Bản án số 19/2021/DS-ST ngày 15/04/2021 của TAND huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng mua bán

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 19/2021/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 19/2021/DS-ST ngày 15/04/2021 của TAND huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh về tranh chấp hợp đồng mua bán
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Dương Minh Châu (TAND tỉnh Tây Ninh)
Số hiệu: 19/2021/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 15/04/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Anh Đào Văn T có trách nhiệm trả cho Chị Nguyễn Thị Ngọc C số tiền 167.377.758 (một trăm sáu mươi bảy triệu ba trăm bảy mươi bảy ngàn bảy trăm năm mươi tám) đồng, trong đó tiền nợ gốc là 140.000.000 (một trăm bốn mươi triệu) đồng và tiền lãi là 27.377.758 (hai mươi bảy triệu ba trăm bảy mươi bảy ngàn bảy trăm năm mươi tám) đồng.
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN D
TỈNH TÂY NINH
Bản án số: 19/2021/DS-ST
Ngày: 15-4-2021
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tòng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Minh Châu;
2. Bà Đào Thị Lan.
- Thư phiên tòa: Ba Thị Thanh Huyền, Thư Tòa án nhân dân Huyện
D, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện D, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên
toà: Bà Lâm Phượng Tú, Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện D, tỉnh Tây
Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 552/2020/TLST-DS ngày
11 tháng 12 năm 2020, về việc Tranh chấp Hợp đồng mua bán” theo Quyết định
đưa ván ra xét xử số: 24/2021/XXST-DS ngày 17 tháng 3 m 2021, giữa
các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc C, sinh năm 1978; địa chỉ trú: Tổ
4, ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1963;
địa chỉ trú: Khu phố 5, phường 4, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; người đại
diện theo ủy quyền; văn bản ủy quyền ngày 21-12-2020; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Đào Văn T, sinh năm 1976; địa chỉ trú: Ấp P, N, Huyện
D, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 08-12-2020 của Chị Nguyễn Thị Ngọc C trong
quá trình giải quyết vụ án người đại diện hợp pháp của chị C trình bày:
Ngày 25-3-2019 Anh Đào Văn T Chị Nguyễn Thị Ngọc C hợp đồng
mua bán cây cao su thanh giá trị 470.000.000 đồng nhưng ghi nhầm thành
ngày 25-3-2018. Anh T đã thanh toán cho chị C cụ thể như sau:
2
+ 25-3-2019 trả số tiền 150.000.000 đồng;
+ Ngày 29-3-2019 trả số tiền 90.000.000 đồng;
+ Ngày 10-4-2019 trả số tiền 50.000.000 đồng;
+ 16-4-2019 trả số tiền là 20.000.000 đồng;
Tổng cộng đã trả được số tiền 310.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền
160.000.000 đồng.
Quá trình mua bán chị C có đồng ý giảm cho Anh T số tiền 20.000.00 đồng
với điều kiện Anh T phải trả xong tiền một lần nhưng ngược lại Anh T trả cho chị
C nhiều lần còn nợ lại nên chị C không đồng ý giảm cho Anh T số tiền
20.000.000 đồng.
Nay anh người đại diện theo ủy quyền yêu cầu Anh T trả cho chị C số tiền
160.000.000 đồng tiền lãi tính từ ngày 01-5-2019 đến ngày giải quyết xong vụ
kiện với lãi suất theo quy định của pháp luật.
Anh không yêu cầu vợ Anh T chị Thị H có nghĩa vụ liên đới trả số tiền
trên.
Anh Đào Văn T trình bày:
Anh thừa nhận lời trình bày của nguyên đơn về ngày kết hợp đồng mua
bán cây cao su thanh , giá trị hợp đồng cũng như số tiền các lần anh đã thanh
toán cho chị C được tổng cộng 310.000.000 đồng.
Lần thanh toán thứ hai vào ngày 29-3-2019 anh trả cho chị C số tiền
90.000.000 đồng thì các bên đối chiếu anh còn nợ số tiền 230.000.000 đồng, lúc
này chị C đồng ý giảm cho anh số tiền 20.000.000 đồng nên nhận số tiền nợ
còn lại 210.000.000 đồng, do đó, lần thanh toán thứ ba vào ngày 10-4-2019 anh
trả cho chị C 50.000.000 đồng thì các bên xác nhận nợ còn lại là 160.000.000
đồng và lần trả sau cùng ngày 16-4-2019 chị C nhận tiếp của anh số tiền
20.000.000 đồng; như vậy, sau khi khấu trừ thì anh xác định còn nợ chị C số tiền
140.000.000 đồng, anh đồng ý trả cho chị C số tiền này. Giữa anh chị C
quan hệ mua bán không phải vay ợn nên anh không đồng ý trả tiền lãi theo yêu
cầu của nguyên đơn.
Anh không yêu cầu vợ là chị Vũ Thị H có nghĩa vụ liên đới trả nợ.
Tại phiên tòa:
+ Anh H rút một phần yêu cầu khởi kiện, anh yêu cầu Anh T trả cho chị C
số tiền 140.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 01-5-2019 đến ngày xét xử (15-
4-2021) với lãi suất theo quy định của pháp luật.
+ Anh T đồng ý trả cho chị C số tiền 140.000.000 đồng, không đồng ý trả
tiền lãi.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện D, tỉnh Tây Ninh:
+ Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét x
quyết định đưa vụ án xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung,
3
thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực
hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng
đều thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt Nội quy phiên tòa.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn: Buộc Anh T trách nhiệm trả cho chị C số tiền 140.000.000 đồng
và tiền lãi theo quy định; đương sphải chịu án phí dân sthẩm theo quy định
của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ vụ án được xem xét tại
phiên tcăn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm
sát, xét thấy:
[1] Về ttụng: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ phát sinh từ
giao dịch mua bán cây cao su thanh lý. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và
căn cứ vào lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp
luật là “Tranh chấp hợp đồng mua bán” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân Huyện D theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35 của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng:
[2.1] Ngày 25-3-2019 giữa chị C và Anh T có giao dịch mua bán cây cao su
thanh lý với nhau thật; phù hợp với tài liệu “Hợp đồng mua bán” (bút lục số 27,
số 28) do bị đơn cung cấp; được các đương sự thống nhất thừa nhận; đây tình
tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng
dân sự. Theo đó, giá trị của hợp đồng 470.000.000 đồng, Anh T - bên mua đã
thanh toàn cho chị C - bên bán 04 lần được số tiền 310.000.000 đồng và chị C đã
đồng ý giảm cho Anh T số tiền 20.000.000 đồng; như vậy, có căn cứ xác định lần
thanh toán cuối vào ngày 16-4-2019 thì Anh T còn nợ lại chị C số tiền
140.000.000 đồng; tại phiên tòa các đương sự thống nhất số nợ này, Anh T đồng
ý trả cho chị C số tiền 140.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[2.2] Đối với yêu cầu tính lãi của nguyên đơn, thấy rằng: Hợp đồng mua bán
giữa các bên không thỏa thuận lãi của số tiền chậm trả, qtrình bên mua thanh
toán hẹn hạn trả tiếp theo nhiều lần thì bên bán - chị C đều đồng ý nhận
không thỏa thuận lãi; điều này được các đương sự thống nhất thừa nhận. Tuy
nhiên, lần thanh toán cuối vào ngày 16-4-2019 khi còn nợ lại số tiền 140.000.000
đồng tAnh T hẹn đến ngày 22-4-2019 trả xong cho chị C nhưng không thực
hiện nên yêu cầu tính lãi của nguyên đơn có căn cứ chấp nhận theo quy định tại
Điều 440 của Bộ luật Dân sự được tính như sau: Số tiền 140.000.000 đồng tính
từ ngày 01-5-2019 đến ngày 15-4-2021 23 tháng 14 ngày, với mức lãi suất
10%/năm, thành tiền là 27.377.758 đồng.
[2.3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện
của nguyên đơn, buộc Anh T trả cho chị C số tiền 167.377.758 đồng.
4
[3] Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân Huyện D, tỉnh Tây Ninh
đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét thấy đề nghị này p
hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị
quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,
cụ thể: 167.377.758 đồng X 5% = 8.368.887 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 430, 440, 357 Bộ luật Dân sự; các Điều 147 Bộ luật
Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Ngh quyết s 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-
12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu,
nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Nguyễn Thị Ngọc C về tranh chấp
hợp đồng mua bán đối với Anh Đào Văn T.
Anh Đào Văn T trách nhiệm trả cho Chị Nguyễn Thị Ngọc C số tiền
167.377.758 (một trăm sáu mươi bảy triệu ba trăm bảy mươi bảy ngàn bảy trăm
năm mươi tám) đồng, trong đó tiền nợ gốc là 140.000.000 (một trăm bốn mươi
triệu) đồng tiền lãi 27.377.758 (hai mươi bảy triệu ba trăm bảy mươi bảy
ngàn bảy trăm năm mươi tám) đồng.
Ghi nhận các đương sự không yêu cầu chị Vũ Thị H (vợ Anh Đào Văn T)
có trách nhiệm liên đới đối với số tiền trên.
2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối
với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án
xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản
tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều
468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Án phí:
3.1. Anh Đào Văn T phải chịu 8.368.887 đồng
3.2. Chị Nguyễn Thị Ngọc C không phải chịu án phí dân sự thẩm. Chi
cục Thi hành án dân sự Huyện D, tỉnh Tây Ninh hoàn trả cho chị C số tiền TUAP
4.000.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu số 0005371 ngày 11 tháng 12 năm 2020.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật
Thi hành án dân sự.
5
5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự quyền kháng
cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Nơi nhận:
- TAND tỉnh Tây Ninh;
- VKSND tỉnh Tây Ninh;
- VKSND Huyện D;
- THADS Huyện D;
- Đương sự;
- Lưu
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Trần Thanh Tòng
Tải về
Bản án số 19/2021/DS-ST Bản án số 19/2021/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất