Bản án số 187/2024/DS-ST ngày 16/07/2024 của TAND huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 187/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
-
Bản án số 187/2024/DS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 187/2024/DS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 187/2024/DS-ST ngày 16/07/2024 của TAND huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Gò Công Đông (TAND tỉnh Tiền Giang) |
| Số hiệu: | 187/2024/DS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 16/07/2024 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Bà X, chị H yêu cầu bà H tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG
TỈNH TIỀN GIANG
Bản án số: 187/2024/DS-ST
Ngày: 16-7-2024
V/v tranh chấp “Hợp đồng tặng
cho quyền sử dụng đất và hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất”
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG ĐÔNG, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nguyên
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Nguyễn Văn Tâm
+ Ông Nguyễn Văn Cường
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Gò Công Đông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Đông: Bà Trần Thị
Ngọc Tuyền – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công
Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 187/2021/TLST-DS ngày 26
tháng 11 năm 2021 về tranh chấp “Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và
tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ
án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 6 năm 2024; Quyết định
hoãn phiên tòa số 227/2024/QĐST-DS ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Thông báo
thay đổi thời gian xét xử số 14/2024/QĐST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa
các đương sự:
* Nguyên đơn: Phạm Thị X, sinh năm xxxx (có mặt).
Hồ Thị Ngọc H, sinh năm xxxx (có mặt).
Cùng địa chỉ: ấp x, xã G, huyện G, T.
* Bị đơn: Nguyễn Thị H, sinh năm xxxx (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp x, xã G, huyện G, tỉnh T.

2
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chi cục thi hành án dân sự huyện G (xin vắng mặt).
Địa chỉ: số x, đường T, khu phố X, thị trấn T, huyện G, tỉnh T.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thành C - Chi cục trưởng.
2. Công ty T
Địa chỉ: ấp x, xã T, huyện G, tỉnh T.
Người đại diện theo pháp luật là chị Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1975
(vắng mặt).
Địa chỉ: ấp x, xã G, huyện G, T
3. Nguyễn Quốc Toàn, sinh năm xxxx (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp x, xã G, huyện G, T.
4. Ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) C
Địa chỉ: số xB N, phường x, thành phố M, tỉnh T
Người đại diện theo pháp luật Ông Trần Minh B – Chủ tịch Hội đồng quản
trị NH TMCP Công Thương Việt Nam.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Minh Bình là ông Phạm Hoàng
Anh T. Chức vụ: Phó giám đốc Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam –
Chi nhánh Tiền Giang.
Địa chỉ: xB N Phường x, TP. M, tỉnh T
Người được ủy quyền lại là ông Nguyễn Thanh T – Chức vụ: Cán bộ Phòng
tổng hợp (có mặt).
5. Hồ Quốc H, sinh năm xxxx
Đại diện hợp pháp là anh Hồ Văn Long, sinh năm xxxx (xin vắng mặt).
6. Hồ Văn Q, sinh năm xxxx (xin vắng mặt).
7. Hồ Ngọc H, sinh năm xxxx (xin vắng mặt).
8. Hồ Ngọc H1, sinh năm xxxx (xin vắng mặt).
9. Hồ Ngọc H2, sinh năm xxxx (xin vắng mặt).
10. Hồ Thị Ngọc T, sinh năm xxxx (xin vắng mặt).
11. Hồ Văn L, sinh năm xxxx (xin vắng mặt).
12. Hồ Văn M, sinh năm xxxx (xin vắng mặt).
13. Võ Bích N, sinh năm xxxx xin vắng mặt).
14. Lê Thị T, sinh năm xxxx (vắng mặt).
3
Cùng địa chỉ: ấp 1, xã Gia Thuận, huyện Gò Công Đông, Tiền Giang.
15. Nguyễn Minh K, sinh năm xxxx (xin vắng mặt).
HKTT: x N, phường T, thành phố V, tỉnh B.
Chỗ ở hiện nay: ấp x, xã G, huyện G, T.
16. Nguyễn Thị Phương N, sinh năm xxxx (xin vắng mặt).
HKTT: Ấp x, xã T, huyện G, tỉnh T.
Chỗ ở hiện nay: ấp x, xã G, huyện G, T
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình tố tụng tại Tòa
án nguyên đơn bà Phạm Thị X và chị Hồ Thị Ngọc H trình bày: Vào đầu
năm 2004, gia đình bà Nguyễn Thị H có cho gia đình bà Phạm Thị X một mảnh
đất để sinh sống (nay thuộc thửa đất số 243 và một phần thửa 242, tờ bản đồ số
14) phần đất này có nguồn gốc của ông bà để lại chia cho con cháu bà H đứng
tên giùm. Đồng thời gia đình bà X đã xây dựng một căn nhà vách tường, nền
gạch diện tích khoảng 114,4m
2
để có nơi ở ổn định cùng với các công trình phụ
như nhà vệ sinh, sân xi măng, hàng rào. Ngoài ra, bà X còn trồng cây trên đất
gồm: 01 cây mai chiếu thủy, 04 cây mai vàng, 01 bụi bông trang, 02 cây ổi, 02
cây nhãn, 07 cây xoài, 01 cây tràm bông vàng, 02 cây me, 01 cây lêkima, 08 cây
mít, 01 cây chanh, 08 cây mãng cầu, 31 cây so đũa. Tổng diện tích bà X được
tặng cho là khoảng 144,26m
2
. Do diện tích đất cất nhà hơi nhỏ nên đến năm
2005, Hồ Thị Ngọc H có tên gọi khác là Châu con bà X có thỏa thuận mua thêm
của bà Nguyễn Thị H phần đất có diện tích khoảng 120m
2
với giá 16.000.000
đồng, nay thuộc thửa đất số 242, tờ bản đồ số 14 và cũng đã xây dựng một căn
nhà nhỏ bán kiên cố diện tích khoảng 42,87m
2
nhưng đến ngày 25/2/2013 anh
Nguyễn Quốc Toàn và bà Nguyễn Thị H mới làm hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất bán cho Hồ Thị Ngọc H phần đất ngang 4m dài 30m tại thửa
242, hợp đồng có anh Toàn và bà H ký tên. Như vậy, tổng diện tích bà Phạm Thị
X và Hồ Thị Ngọc H nhận tặng cho và chuyển nhượng của bà Nguyễn Thị H
khoảng 264,26m
2
. Do là chỗ bà con thân thích nên giao dịch tặng cho chỉ thỏa
thuận miệng. Đồng thời, do tin tưởng bà H và cũng lo làm ăn nên không yêu cầu
bà H phải làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất.
Trong quá trình gia đình bà X cất nhà và sử dụng đất từ năm 2004 đến nay
không có tranh chấp gì. Đến khoảng năm 2013, thì gia đình bà X, chị H yêu cầu
bà H hoàn thành thủ tục tặng cho và chuyển nhượng quyền sử dụng đất như trên
thì bà H và con trai là Nguyễn Quốc T đã làm hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất viết tay trước. Còn phần đất tặng cho thì không làm giấy tờ. Sau đó,
nhiều lần liên hệ bà Nguyễn Thị H để tiến hành thủ tục chuyển quyền thì đến
khoảng năm 2017, bà H nói sổ đất đang vay Ngân hàng khi nào đem Giấy chứng
4
nhận về sẽ làm thủ tục chuyển giao quyền sử dụng đất nhưng đến nay vẫn chưa
thực hiện. Khi đó bà H có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết
tay ngày 07/11/2017.
Đến ngày 30 tháng 6 năm 2021, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò
Công Đông tiến hành kê biên quyền sử dụng đất của bà Nguyễn Thị H là thửa số
242 và 243 và toàn bộ nhà ở, công trình xây dựng phụ và cây trồng trên đất để
thi hành án theo bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2021/KDTM-ST
ngày 05/3/2021, giữa Ngân hàng TMCP C và Công ty T.
Quá trình bà H thế chấp thửa đất số 242 và 243 và toàn bộ nhà ở, công trình
phụ và cây trồng trên đất để đảm bảo cho khoản vay của Công ty T và giải quyết
tranh chấp Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông thì bà X, chị H không hề hay
biết. Trước đó bà H có nói là thế chấp đất tại ngân hàng nhưng bà X, chị H nghĩ
số tiền ít khi nào bà H trả tiền ngân hàng xong thì làm thủ tục sang tên đến sau
này mới biết số tiền rất lớn.
Nay bà X, chị H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông xem xét,
giải quyết các vấn đề sau:
Yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn
Thị H và bà Phạm Thị X đối với phần đất diện tích khoảng 144,26m
2
, loại đất
trồng cây lâu năm, thuộc thửa số 242, tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại ấp 1, xã Gia
Thuận, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang được UBND huyện Gò Công
Đông cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02992 ngày 07/11/2014 cấp
cho bà Nguyễn Thị H. Công nhận tài sản trên phần đất diện tích 144,26m
2
nói
trên thuộc quyền sở hữu của bà Phạm Thị X, bao gồm: 01 căn nhà vách tường
nền gạch diện tích khoảng 114,4m
2
để có nơi ở ổn định cùng với các công trình
phụ như nhà vệ sinh, sân xi măng, hàng rào. Ngoài ra, bà X còn trồng trên đất:
01 cây mai chiếu thủy, 04 cây mai vàng, 01 bụi bông trang, 02 cây ổi, 02 cây
nhãn, 07 cây xoài, 01 cây tràm bông vàng, 02 cây me, 01 cây lêkima, 07 cây
xoài, 08 cây mít, 01 cây chanh, 08 cây mãng cầu, 31 cây so đũa.
Yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà
Nguyễn Thị H và bà Hồ Thị Ngọc H đối với phần diện tích khoảng 120m
2
, loại
đất trồng cây lâu năm, thuộc thửa số 243, tờ bản đồ số 14, đất tọa lạc tại ấp 1, xã
Gia Thuận, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang được UBND huyện Gò Công
Đông cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02993 ngày 07/11/2014 cho
bà Nguyễn Thị H. Công nhận tài sản trên đất phần diện tích khoảng 120m
2
thuộc
thửa số 243 là 01 căn nhà mái tole, nền gạch ceramic, vách tường thuộc quyền
sở hữu của bà Hồ Thị Ngọc H.
Quá trình giải quyết vụ án bà X, chị H có đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu
như sau:
Yêu cầu công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn
5
Thị H và bà Phạm Thị X đối với phần đất diện tích 448,5m
2
, loại đất trồng cây
lâu năm, thuộc thửa số 243 và một phần thửa 242, tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại ấp
1, xã Gia Thuận, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang được UBND huyện Gò
Công Đông cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02992 và CH02993
ngày 07/11/2014 cấp cho bà Nguyễn Thị H.
Yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà
Nguyễn Thị H và bà Hồ Thị Ngọc H đối với phần diện tích 120m
2
, loại đất trồng
cây lâu năm, thuộc thửa số 242, tờ bản đồ số 14, đất tọa lạc tại ấp 1, xã Gia
Thuận, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang được Ủy ban nhân dân huyện Gò
Công Đông cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02992 và CH02993
ngày 07/11/2014 cho bà Nguyễn Thị H.
Hiện trạng đất theo như kết quả đo đạc do Chi nhánh Văn phòng đăng ký
đất đai huyện Gò Công Đông đo vẽ ngày 16/5/2024.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày: Bà thống nhất với ý kiến trình bày
của nguyên đơn là bà X và chị H. Vào năm 2004 gia đình bà có cho bà bà Phạm
Thị X một mảnh đất để sinh sống nay thuộc một phần thửa đất số 243, tờ bản đồ
số 14. Sau đó có chuyển nhượng cho Hồ Thị Ngọc H có tên gọi khác là Châu
con bà X phần đất ngang 4m dài 30m tại thửa 242, tờ bản đồ số 14 với giá
16.000.000 đồng. Đất tọa lạc tại ấp 1, xã Gia Thuận, huyện Gò Công Đông, tỉnh
Tiền Giang. Bà X và chị H có xây nhà ở trên đất này từ năm 2004 đến nay. Hai
bên chỉ thỏa thuận miệng không có làm hợp đồng, đến năm 2013 bà và con bà là
Nguyễn Quốc Toàn có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bán cho
Hồ Thị Ngọc H phần đất ngang 4m dài 30m tại thửa 242 và có làm hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất viết tay ngày 07/11/2017 cho bà X. Hiện thửa
số 242 và 243 đang thi hành án theo bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số
01/2021/KDTM-ST ngày 05/3/2021. Do bà đã thế chấp cho Ngân hàng TMCP
C Việt Nam đảm bảo khoản vay của Công ty T. Nay đối với yêu cầu khởi kiện
của bà X và chị H thì bà đồng ý xin cho bà X và chị H nhận lại phần đất mà đã
chuyển nhượng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP C, người
đại diện theo ủy quyền là ông Thắng trình bày ý kiến: Ngân hàng không
đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và ý kiến trình bày của bị đơn
vì thửa số 242 và 243 hộ gia đình bà Nguyễn Thị H đã thế chấp cho Ngân hàng
TMCP C đảm bảo khoản vay của Công ty T. Hợp đồng thế chấp đã được thực
hiện đúng quy định pháp luật, hiện thửa số 242 và 243 đang thi hành án theo
bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2021/KDTM-ST ngày 05/3/2021,
giữa Ngân hàng TMCP C với Công ty T. Do đó, bà X và chị H yêu cầu công
nhận hợp đồng tặng cho QSDĐ giữa bà Nguyễn Thị H và bà Phạm Thị X đối
với phần đất diện tích khoảng 144,26m
2
, loại đất trồng cây lâu năm, thuộc thửa
số 242, tờ bản đồ số 14 và yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H và bà Hồ Thị Ngọc H đối với phần diện tích
6
khoảng 120m
2
, loại đất trồng cây lâu năm, thuộc thửa số 243, tờ bản đồ số 14,
đất tọa lạc tại ấp 1, xã Gia Thuận, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang thì
ngân hàng không đồng ý. Trường hợp bà X và chị H muốn nhận phần đất tranh
chấp nêu trên thì thỏa thuận chuyển nhượng mua lại tài sản với cơ quan có thẩm
quyền.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty T chị Nguyễn Thị
Thu Thúy là người đại diện theo pháp luật trình bày: Công ty T hiện không
có khả năng trả nợ cho Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam nên tôi xin
Ngân hàng công nhận phần đất tranh chấp tại thửa 242 và 243 cho bà X và chị
H, nếu ngân hàng buộc phải kê biên toàn bộ tài sản và phần đất tranh chấp nêu
trên thì Công ty T không có khả năng hoàn trả tiền cho bà X và chị H.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục thi hành án dân sự
huyện Gò Công Đông trình bày: Hiện thửa đất đang tranh chấp thửa số 242 và
243 đang thi hành án theo bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số
01/2021/KDTM-ST ngày 05/3/2021, giữa Ngân hàng TMCP C với Công ty T.
Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông yêu cầu Tòa án giải quyết theo
quy định pháp luật và xin không tham gia tố tụng.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hồ Quốc H (Đại diện
hợp pháp là anh Hồ Văn L), anh Hồ Văn Q, chị Hồ Ngọc H, chị Hồ Ngọc
H1, chị Hồ Ngọc H2, chị Hồ Thị Ngọc T, anh Hồ Văn Long, anh Hồ Văn M,
chị Võ Bích N, anh Nguyễn Minh K, chị Nguyễn Thị Phương N trình bày:
Thống nhất với yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị X và chị Hồ Thị Ngọc H,
không có yêu cầu gì và ý kiến gì.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Quốc T, chị Lê Thị
T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng cho anh T, chị T nhưng anh T,
chị T không đến Tòa án và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình
đối với yêu cầu khởi kiện của bà X và chị H.
Tại phiên tòa hôm nay:
Ñaïi dieän Vieän kieåm saùt nhaân daân huyeän Gò Công Đông coù
yù kieán:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quaù trình giaûi quyeát vuï aùn, Thaåm phaùn,
Hoäi ñoàng xeùt xöû, Thö kyù ñaõ tuaân thuû theo ñuùng caùc quy ñònh cuûa
Boä luaät toá tuïng daân söï; Vieäc chaáp haønh phaùp luaät cuûa ngöôøi tham
gia toá tuïng daân söï töø khi thuï lyù vuï aùn cuõng nhö taïi phieân toøa hoâm
nay caùc ñöông söï ñaõ thöïc hieän ñuùng theo phaùp luaät toá tuïng daân söï.
- Về nội dung vụ án: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
bà Phạm Thị X và chị Hồ Thị Ngọc H về việc yêu cầu công nhận hợp đồng tặng

7
cho quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H và bà Phạm Thị X và công nhận
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Nguyễn Thị H và chị Hồ
Thị Ngọc H.
- Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 7/11/2017 giữa bà
Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Quốc T và bà Phạm Thị X đối với phần đất có diện
tích 448,5m
2
, loại đất trồng cây lâu năm, thuộc thửa đất số 243 và một phần thửa
đất số 242, TBĐ số 14, toạ lạc tại ấp 1, xã Gia Thuận, huyện Gò Công Đông,
Tiền Giang được UBND huyện GCĐ cấp giấy chứng nhận QSDĐ số CH02992
ngày 7/11/2014 cấp cho bà Nguyễn Thị H là vô hiệu.
- Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 25/12/2013
giữa bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Quốc T và chị Hồ Thị Ngọc H đối với phần
có diện tích đất 120m
2
, loại đất trồng cây lâu năm, thuộc thửa đất số 242, TBĐ
số 14, đất toạ lạc tại ấp 1,xã Gia Thuận, huyện GCĐ được UBND huyện GCĐ
cấp ngày 7/11/2014 cho bà Nguyễn Thị H là vô hiệu, bà H có nghĩa vụ bồi
thường cho chị H số tiền 42.990.380 đồng.
Thời gian thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra
tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn
diện chứng cứ và ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ theo đơn khởi kiện và lời trình bày của
các bên đương sự. Bà X khởi kiện yêu cầu bà H thực hiện hợp đồng tặng cho
quyền sử dụng đất và chị H yêu cầu bà H thực hiện hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất. Bị ñôn bà Nguyễn Thị H cư trú tại ấp x, xã G, huyện G, tỉnh
T. Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố
tụng Dân sự thì xác định đây là tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và vụ án thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông.
[2] Sự có mặt, vắng mặt của đương sự: Xét trong quá trình thụ lý vụ án và
chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn và
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng
Dân sự nhưng bị đơn bà Nguyễn Thị H vắng mặt không lý do; người có quyền
lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông, anh Hồ
Quốc H (người đại diện hợp pháp là anh Hồ Văn L), anh Hồ Văn Q, chị Hồ
Ngọc H, chị Hồ Ngọc H1, chị Hồ Ngọc H2, chị Hồ Thị Ngọc T, anh Hồ Văn L,
anh Hồ Văn M, chị Võ Bích N, anh Nguyễn Minh K, chị Nguyễn Thị Phương N

8
có văn bản xin vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty T do
chị Nguyễn Thị Thu T là người đại diện theo pháp luật, anh Nguyễn Quốc T, chị
Lê Thị T vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228
Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt bị đơn và những người có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan nêu trên.
[3] Về nội dung: Căn cứ vào lời trình bày và lời thừa nhận của các đương
sự thì nguồn gốc đất tranh chấp do cha mẹ của Hồi để lại, quá trình sử dụng đến
ngày 23/3/1997 thì bà H có đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
và được Ủy ban nhân dân huyện Gò Công Đông cấp quyền sử dụng thuộc thửa
727 do bà Nguyễn Thị H đứng tên. Đến năm 2014, bà H xin đăng ký biến động
tách thửa 727 thành hai thửa 242, 243 và được cấp đổi lại giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, được Ủy ban nhân dân huyện Gò Công Đông cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất số CH02992 và CH02993 ngày 07/11/2014 cho bà
Nguyễn Thị H. Thực tế phần đất tranh chấp bà X và chị H là người trực tiếp sử
dụng thửa đất từ năm 2005 cho đến nay nhưng chưa làm thủ tục sang tên trong
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
* Đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho là bà
Nguyễn Thị H và bên nhận tặng cho là bà Phạm Thị X đối với quyền sử dụng
thửa 243 và một phần thửa 242 nêu trên bằng miệng. Tuy nhiên, đến năm 2017
thì làm hợp đồng viết tay ngày 07/11/2017.
- Về hình thức của hợp đồng: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ban
đầu chỉ bằng miệng không tuân thủ quy định về hình thức do hợp đồng không
được công chứng, chứng thực theo quy định pháp luật. Đến năm 2017 thì hai
bên làm hợp đồng viết tay nhưng lại ghi là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất ngày 07/11/2017 không tuân thủ quy định về hình thức ghi sai tiêu đề
và do hợp đồng viết tay không được công chứng, chứng thực theo quy định tại
Điều 459 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về nội dung của hợp đồng: Bà X trình bày thực tế năm 2005 gia đình bà
đã được bà H tặng cho quyền sử dụng đất ngang 7m và dài hết đất. Bà H trình
bày do có quan hệ họ hàng nên bà cho bà X phần đất cất nhà. Sau này hai bên
làm hợp đồng tặng cho nhưng ghi là “HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG
QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT” ngày 07/11/2017 thể hiện việc tặng cho phần đất
ngang 10m dài tới bờ ruộng sau nhà. Quá trình giải quyết vụ án bà X trình bày
phần đất được bà H cho là ngang 7m dài hết đất thửa 243 và một phần thửa 242
là phù hợp với thực tế hiện trạng sử dụng đất (vì nếu ngang 10m cộng thêm 4m
ngang chuyển nhượng cho chị H là sẽ dính vô sâu căn nhà bà H và bà X trình
bày do diện tích bà H cho bà nhỏ nên chị H con bà mới thỏa thuận mua thêm 4m
ngang để cất nhà, hiện bà X và chị H đang sử dụng theo hiện trạng là 7,01m
ngang tặng cho và 4m ngang phần chuyển nhượng). Các đương sự thống nhất

9
kết quả đo đạc ngày 16/5/2024 và không ai ý kiến gì về diện tích tranh chấp tổng
cộng là 448,5m
2
. Tại biên bản lấy lời khai sau đó, bà H trình bày là bà cho bà X
ở nhờ, sử dụng và khẳng định bà H không tặng cho hay chuyển nhượng với bà
X. Quá trình giải quyết vụ án, bà H cũng không cung cấp được chứng cứ chứng
minh thỏa thuận cho mượn đất ở nhờ. Xét thấy trường hợp thực tế thì giữa bà X
và bà H có thỏa thuận tặng cho quyền sử dụng đất với nhau, bà H cũng thừa
nhận việc này tại các biên bản hòa giải cơ sở và hòa giải tại Tòa án, thực tế gia
đình bà X có xây dựng căn nhà kiên cố trên đất và bà H không có tranh chấp hay
ý kiến gì. Điều này cũng được thể hiện trong Hợp đồng ghi ngày 07/11/2017
giữa bà H, anh Toàn và bà X là thể hiện việc tặng cho quyền sử dụng đất. Xét
hợp đồng ghi ngày 07/11/2017 “HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN
SỬ DỤNG ĐẤT” là giả tạo nhằm che giấu giao dịch dân sự khác, cụ thể nội
dung trong hợp đồng thể hiện việc tặng cho quyền sử dụng đất chứ không phải
là chuyển nhượng quyền sử dụng đất “Tôi tên Nguyễn Thị H….mẹ con tôi có
đồng ý cho chị 2 tôi tên là Phạm Thị X….miếng đất…” nhưng hợp đồng lại ghi
là chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng là anh Toàn, bà H
và bên nhận chuyển nhượng là bà X. Hơn nữa, tại thời điểm làm hợp đồng thì
các bên đều biết phần đất này làm thủ tục thế chấp ngân hàng là vi phạm điều
cấm của luật nên vô hiệu là có căn cứ, đúng quy định tại Điều 117, Điều 122,
Điều 123, Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015.
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là giả tạo, nên không làm phát sinh
quyền và nghĩa vụ giữa các bên kể từ thời điểm khi giao dịch được xác lập, nên
khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.
* Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 25/12/2013
giữa bên chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị H và bên nhận chuyển nhượng là chị
Hồ Thị Ngọc H (Hồ Thị Ngọc C) đối với quyền sử dụng một phần thửa 242.
- Về hình thức: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 242 nêu
trên ghi giữa bên chuyển nhượng là anh Nguyễn Quốc T, bà Nguyễn Thị H và
bên nhận chuyển nhượng là chị Hồ Thị Ngọc H (Hồ Thị Ngọc C) không tuân thủ
quy định về hình thức do hợp đồng viết tay không được công chứng, chứng thực
theo quy định pháp luật.
- Về nội dung: Bà H thừa nhận bà là người thỏa thuận chuyển nhượng đất
cho chị H phần đất ngang 4m dài 30m, diện tích 120m
2
. Hợp đồng do chị H ghi
sẵn có ghi Toàn vô chứ thỏa thuận chuyển nhượng là bà H, hơn nữa đất này là
do bà H đứng tên quyền sử dụng đất. Các đương sự đều thừa nhận việc chuyển
nhượng là giữa bà H và chị H nên không chứng minh gì thêm. Theo quy định tại
Điều 4 Quyết định số 24/2009/QĐ-UBND ngày 15/9/2009 của Ủy ban nhân dân
tỉnh Tiền Giang thì diện tích tối thiểu của thửa đất tối thiểu là 300 m
2
. Như vậy,
Hợp đồng chuyển nhượng ngày 25/2/2012 giữa bà H và chị H có đối tượng

10
không thể thực hiện được ngay từ khi giao kết nên hợp đồng này bị vô hiệu theo
Điều 411 của Bộ luật Dân sự năm 2005. Hợp đồng vi phạm về hình thức và vi
phạm điều cấm nên bị vô hiệu theo quy định tại Điều 122, 124, 134 và 698 Bộ
luật Dân sự năm 2005.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng một phần thửa đất 242 nêu trên
bị vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của
các bên kể từ thời điểm xác lập và các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu,
hoàn trả cho nhau những gì đã nhận và bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường
theo quy định tại Điều 137 Bộ luật Dân sự năm 2005. Bà H xác định bà là người
chuyển nhượng cho chị H với giá 16.000.000 đồng và đã nhận tiền của chị H.
Do hợp đồng vô hiệu nên bà H có nghĩa vụ trả lại cho chị H số tiền đã nhận là
16.000.000 đồng và chị H có nghĩa vụ trả lại cho bà H quyền sử dụng thửa đất
242.
Xét mức độ lỗi của hai bên khi xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất nêu trên không tuân theo quy định của pháp luật nhưng vẫn đồng ý
nhận chuyển nhượng nên hai bên đều có lỗi ngang nhau. Hội đồng định giá xác
định giá trị quyền sử dụng đất theo giá chuyển nhượng trên thị trường tại thời
điểm xét xử là 583.173 đồng/m
2
theo Chứng thư thẩm định giá số 23497/CT-
TĐG ngày 12/72023 của Công ty Thẩm định giá NOVA, các bên đương sự
thống nhất với kết quả đo đạc thực tế và giá trị đất này. Do hai bên đều có lỗi
nên thiệt hại được chia đều cho mỗi bên và bà H có trách nhiệm thanh toán cho
chị H số tiền thiệt hại là: ½ (giá trị đất thực tế là 69.980.760 đồng - giá thỏa
thuận chuyển nhượng là 16.000.000 đồng) = 26.990.380 đồng. Bà H phải thanh
toán cho chị H tổng số tiền là 42.990.380 đồng.
[5] Đối với thửa số 242 và 243 đang tranh chấp bà Nguyễn Thị H đã thế
chấp cho Ngân hàng TMCP C đảm bảo khoản vay của Công ty T. Hiện thửa số
242 và 243 đang thi hành án theo bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số
01/2021/KDTM-ST ngày 05/3/2021, giữa Ngân hàng TMCP Công Thương Việt
Nam với Công ty TNHH một thành viên thương mại dịch vụ thủy hải sản Thanh
Thịnh. Diện tích đất bà H tặng cho bà X và chuyển nhượng cho chị H nêu trên,
ngày 25/10/2017 bà H thế chấp tại Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam
để đảm bảo khoản vay cho Công ty T, nhưng thực tế bà X, chị H là người đang
quản lý, sử dụng đất và trên đất có các tài sản của bà X, chị H. Xét quá trình lập
hồ sơ tín dụng thì Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam không có thẩm
định tài sản thế chấp mà chỉ định giá đất thế chấp, ngân hàng không làm rõ các
tài sản trên đất là của bà H hay của bà X, chị H là một phần lỗi của ngân hàng.
Tuy nhiên, Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2021/KDTM-ST ngày
05/3/2021 đang có hiệu lực thi hành, các đương sự không yêu cầu gì liên quan
đến Hợp đồng thế chấp nên không đặt vấn đề xem xét. Chi cục Thi hành án dân

11
sự huyện Gò Công Đông ban hành Quyết định thi hành án và Quyết định cưỡng
chế thi hành án đối với diện tích 2 thửa đất số 242, 243 nêu trên của bà H để thi
hành Bản án số 01/2021/KDTM-CT ngày 5/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện
Gò Công Đông. Như vậy, quyền sử dụng đất này vẫn là đối tượng bị kê biên
theo quy định tại Điều 75 Luật thi hành án dân sự và Điều 24 Nghị định
62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ.
Đối với các tài sản gắn liền trên đất thế chấp bao gồm các cây trồng trên
đất của bà X và chị H không thuộc tài sản thế chấp đảm bảo. Tại phiên tòa bà X,
chị H yêu cầu nếu Tòa không công nhận hợp đồng thì đề nghị ghi nhận quyền
ưu tiên của bà X, chị H được ưu tiên mua lại thửa đất 242, 243 này. Phía Ngân
hàng TMCP Công Thương Việt Nam cũng đồng ý nếu bà X và chị H có nhu cầu
mua lại thửa đất 242, 243. Xét thấy, cần dành cho bà X, chị H được quyền ưu
tiên nếu bà X, chị H có nhu cầu mua (nhận chuyển nhượng) theo quy định Điều
325 Bộ luật Dân sự năm 2015 và khoản 19 Điều 1 Nghị định số 11/2012/NĐ-
CP ngày 22-02-2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị
định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29-12-2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm
là phù hợp.
Đối với tài sản trên diện tích đất tranh chấp là căn nhà của bà X và chị H
có diện tích là 147,2m
2
được xây trên một phần thửa đất 243 và 242. Trong đó
phần đất bà X tranh chấp với bà H diện tích nhà là 125,2m
2
và phần đất chị H
tranh chấp với bà H là 22m
2
, các đương sự thống nhất với chứng thư định giá,
không ai yêu cầu định giá lại, vì vậy xác định giá trị theo kết quả định giá tài sản
của của Chứng thư thẩm định giá số 23497/CT-TĐG ngày 12/72023 của Công
ty Thẩm định giá NOVA thì nhà ở và công trình trên đất có giá trị là
248.971.813 đồng.
Đối với cây trồng trên đất thì bà X và chị H không yêu cầu nên không
xem xét.
[6] Đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất nêu trên, các đương sự đều trình bày là đất của cá
nhân bà H, bà H thực hiện hợp đồng tặng cho với bà X và chuyển nhượng cho
chị H nhưng khi làm hợp đồng có ghi tên anh Toàn con bà H, chứ thực chất là
giao kết hợp đồng là do bà H thực hiện. Nguyên đơn chỉ yêu cầu bà H, trong
phạm vi khởi kiện của nguyên đơn nên không đặt vấn đề xem xét với anh Toàn.
[7] Về chi phí đo đạc, định giá: Đối với số tiền chi phí thu thập tài liệu,
chứng cứ, chi phí định giá, xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc tổng cộng là
9.400.000 đồng, bà X, chị H đã nộp là 9.400.000 đồng. Bà X, chị H và bà H mỗi
bên chịu ½ chi phí tố tụng nên bà H phải nộp số tiền 4.700.000 đồng để trả lại
cho bà X, chị H.

12
[8] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được
chấp nhận.
[9] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp
nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định. Bị đơn phải chịu án phí có
giá ngạch về bồi thường thiệt hại. Mặc dù bà X và bà H là người cao tuổi nhưng
bà X và bà H không có đơn xin miễn án phí nên bà X và bà H phải chịu án phí
theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Điều 26, 35, 39, 147, 157 và 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Điều 117, 119, 122, 123, 124, 131, 325 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 122,
124, 128, 134, 411, 698 Bộ luật dân sự năm 2005; khoản 19 Điều 1 Nghị định số
11/2012/NĐ-CP ngày 22-02-2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số
điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29-12-2006 của Chính phủ về
giao dịch bảo đảm; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-
2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử: 1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị X
và chị Hồ Thị Ngọc H.
1.1. Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày
07/11/2017 anh Nguyễn Quốc Toàn, bà Nguyễn Thị H với bà Phạm Thị X, đối
với diện tích đất 448,5m
2
, thửa đất số 242 và 243, tờ bản đồ số 14, tọa lạc tại ấp
1, xã Gia Thuận, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.
1.2 Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giữa anh
Nguyễn Quốc Toàn, bà Nguyễn Thị H với chị Hồ Thị Ngọc H đối với diện tích
đất 120m
2
, thửa đất số 242, tờ bản đồ số 14 tọa lạc tại ấp 1, xã Gia Thuận,
huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang.
Buộc bà Nguyễn Thị H phải bồi thường thiệt hại chị Hồ Thị Ngọc H số tiền
42.990.380 đồng, khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày chị H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà H không chịu trả số
tiền nêu trên, thì hàng tháng bà H còn phải trả số tiền lãi đối với số tiền chậm trả
tương ứng thời gian chậm thi hành án. Lãi suất phát sinh tiền chậm trả thực hiện
theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Khi xử lý phát mãi quyền sử dụng thửa đất 242 và 243, loại đất ở tại nông
thôn theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02993 ngày 07/11/2014
được Ủy ban nhân dân huyện Gò Công Đông cấp cho bà Nguyễn Thị H đứng
tên chủ sử dụng thì ưu tiên cho bà X, chị H được quyền nhận chuyển nhượng.
Trong trường hợp bà X, chị H không có nhu cầu nhận chuyển nhượng thì các tài

13
sản gắn liền trên các thửa đất thế chấp đảm bảo của các đương sự không thuộc
tài sản thế chấp đảm bảo thì khi xử lý phát mãi tài sản để thu hồi nợ thì các tài
sản thuộc quyền sở hữu của bà X, chị H gắn liền trên thửa đất số 242 và 243 nêu
trên, thì bà X và chị H được nhận lại giá trị tài sản tại thời điểm xử lý phát mãi
thu hồi nợ.
2. Về chi phí tố tụng: Bà H phải nộp số tiền 4.700.000 đồng để trả cho bà X
và chị H.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị X phải chịu 300.000 đồng án phí
dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền 600.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo
biên lai thu số 0007429 ngày 25/11/2021 và biên lai thu số 0028586 ngày
21/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Đông nên bà X được
hoàn số tiền 300.000 đồng.
Chị Hồ Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được
trừ vào số tiền 600.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007430
ngày 25/11/2021 và biên lai thu số 0028587 ngày 21/3/2023 của Chi cục Thi
hành án dân sự huyện Gò Công Đông nên chị H được hoàn số tiền 300.000
đồng.
Bà Nguyễn Thị H phải chịu 2.149.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản
án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Đối với các đương sự vắng
mặt được tính từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều
2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự
nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,
7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Toà án nhân dân tỉnh TG;
- VKSND huyện Gò Công Đông;
- Chi cục THADS huyện Gò Công
Đông;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ, án văn.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Nguyên
14
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 08/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 04/12/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 26/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 19/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 19/11/2025
Cấp xét xử: Sơ thẩm