Bản án số 183/2017/HSST ngày 22/09/2017 của TAND Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 183/2017/HSST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 183/2017/HSST
| Tên Bản án: | Bản án số 183/2017/HSST ngày 22/09/2017 của TAND Q. Cầu Giấy, TP. Hà Nội |
|---|---|
| Tội danh: | |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND Q. Cầu Giấy (TAND TP. Hà Nội) |
| Số hiệu: | 183/2017/HSST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 22/09/2017 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CẦU GIẤY
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Bản án số: 183/2017/HSST
Ngày: 22/9/2017
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hiền
Nghề nghiệp: Cán bộ nghỉ hưu
2. Ông Đỗ Quang Khánh
Nghề nghiệp: Phó Chủ tịch HĐND phường Dịch Vọng Hậu
Thư ký phiên tòa:
Ông Hoàng Hồng Phương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy tham gia phiên tòa:
Ông Nghiêm Đình Trọng - Kiểm sát viên
Ngày 22/9/2017, tại Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự thụ lý số 158/2017/HSST ngày 25/8/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra
xét xử số 166/2017/HSST-QĐ ngày 01/9/2017 đối với bị cáo:
Trần Văn T – sinh ngày 15/4/1998; ĐKHKTT: Thôn T, xã T, huyện V,
Tỉnh Thái Bình; Văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Tự do; Con bà: Trần Thị T; Danh
chỉ bản: 000000260, lập ngày 24/10/2016, Công an quận Cầu Giấy (Theo Trích
lục tiền án, tiền sự số 1221328/PC53 ngày 11/8/2017 của Phòng hồ sơ NV Cảnh
sát – Công an TP Hà Nội thì ngày lập Danh chỉ bản là ngày 22/7/2017); Tiền
án-tiền sự: ngày 17/8/2017, tại bản án số 153/2017/HSST, Tòa án nhân dân
quận Bắc Từ Liêm-TP Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (hành
vi trộm cắp ngày 22/4/2017); Bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi
khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang bị tạm giam theo Quyết định tạm giam của Tòa
án nhân dân quận Bắc Từ Liêm. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Chị Phan Thị Cẩm N – sinh ngày 28/4/1998 – Trú tại:
Phường T, Thị xã B, tỉnh Quảng Ninh.
2
NHẬN THẤY
Bị cáo Trần Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy truy tố về
hành vi phạm tội sau: Khoảng 06 giờ sáng ngày 23/10/2016, Trần Văn T là nhân
viên của Nhà nghỉ B, địa chỉ phố B, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội lên
dọn phòng trong nhà nghỉ. Khi lên tầng 3, thấy phòng 301 mở hé cửa, trong
phòng bật đèn, T nghĩ là khách đã trả phòng nên mở cửa đi vào. Trong phòng, T
thấy chị Phan Thị Cẩm N đang nằm ngủ trên giường, phía đầu giường để chiếc
điện thoại di động Iphone 5S màu trắng. T nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện
thoại. T đi đến đầu giường dùng tay phải lấy trộm chiếc điện thoại và ra khỏi
phòng, đi lên tầng 5 cất dấu chiếc điện thoại vào túi đựng đồ, sau đó đi làm việc
bình thường. Đến 07 giờ cùng ngày, chị N ngủ dậy thấy cửa phòng hé mở và
phát hiện bị mất chiếc điện thoại, chị N đã xuống lễ tân gặp T báo mất tài sản. T
nói không biết và yêu cầu chị N cung cấp tài khoản Icloud của điện thoại để T
tìm hộ. Chị N đã tự tay đánh mã tài khoản vào máy tính của nhà nghỉ để tìm
điện thoại nhưng không được, sau đó chị N đã lên phòng dọn đồ, trả phòng. Đến
12 giờ cùng ngày, T lên tầng 5 lấy điện thoại vừa trộm cắp ra nhập tài khoản
Icloud mà chị N còn lưu trong máy tính nhà nghỉ nhưng không mở được điện
thoại. T đã dùng Facebook của mình nói chuyện với chị N yêu cầu chị N mở tài
khoản, nhưng chị N không đồng ý. Sau đó chị N đến Công an phường Mai Dịch
trình báo. Công an phường Mai Dịch đã mời T lên làm việc. Tại cơ quan Công
an, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Cơ quan công an đã dẫn giải T về
nhà nghỉ B thu hồi được chiếc điện thoại T cất dấu.
Kết luận định giá tài sản số 255 ngày 24/10/2016 của Hội đồng định giá tài
sản trong tố tụng hình sự quận Cầu Giấy đã xác định: chiếc điện thoại Iphone 5S
có giá trị 4.400.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trao trả chị N chiếc điện thoại
trên. Chị N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự.
Tại bản cáo trạng số 170/CT- VKS ngày 25/8/2017, Viện Kiểm sát nhân
dân quận Cầu Giấy đã truy tố Trần Văn T về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1
Điều 138 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội
thể hiện thái độ ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy giữ quyền công tố tại
phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo T theo tội danh và điều luật được
viện dẫn trong bản Cáo trạng số 170/CT-VKS ngày 25/8/2017 và đề nghị xử
phạt bị cáo với mức án từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với
bản án số 153/2017/HSST của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm. Buộc bị cáo
3
chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án. Không áp dụng hình phạt bổ sung
theo khoản 5 điều 138 Bộ luật hình sự. Dân sự - Vật chứng: Không.
Sau khi xem xét, đánh giá khách quan toàn diện những tài liệu, chứng cứ
được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời khai của
bị cáo, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy.
XÉT THẤY
Lời khai của bị cáo Trần Văn T tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời
khai tại cơ quan điều tra, lời khai người làm chứng, người bị hại, vật chứng, kết
luận định giá và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 06 giờ 00 ngày 23/10/2016, Tại Phòng 301 Nhà nghỉ B địa chỉ phố
B, phường D, quận C, Thành phố Hà Nội, Trần Văn T đã lợi dụng sơ hở lén lút
chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại Iphone 5S của chị Phan Thị Cẩm N. Trị giá tài
sản mà T chiếm đoạt có giá trị được định giá là 4.400.000 đồng. Hành vi của bị
cáo đã phạm vào tội “ Trộm cắp tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại
khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 170/CT-VKS ngày
25/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy truy tố bị cáo là đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo T, sinh ngày 15/4/1998, trình độ văn hóa 9/12. Bị cáo đã có đủ năng
lực nhận thức để biết hành vi nào là vi phạm pháp luật. Nhưng do thiếu trách
nhiệm với bản thân, muốn kiếm tiền bằng con đường bất chính, ý thức coi
thường pháp luật, khi thấy chủ tài sản sơ hở, bị cáo đã nảy lòng tham chiếm đoạt
tài sản. Khi người bị hại trình báo mất tài sản, bị cáo không những không trả lại
tài sản mà còn cố ý chiếm đoạt tài sản đến cùng. Hành vi phạm tội của bị cáo
được thực hiện với lỗi cố ý, mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản, trực tiếp xâm hại
đến trật tự an toàn xã hội, xâm hại đến tài sản của công dân. Do vậy, căn cứ tính
chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo xét thấy cần xử phạt bị cáo với mức án
nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo
giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội
đồng xét xử có xem xét đến quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo
có thái độ khai báo thành khẩn ăn năn hối cải, đến thời điểm thực hiện hành vi
phạm tội, bị cáo mới 18 tuổi, 06 tháng, 08 ngày, phạm tội do cơ hội, lần đầu và
thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nhân thân chưa tiền án, tiền sự làm căn cứ
giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Hiện bị cáo không nghề nghiệp, không
có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5
Điều 138 Bộ luật hình sự. Đến thời điểm Tòa án xét xử vụ án này, bị cáo đã bị
Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản
mà bị cáo thực hiện sau hành vi bị truy tố xét xử của vụ án này nên không bị

4
tính là tái phạm. Nhưng bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản
án.
Dân sự - Vật chứng: Người bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu
gì về dân sự nên không xét.
Bị cáo phải nộp án phí và được quyền kháng cáo bản án.
Bởi lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Trần Văn T – sinh ngày 15/4/1998
Phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm h,p Khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều
51; Điều 33 Bộ luật hình sự 1999. Điều 99; Điều 231; Điều 234 Bộ luật tố tụng
hình sự. Điều 21, Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ
phí Tòa án và danh mục kèm theo của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội khóa 14.
Xử phạt: Trần Văn T 06 (Sáu) tháng tù về tội “ Trộm cắp tài sản”. Tổng
hợp hình phạt với 06 (Sáu) tháng tù của bản án số 153/2017/HSST ngày
17/8/2017 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm – Thành phố Hà Nội. Buộc
bị cáo chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 12 (Mười hai) tháng tù.
Hạn tù kể từ ngày tạm giam, giữ: 06/5/2017 của Công an quận Bắc Từ Liêm,
Thành Phố Hà Nội.
Dân sự - Vật chứng : Không.
Bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí
Hình sự sơ thẩm. Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn
15 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án.
Nơi nhận bản án:
-Bị cáo, người bị hại;
-Tòa án nhân dân TP.HN;
-Sở Tư pháp Hà Nội;
-VKSND Hà Nội và Q. Cầu Giấy;
-Trại tạm giam số 1 CAHN;
-Công an quận Cầu Giấy;
-Thi hành án dân sự Q. Cầu Giấy;
-Lưu HS+VP TAND Q.Cầu Giấy.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(đã ký)
Nguyễn Mạnh Hải
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 09/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 06/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Bản án số 80/2026/KDTM-PT ngày 05/03/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 05/03/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 28/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 27/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 26/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 25/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 23/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 22/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 20/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 16/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Bản án số 16/2026/KDTM-PT ngày 14/02/2026 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Ban hành: 14/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 13/02/2026
Cấp xét xử: Sơ thẩm