻ nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện,
ăn chơi đua đòi ngang nhiên mua ma túy (Heroine) với mục đích sử dụng cá nhân.
Hành vi phạm tội của bcáo đã xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền quản của
nhà nước về chất ma túy. Gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến tình hình an
ninh chính trị, trật tự an toàn hội trên địa bàn, gây bất bình trong luận quần
chúng nhân dân. Đặc biệt hiện nay tnạn ma túy trong cả nước nói chung cũng
như địa bàn thành phố P diễn biến ngày càng phức tạp gây nhiều hậu quả xấu,
tác động trực tiếp vào từng nhân, từng gia đình toàn hội. Tệ nạn ma túy
kéo theo một loạt các tội phạm như: Trộm cắp, giết người, chiếm đoạt tài sản…và
rất nhiều các loại bệnh tật nguy hiểm, trong đó căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS.
vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng
răn đe và phòng ngừa chung.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng
nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận
thấy:
Bị cáo Trọng T người nhân thân tốt, bản thân chưa tiền án, tiền
sự. Quá trình điều tra tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về
hành vi phạm tội của mình. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình
tiết tăng nặng: Không. Xét thấy cần áp dụng hình phạt đối với bị cáo mới đủ
điều kiện để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành một công dân có ích cho gia đình
xã hội.
4
Đối với người đàn ông T khai đã bán ma túy cho T, cơ quan điều tra đã tiến
hành điều tra, xác minh nhưng đến nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch cụ
thể. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là phù hợp.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo Lê Trọng T làm nghề tự do
không thu nhập ổn định, tài sản do vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ
sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,1575 gam mẫu ma túy toàn bộ bao i
niêm phong hoàn trả sau giám định cần tịch thu, tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo Trọng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy
định của pháp luật.
[8] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên
tại phiên tòa về tội danh cũng như mức hình phạt là phù hợp với quy định của
pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Trọng T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình
sự. Xử phạt: Bị cáo Trọng T 01 (Một) năm 07 (B2) tháng tù. Thời hạn chấp
hành hình phạt tính tngày tạm giữ, tạm giam bị cáo ngày 15 tháng 12 năm
2022.
Về xử vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2
Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy 0,1575 gam mẫu ma túy, chai nhựa cùng toàn bộ bao gói
niêm phong hoàn trả sau giám định.
Các vật chứng, tài sản nêu trên đặc điểm như trong biên bản giao nhận
tài sản, vật chứng số 41 lập ngày 27 tháng 02 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án
dân sự thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết
326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Trọng T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án
phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án sơ thẩm./.
Nơi nhận:
- Viện KSND T.Vĩnh Phúc;
- Viện KSND TP.;
- CQĐT - Công an TP.;
- Trại TG – CA tỉnh Vĩnh Phúc;
- THADS TP.;
- Sở Tư pháp T.Vĩnh Phúc;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
5
- Bị cáo Lê Trọng Tấn;
- Lưu HSVA.
Lê Anh Vũ
6
7
Tải về
Bản án số 20/2023/HS-ST Bản án số 20/2023/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất