Bản án số 195/2023/HNGĐ-PT ngày 23/02/2023 của TAND TP. Hồ Chí Minh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 195/2023/HNGĐ-PT

Tên Bản án: Bản án số 195/2023/HNGĐ-PT ngày 23/02/2023 của TAND TP. Hồ Chí Minh về vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Quan hệ pháp luật: Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 195/2023/HNGĐ-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 23/02/2023
Lĩnh vực: Hôn nhân gia đình
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ H
Bản án số: 195/2023/HNGĐ-PT
Ngày: 23 02 2023
V/v Tranh chấp ly hôn
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Trịnh Minh Đức.
Các Thẩm phán: Trần Thị Lệ Uyên;
Võ Thị Mỹ Hạnh.
- Thư phiên tòa: Ông Bùi Viết Nhiên Thư Tòa án nhân dân Thành phố
H.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Đỗ
Đức Toàn Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 02 m 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố H xét xử
phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ số 129/2022/TLPT-HNGĐ
ngày 18 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”.
Do Bản án Hôn nhân gia đình thẩm số 12/2022/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 7
năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận Y, Thành phố H bị Nguyễn Thị Thúy H
kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 210/2023/QĐ-PT ngày 30
tháng 01 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Nguyên G, sinh năm 1968
Địa chỉ: Số 290/12D (số 290/14) đường NKKN, phường VTS, Quận Y,
Thành phố H.
Địa chỉ liên lạc: S96 đường MT, phường TNPA, thành phố TĐ, Thành phố
H.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1971
Địa chỉ: Số 290/12D (số 290/14) đường NKKN, phường VTS, Quận Y,
Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn ly hôn, bản tự khai biên bản hành hòa giải, nguyên đơn ông
Nguyễn Nguyên G trình bày:
2
Ông Nguyễn Nguyên G Nguyễn Thị Thúy H quen biết nhau, tự
nguyện kết hôn đăng kết hôn tại y ban nhân dân phường GV, quận BĐ,
Thành phố HN, theo giấy chứng nhận kết hôn số 118 ngày 16/12/1993.
Trong thời kỳ hôn nhân vợ chồng 02 con chung tên Nguyễn Diệu L, sinh
ngày 19/8/1994 Nguyễn Quỳnh M, sinh ngày 08/7/2002. Thời gian đầu cuộc
sống hôn nhân hạnh phúc, đến năm 2018 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất
đồng quan điểm hiện nay ông G không còn tình cảm với H nữa. Đến giữa
năm 2019 ông G tình cảm với người phụ nữ khác, việc này ông G công khai
với gia đình H biết, thời điểm đó chưa muốn giải quyết ly hôn vì sợ ảnh
hưởng đến việc học hành của con. Hiện nay cả hai vợ chồng không còn sống chung,
H đang tại số 290/12D (số 290/14) đường NKKN, phường VTS, Quận Y,
Thành phố H là nhà bố mẹ ruột của ông G, còn ông G thì từ năm 2019 đi làm ở HN,
đến năm 2020 thì về lại Thành phố H làm việc và lại Công ty tại địa chỉ số 96
đường MT, phường TNPA, thành phố TĐ, Thành phố H. o tháng 7 năm 2020
ông G đã nộp đơn ly hôn với H tại Tòa án nhân dân Quận Y, Thành phố H, tuy
nhiên đến khi Tòa án mở phiên tòa xét xử thì ông G bận do nhân không đến
được nên Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án, đồng thời ông G cũng suy nghĩ
đến bố mẹ, cũng đã cố hàn gắn với bà H nhưng không được. Nay ông G nộp lại đơn
yêu cầu ly hôn với H nhận thấy không còn tình cảm với H, cuộc sống hôn
nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân đạt được, đề nghị Tòa án giải quyết cho
ông G được ly hôn với bà H.
- Về con chung: Hiện nay cả 02 con chung đã thành niên, nên không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, biên bản a giải bđơn là Nguyễn Thị Thúy H trình bày:
H xác nhận việc kết hôn con chung đúng như lời trình bày của ông G.
Sau khi kết hôn thì cuộc sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc. Đến tháng 6 năm 2019
ông G về i với gia đình tình cảm với người phnữ khác, H trao đổi với
ông G vì không muốn gia đình tan vỡ. Tuy nhiên đến tháng 11 năm 2020, ông G nói
với H đã làm đơn ly hôn, sau khi làm việc hòa giải tại a án nhân dân Quận
Y, Thành phố H thì ông G về nhà xin lỗi H ba mruột của ông G, ông G còn
nói cho thời gian để xử việc riêng với người phụ nữ kia, gia đình cũng tạo điều
kiện cho ông G giải quyết. Ngày 26/5/2021, Tòa án mời vợ chồng n giải
quyết ly hôn thì ông G nói sẽ không lên Tòa án, sau đó Tòa án đình chỉ giải quyết vụ
án. Từ tháng 5/2021 đến tháng 10/2021 ông G có mang số tiền của gia đình đi làm ăn
nhưng sau đó thì thất bại, sau đó ông G về lại nba mruột sinh sống nhưng lúc y
ông G tiếp tục nói với H đang làm thủ tục ly hôn ông G muốn tự do không
phải lo cho ba mẹ ruột và các con. Ba mẹ chồng củaH thấy ông G nói vậy nên đã
đuổi ông G ra khỏi nhà bất hiếu với cha mẹ trách nhiệm với con. H vẫn
còn tình cảm với ông G nên H không muốn ly hôn. Hiện nay ông G đang tại
Công ty nên tâm lý không ổn định do thua lỗ trong chuyện làm ăn nên không được
bình tâm. Ngoài ra, ông G đã nhiều lần về nhà ép H đơn ly hôn nhưng H
thấy ông G làm đơn ly hôn không phù hợp, nên H không đồng ý ly hôn.
3
- Về con chung: Hiện nay cả 02 con chung đã thành niên, không yêu cầu
Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản án hôn nhân gia đình thẩm số 12/2022/HNGĐ-ST ngày 26 tháng
7 năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận Y, Thành phố H đã nhận định:
Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 118 do Ủy ban
nhân dân phường GV, quận BĐ, Thành phố HN cấp ngày 16/12/1993 thì ông
Nguyễn Nguyên G Nguyễn Thị Thúy H mối quan hệ hôn nhân hợp pháp,
được pháp luật công nhận là vợ chồng.
Căn cứ Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân Gia đình qui định: “Vợ, chồng
hoặc cả hai người quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn”. Xét trong đơn khởi
kiện, bản tự khai các ý kiến của ông G thì cuộc sống vợ chồng ngày càng phát
sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, ông G không còn tình cảm với H
tình cảm với người khác. Vào năm 2020 ông G đã nộp đơn ly hôn đến Tòa án
nhân dân Quận Y, Thành phố H nhưng sau đó ông G không đến chưa muốn ly
hôn, sợ ảnh hưởng đến việc học hành của con thương cha mẹ già, ông G cũng
muốn quay về gia đình nhưng khi về nhà tnhận thấy không khả năng hàn gắn
để tiếp tục chung sống nên ông G không về nữa. Hiện nay cả hai vợ chồng không
còn sống chung, ông G sống tại Công ty đang làm việc. Nhận thấy mâu thuẫn vợ
chồng không thể giải quyết, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài thêm được nữa,
tình cảm không còn, nên ông G nộp đơn ly hôn với bà H.
Xét lời trình bày của H về việc vẫn còn tình cảm với ông G, việc ông G
cho rằng không còn tình cảm với H tình cảm với người khác thì H vẫn
chấp nhận, vì vợ chồng không còn tình cảm thì vẫn còn tình nghĩa vợ chồng, nên bà
H không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông G.
Tại Điều 19 của Luật Hôn nhân Gia đình qui định về tình nghĩa vợ chồng
như sau: “1. V chồng có nga vthương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm
c, giúp đỡ nhau; cùng nhau ng nhau chia sẻ, thực hiện các ng việc trong gia
đình. 2. Vợ chồng có nga vụ sống chung với nhau ...”. Khoản 1 Điều 56 của
Luật Hôn nhân Gia đình qui định về ly hôn theo u cầu của một bên như sau:
“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn a giải tại Tòa án không thành thì a
án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có nh vi bạo lực gia
đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân
lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn
nhân không đạt được….”.
Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử t thấy xuất phát từ bất đồng quan
điểm trong cuộc sống dẫn đến phát sinh mâu thuẫn, làm rạn nứt tình cảm vợ chồng,
dẫn đến vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Cả hai đã
không còn chung sống với nhau từ năm 2020 cho đến nay. Ông G đã từng nộp đơn
ly hôn nhưng lại không muốn giải quyết Tòa án nhân dân Quận Y, Thành phố H
đã ban hành Quyết đình đình chỉ giải quyết vụ án, quan trọng là tình cảm của ông G
không còn, ông G không cần sự quan tâm, yêu thương, chăm c của H. Hội
4
đồng xét xử nhận thấy cả hai không khả năng hàn gắn, đoàn tụ gia đình, mục
đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của ông Gcó cơ sở nên chấp nhận.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân ông G H 02 con chung
Nguyễn Diệu L sinh ngày 19/8/1994 Nguyễn Quỳnh M sinh ngày 08/7/2002.
Con chung đã trưởng thành các bên đương sự không yêu cầu giải quyết sở,
nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Ông G không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét
xử không xem xét.
Từ những nhận định nêu trên, cấp sơ thẩm đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Nguyên G được ly hôn với bà Nguyễn
Thị Thúy H.
Quan hệ hôn nhân của ông Nguyễn Nguyên G Nguyễn Thị Thúy H
theo Giấy chứng nhận kết hôn số 118 do Ủy ban nhân dân phường GV, quận BĐ,
Thành phố HN cấp ngày 16/12/1993 chấm dứt kể từ ngày Bản án của Tòa án
hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Hai con chung đã trưởng thành.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, Bản án thẩm còn tuyên v án phí, quyn yêu cu thi hành án,
quyn kháng cáo của các đương sự theo quy định ca pháp lut.
Ngày 08/8/2022, Nguyn Th Thúy H kháng cáo, yêu cu cp phúc thm
sa Bản án hôn nhân gia đình thm s 12/2022/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 7 năm
2022 ca Tòa án nhân dân Qun Y, Thành ph H; Bác yêu cu xin ly hôn, cho ông
Nguyn Nguyên G và Nguyn Th Thúy H được đoàn tụ v chng không
mâu thun.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyễn Thị Thúy H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Ông Nguyễn Nguyên G yêu cầu giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân dân thành phố H tham gia phiên tòa phát
biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Tký, Hội đồng xét xử phúc thẩm các
đương sự thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:
Ngày 26/7/2022, Tòa án nhân dân Quận Y, Thành phố H tuyên Bản án
thẩm số 12/2022/HNGĐ-ST. Ngày 08/8/2022, Tòa án nhân dân Quận Y, Thành phố
H nhận đơn kháng được đơn kháng cáo của Nguyễn Thị Thúy H. Như vậy, n
cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, kháng cáo còn trong thời
hạn luật định.
Về nội dung kháng cáo:
5
Nguyễn Thị Thúy H kháng cáo yêu cầu hủy Bản án hôn nhân gia đình sơ
thẩm số 12/2022/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận
Y, Thành phố H, bác đơn xin ly hôn của ông Nguyễn Nguyên G.
Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 118 do Ủy ban nhân dân phường GV, quận
BĐ, Thành phố HN cấp ngày 16/12/1993 thì quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị
Thúy H và ông Nguyễn Nguyên G là hợp pháp.
Xét trong đơn khởi kiện, bản khai và ý kiến của ông G thì thời gian đầu cuộc
sống hôn nhân hạnh phúc, đến năm 2018 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng
quan điểm dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh
phúc ông đã tình cảm với người khác. Vào m 2020 ông đã nộp đơn ly hôn
đến Tòa án nhân dân Quận Y, Thành phố H nhưng sau đó ông không đến Tòa án
giải quyết sợ ảnh hưởng đến việc học hành của các con, đồng thời ông cũng suy
nghĩ đến bmẹ nên cũng đã cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không cải
thiện được, tình cảm vợ chồng ngày càng trầm trọng, không khả năng đoàn tụ
nên ông đã chuyển ra ngoài sống ly thân với H từ năm 2020 cho đến nay. Ông
không cần sự quan tâm, yêu thương, chia sẻ từ H nên nay ông nộp lại đơn xin ly
hôn với H. H trình bày vẫn còn tình cảm với ông G, việc ông G cho rằng
không còn tình cảm với tình cảm với người khác tvẫn chấp nhận,
vợ chồng không còn tình cảm thì vẫn còn tình nghĩa vợ chồng, nên bà không đồng ý
ly hôn theo yêu cầu của ông G.
Điều 19 Luật Hôn nhân gia đình quy định “Vợ chồng nghĩa vụ yêu
thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia
sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình…… Vợ chồng nghĩa vụ sống chung
với nhau……” Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình quy định “Khi vợ
hoặc chồng yêu cầu ly hôn nếu căn cứ về việc vợ chồng hành vi bạo lực gia
đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân
lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn
nhân không đạt được ……”. Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy xuất phát do bất
đồng quan điểm trong cuộc sống dẫn đến phát sinh mâu thuẫn, làm rạn nứt tình cảm
vợ chồng, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không
khả năng hàn gắn đoàn tụ gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được nên có cơ sở
chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông G. Với những chứng cứ nêu trên cũng thể hiện
việc H kháng cáo yêu cầu hủy Bản án thẩm, bác đơn ly hôn của ông G với
do ông G nộp đơn ly hôn là do bị ép buộc và bị đe dọa là không có cơ sở chấp nhận.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015, bác kháng cáo của Nguyễn Thị Thúy H, giữ nguyên Bản án
hôn nhân gia đình thẩm số 12/2022/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 7 năm 2022 của
Tòa án nhân dân Quận Y, Thành phố H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ kết quả hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc
thẩm nhận định:
I. Thủ tục tố tụng:
6
Đơn kháng cáo của Nguyễn Thị Thúy H làm trong hạn luật định đã
thực hiện nghĩa vụ của người kháng cáo phù hợp với các quy định tại Điều 271,
272, 273 Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên được chấp nhận xem
xét theo trình tự phúc thẩm.
II. Xét yêu cầu kháng cáo xin đoàn tụ của Nguyễn Thị Thúy H các tài
liệu chứng cứ đã thu thập, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Nguyên G và bà Nguyễn Thị Thúy H
tự nguyện kết hôn năm 1993, đăng kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số
118 do Ủy ban nhân dân phường GV, quận BĐ, Thành phố HN cấp ngày
16/12/1993, được xác định hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Ông G xin ly hôn H với do vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2018
do bất đồng quan điểm, đến giữa năm 2019 ông G tình cảm với người phn
khác, việc này ông G công khai với gia đình và H biết, thời điểm đó chưa
muốn giải quyết ly hôn sợ ảnh hưởng đến việc học hành của con. Từ năm 2019
ông G đi làm ở HN, đến năm 2020 thì về lại Thành phố H làm việc và ở lại Công ty
tại thành phố TĐ, Thành phố H, bà H sinh sống tại nhà cha mẹ ruột ông G tại Quận
Y, Thành phố H. Tháng 7/2020 ông G đã nộp đơn ly hôn với H tại Tòa án nhân
dân Quận Y, Thành phố H, tuy nhiên ông G bận lý do cá nhân và ông G có suy nghĩ
đến bố mẹ, đã mong muốn hàn gắn đoàn tụ với H, Tòa án đã đình chỉ giải quyết
vụ án. Hiện nay ông G xác định không còn tình cảm với H, cả hai vợ chồng
không còn sống chung, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân
đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông G được ly hôn với bà H. Đối với bà
H trình bày sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc, đến tháng
6/2019 ông G về nói với gia đình tình cảm với người phụ nữ khác, H trao
đổi với ông G không muốn gia đình tan vỡ. Đến tháng 11/2020, ông G nói với
H đã làm đơn ly hôn, sau khi làm việc hòa giải tại Tòa án nhân dân Quận Y,
Thành phố H, ông G về nhà xin lỗi bà H ba mẹ ruột của ông G, ông G còn nói cho
thời gian để xử việc riêng với người phnữ kia, gia đình ng tạo điều kiện cho
ông G giải quyết. Sau đó, ông G vắng mặt, Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án. Từ
tháng 5/2021 đến tháng 10/2021 ông G mang số tiền của gia đình đi làm ăn nhưng
sau đó thì thất bại, sau đó ông G về lại nhà ba mẹ ruột sinh sống nhưng lúc này ông G
tiếp tục nói với H đang làm thủ tục ly hôn ông G muốn tự do không phải lo
cho ba mruột các con. Ba mẹ chồng của H thấy ông G nói vậy nên đã đuổi
ông G ra khỏi nhà bất hiếu với cha mtrách nhiệm với các con. H vẫn
còn tình cảm với ông G nên H không đồng ý ly hôn.
Xét về mâu thuẫn vợ chồng: Ông G H trình bày ông G quan hệ tình
cảm với người phụ nữ khác; Mặc hai bên chỉ trình bày, không chứng cứ
chứng minh nhưng đã cho thấy hai bên đã không còn niềm tin với nhau. Hai bên
7
thừa nhận đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay, mỗi người sinh sống một nơi;
Ông G đã một lần yêu cầu ly hôn với bà H, quá trình Tòa án thụ lý giải quyết ông G
không đến, Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án nhưng vợ chồng vẫn không chung
sống với nhau cho đến nay; Cho thấy ông G và bà H đã không còn tồn tại cuộc sống
vợ chồng, vợ chồng không còn cùng nhau chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống.
Quan hệ hôn nhân được tồn tại và hạnh phúc trên cơ sở tình cảm yêu thương,
sự tin tưởng, sự chia sẻ cùng nhau giữa hai vợ chồng; Đối với vợ chồng ông G bà H
đã không còn điều này, cho thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông G H là đã
trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, không thể hàn gắn đoàn tụ, mục đích
hôn nhân không đạt được. Song song đó, tại cấp phúc thẩm H yêu cầu đoàn tụ
với ông G nhưng H cũng không đưa ra được phương thức, biện pháp để vợ
chồng đoàn tụ; đối với ông G cương quyết yêu cầu ly hôn bà H; Do đó, cấp sơ thẩm
đã Quyết định chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông G đối với H căn cứ, phù
hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2] Về con chung: Vợ chồng có hai con chung tên Nguyễn Diệu L, sinh ngày
19/8/1994 Nguyễn Quỳnh M, sinh ngày 08/7/2002. Hiện nay hai con chung đã
trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
[3] Về tài sản chung nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không
xem xét giải quyết.
Từ những nhận định nêu trên, xét thấy không căn cứ để chấp nhận yêu
cầu kháng cáo của bà H.
[4]. Về án phí hôn nhân gia đình thẩm: Ông G phải chịu theo quy định
của pháp luật.
[5]. V án phôn nhân gia đình phúc thm: Do yêu cu kháng cáo không
đưc chp nhn nên bà H phi chu theo quy định của pháp luật.
[6]. Xét ý kiến phát biểu đề ngh v quan điểm gii quyết v án của đại din
Vin kim sát nhân dân Thành ph H tại phiên tòa, như nhận định nêu trên, xét
thấy có cơ sở nên chp nhn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Khoản 1 Điều 148, Điều 271, Điều 272, Điều 273, Điều 276,
Điều 293, Khoản 1 Điều 308, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016
của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
I. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Nguyễn Thị Thúy H về yêu
cầu đoàn tụ với ông Nguyễn Nguyên G.
8
II. Giữ nguyên Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 12/2022/HNGĐ-ST
ngày 26 tháng 7 năm 2022 của Tòa án nhân dân Quận Y, Thành phố H, cụ thể như
sau:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Nguyên G đối với Nguyễn
Thị Thúy H:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Nguyên G ly hôn bà Nguyễn Thị Thúy
H.
Giấy chứng nhận kết hôn số 118 ngày 16/12/1993 do Ủy ban nhân dân
phường GV, quận BĐ, Thành phố HN cấp cho ông Nguyễn Nguyên G
Nguyễn Thị Thúy H không còn giá trị pháp ktừ ngày Bản án này hiệu lực
pháp luật.
- Về con chung: Hai con chung tên Nguyễn Diệu L, sinh ngày 19/8/1994
Nguyễn Quỳnh M, sinh ngày 08/7/2002. Đã trưởng thành, không xem xét giải
quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ván phí n nhân gia đình thm: Ông Nguyễn Nguyên G phải chịu
300.000đ (ba trăm ngàn đồng) nhưng được tr vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo
biên lai thu tin tạm ng án phí AA/2021/006770 ngày 15/12/2021 của Chi cục Thi
hành án dân sự Quận Y, Thành phH.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
III. Án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm: Nguyễn Thị Thúy H phải chịu
300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được cấn trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm
ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số
0007514 ngày 17/8/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận Y, Thành phố H.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án
dân sthì người được thi hành án, người phải thi hành án quyền thỏa thuận thi
hành án; quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi
hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi
hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án.
Nơi nhận:
- TAND Tối cao;
- TAND Cấp cao tại TP.H;
- VKSND Cấp cao tại TP.H;
- VKSND TP.H;
- TAND Q 3, TP.H;
- Chi cục THADS Q Y, TP.H;
- UBND PGV, QBĐ, TP.HN;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
9
Tải về
Bản án số 195/2023/HNGĐ-PT Bản án số 195/2023/HNGĐ-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất