Bản án số 18/2025/DS-ST ngày 04/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 18/2025/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 18/2025/DS-ST ngày 04/06/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 9 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ
Số hiệu: 18/2025/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/06/2025
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chị P tranh chấp hợp đồng vay tài sản với chị C
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÙ LAO DUNG
TỈNH SÓC TRĂNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 18/2025/DS-ST
Ngày: 04-6-2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Phước Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thành Tâm.
Ông Võ Thành phước.
- Thư phiên tòa: Ông Văn Thừa Thẩm tra viên Tòa án nhân n
huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lao Dung, tỉnh c Trăng
tham gia phiên tòa: Bà Lâm Kiều Phương - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 03 04 tháng 6 năm 2025, tại trsở Tòa án nhân dân
huyện Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng xét xthẩm ng khai vụ án thụ số:
64/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 11 năm 2024, về tranh chấp hợp đồng vay tài
sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2025/QĐXXST-DS, ngày 16
tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1978.
Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.
Tất cả đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện lập ngày 31 tháng 5 năm 2024 các lời khai trong quá
trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa thẩm, nguyên đơn chị Nguyễn
Thị Kim P trình bày:
- Vào ngày 26/4/2023, chị Nguyễn Thị C vay của chị P 10.800.000
đồng.
2
- Vào ngày 03/5/2023, chị Nguyễn Thị C vay của chị P 10.800.000
đồng.
- Vào ngày 29/7/2023, chị Nguyễn Thị C có vay của chị P 5.400.000 đồng.
Như vậy trong 03 lần vay tiền thì chị C vay của chị P tổng cộng 27.000.000
đồng. Thời hạn trả tiền vay là tháng 10/2023 sẽ trả dứt nợ. Lãi suất thỏa thuận là
3%/01 tháng.
Do quen biết khi chị C vay tiền chỉ nói miệng, không lập văn bản hợp
đồng vay tiền. Theo yêu cầu của chị C khi vay tiền thì chP đưa tiền mặt, đưa trực
tiếp cho chị C, nhưng khi chị C nhận tiền thì có ký nhận vào sổ theo dõi của chị P.
Sau khi vay tiền thì chị C không có trả tiền lãi hàng tháng cho chị P. Đến thời hạn
trả tiền vay gốc chị C không trả nợ như đã thỏa thuận khi vay tiền. Vào ngày
18/10/2023, chị C chốt nợ với chị P, chị C xác định tính đến tháng 10 năm
2023 chị C nợ chị P tổng cộng tiền vay gốc lãi là 32.000.000 đồng. Chị C cam
kết strả cho chị P số tiền này trong vòng 01 tháng. Hết thời hạn cam kết trả nợ,
chị P có đến nhà chị C để yêu cầu chC trả tiền cho chP thì chị C cứ hẹn lần hẹn
lựa chứ không chịu trả.
Đến ngày 08/02/2024, chị C chuyển trả cho chị P được 5.000.000 đồng
(thông qua chuyển khoản). Đến ngày 09/04/2024, chị C chuyển trả cho chị P được
1.000.000 đồng (thông qua chuyển khoản). Như vậy, xác định hiện tại chị Nguyễn
Thị C còn nợ số tiền 26.000.000 đồng, cho đến nay chC không trả thêm
khoản tiền nào cho chị P. Do chị C vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên chị P yêu cầu chị
C phải trả thêm cho chị P khoản lãi 1%/1 tháng/ số tiền 26.000.000 đồng, thời
hạn chị P yêu cầu tính lãi từ ngày 09/4/2024 cho đến khi Tòa án xét xử vụ án.
Nay chị P yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc chị Nguyễn Thị C
trách nhiệm hoàn trả lại cho chị P số tiền vay gốc 26.000.000 đồng. Chị P yêu
cầu chị C trả thêm cho chị P khoản lãi 1%/1 tháng/số tiền 26.000.000 đồng,
thời hạn chị P yêu cầu tính lãi từ ngày 09/4/2024 cho đến khi Tòa án xét xử vụ án.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 27 tháng 11 năm 2024 các lời khai trong
quá trình giải quyết vụ án bị đơn chị Nguyễn Thị C trình bày:
Vào ngày 11/4/2023, chị C vay số tiền 10.800.000 đồng (nhận tiền mặt)
của chị Nguyễn Thị Kim P, vay trả góp mỗi ngày trả 400.000 đồng, trả trong thời
hạn 30 ngày, trả vốn gốc lãi tổng cộng 12.000.000 đồng (số tiền vốn gốc
10.800.000 đồng, số tiền lãi 1.200.000 đồng); 05 ngày chị C trả góp cho chị P
2.000.000 đồng, chị C đã trả góp cho chị P được số tiền 4.000.000 đồng, thì số
tiền chị C còn phải trả cho chị P còn lại là 8.000.000 đồng.
Đến ngày 26/4/2023, chị P đưa thêm cho chC số tiền 2.800.000 đồng, thì
số tiền chị C còn nợ chị P tăng lên thành 10.800.000 đồng tiếp tục trả góp mỗi
ngày trả 400.000 đồng, trả trong thời hạn 30 ngày. Ngày 30/4/2023, chị C trả góp
cho chị P số tiền 2.000.000 đồng; ngày 03/5/2023, chị C trả góp cho chị P số tiền
2.000.000 đồng.
Đến ngày 03/5/2023, chị P tiếp tục đưa thêm cho chị C số tiền 2.800.000
đồng, để thành số tiền 10.800.000 đồng tiếp tục trả góp mỗi ngày trả 400.000
3
đồng, trả trong thời hạn 30 ngày, mỗi 05 ngày chị C trả góp cho chị P số tiền
2.000.000 đồng chị C đã trả góp cho chị P như sau: Vào các ngày 08, 13, 18,
23, 28 tháng 5 năm 2023 ngày 02/6/2023, mỗi ngày tương ứng với một lần trả
tiền, mỗi lần chị C trả cho chị P số tiền 2.000.000 đồng. Ngày 09/6/2023, chồng
chị C tên Huỳnh Quốc T, cùng địa chỉ ấp A, xã A 3 với chị C đã chuyển khoản
cho chị P trả dùm chị C số tiền 2.000.000 đồng. Đến các ngày 14, 19, 24, 29 tháng
6 năm 2023 các ngày 04, 09, 14, 19, 24, 29 tháng 7 năm 2023, mỗi ngày tương
ứng với một lần trả tiền, mỗi lần chị C trả cho chP số tiền 2.000.000 đồng.
Ngày 29/7/2023, chị C vay của chị P số tiền 5.400.000 đồng (nhận tiền
mặt), vay trả góp mỗi ngày trả 200.000 đồng, trả trong thời hạn 30 ngày, trả vốn
gốc lãi tổng cộng 6.000.000 đồng (số tiền vốn gốc 5.400.000 đồng, số tiền
lãi 600.000 đồng). Đối với số tiền vay này do chị C không trả góp theo thỏa
thuận với chị P nên đến ngày 11/8/2023, chồng chị C (Huỳnh Quốc T) chuyển
khoản cho chị P trả dùm chị C số tiền 1.000.000 đồng; ngày 30/8/2023, chồng chị
C chuyển khoản cho chị P trả dùm chị C số tiền 300.000 đồng; ngày 15/9/2023,
chồng chị C chuyển khoản cho chị P trả dùm chị C số tiền 600.000 đồng; ngày
08/02/2024, chồng chị C chuyển khoản cho chị P trả dùm chị C stiền 5.000.000
đồng; ngày 09/4/2024, chồng chị C chuyển khoản cho chị P trả dùm chị C số tiền
1.000.000 đồng. Tất cả số tiền chồng chị C chuyển khoản từ ngày 11/8/2023 trả
cho chị P đều trả cho số tiền gốc lãi của số tiền vay 5.400.000 đồng tiền
lãi suất của số tiền vay này.
Các lần chị C trực tiếp trả tiền cho chị P chị C trả tiền mặt, nhân viên
của chị C chứng kiến nhưng nhân viên của chị C không chịu đứng ra làm chứng
nên chị C không cung cấp họ tên, địa chỉ cho Tòa án. Tính đến nay, chị C đã trả
tiền vay vốn gốc tiền lãi cho chị P hết rồi, thậm chí còn vượt quá mức lãi suất
quy định của pháp luật. Do đó, chị C không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của chị
P.
Chữ ghi họ tên Nguyễn Thị C ngang với dòng chữ: “Chung ngày
11/4/2023 10.800.000 2.000 2.000” là chữ ký và chữ viết của chị C nhận nợ
số tiền vay 10.800.000 đồng vào ngày 11/4/2023.
Tin nhắn qua mạng hội Zalo ngày 18/10/2023 với nội dung “Chi tong
em thieu chi 2 day lon 21tr600 + 1 dây nhõ 5tr400 phãi kg chi” nghĩa “Chị
tổng em thiếu chị 2 dây lớn 21.600.000 đồng + 1 dây nhỏ 5.400.000 đồng phải
không chị”; “Tong hêt 27tr” nghĩa “Tổng hết là 27.000.000 đồng” nội
dung đoạn ghi âm chC gửi cho chị P do chị C dùng mạng xã hội Zalo gửi
tin nhắn đoạn ghi âm cho chị P với nội dung chị C còn nợ chị P tổng cộng
27.000.000 đồng, chị C xin tính lãi thêm 5.000.000 đồng, chị C trả dần làm 02
lần, cuối tháng 9 năm 2023 âm lịch chị C trả trả 16.000.000 đồng, cuối tháng 10
năm 2023 âm lịch chị C trả 16.000.000 đồng dứt nợ. Các tin nhắn nội dung
ghi âm trên, thì do chị C còn thiếu nợ chị P 5.400.000 đồng tính luôn lãi tổng
cộng gốc lãi 6.000.000 đồng. Do chị C không khả năng trả nợ nhiều lần
chị P đến nhà làm khó chị C và không biết đến khi nào chị C mới trả được nợ cho
chị P. Do vì công việc và giữ uy tín cho chị C và chị C nghĩ chị P nói cũng hợp lý,
4
chị P có yêu cầu nếu để việc trả nợ vô thời hạn và để cho chị C làm ăn yên ổn, chị
P đến n sau đó chị P điện thoại cho chị C bắt buộc chị C chốt n
27.000.000 đồng như trên. Tại phiên tòa, chị C xin rút lại và không đồng ý chịu
trách nhiệm với tin nhắn qua mạng xã hội Zalo với chị P.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án
của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư Tòa án việc chấp hành pháp luật của
những người tham gia ttụng nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ ván cho
đến trước thời điểm Hội đồng xét xnghị án đã thực hiện đúng các quy định của
Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Xét thấy, yêu cầu của nguyên đơn buộc bị
đơn phải trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền nợ vay vốn gốc lãi suất
1%/tháng phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, theo yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn khởi kiện bị đơn trả số tiền 32.000.000 đồng trong đó số
tiền nợ gốc 27.000.000 đồng tiền lãi 5.000.000 đồng, trừ đi số tiền bị đơn đã
chuyển khoản trả nguyên đơn 6.000.000 đồng, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số
tiền 26.000.000 đồng còn lại, số tiền lãi trên quá cao so với quy định tại Điều
468 Bộ luật Dân sự. Do đó, tại phiên tòa các đương sự yêu cầu tính lại tiền lãi
căn cứ nên đnghị Hội đồng xét xử tính lại số tiền lãi cho hợp lý, đúng quy
định của pháp luật khấu trừ số tiền bị đơn đã trả cho nguyên đơn tổng cộng
9.900.000 đồng, số tiền còn lại buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn.
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí
theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử nghị án và tuyên án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thủ tục thụ việc khởi kiện của nguyên đơn thẩm quyền giải
quyết: Khi chị Nguyễn Thị Kim P nộp đơn khởi kiện, thì người bị kiện chị
Nguyễn Thị Chung T1 tại ấp A, A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. ChP đơn
khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc chị C phải trả số tiền vay còn nợ yêu cầu tính
lãi suất. Chị P đã nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh
Sóc Trăng các tài liệu, chứng cứ kèm theo. Tòa án nhân dân huyện Lao
Dung đã thụ lý đơn khởi kiện và thông báo cho chị P nộp tiền tạm ứng án phí theo
quy định của pháp luật chị P đã thực hiện việc nộp tiền tạm ứng án phí đúng
quy định. Như vậy, Tòa án nhân dân huyện Lao Dung, tỉnh c Trăng thụ
đơn khởi kiện của chị P đúng thẩm quyền đúng theo trình tự thủ tục tố tụng
theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; Điều 191 và Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự.
5
[1.2] Tại phiên tòa thẩm nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện yêu
cầu Tòa án buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn số tiền vay vốn gốc tổng cộng
27.000.000 đồng và tính lại số tiền lãi suất 1%/ tháng từ ngày vay đến ngày xét xử
theo quy định của pháp luật khấu trừ số tiền lãi bị đơn đã trả cho nguyên đơn.
Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không vượt quá yêu cầu
khởi kiện ban đầu, căn cứ vào khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được
Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về nội dung:
[3] Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện là yêu cầu
Tòa án buộc bị đơn trả lại cho nguyên đơn số tiền vay vốn gốc tổng cộng
27.000.000 đồng và tính lại số tiền lãi suất 1%/ tháng từ ngày vay đến ngày xét xử
theo quy định của pháp luật khấu trừ số tiền lãi bị đơn đã trả cho nguyên đơn.
Tuy nhiên bị đơn cho rằng đã trả xong hết số tiền vay vốn gốc lãi cho nguyên
đơn, thậm chí còn hơn số tiền bị đơn nợ nguyên đơn.
[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[4.1] Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị C đều thừa
nhận: Tin nhắn qua mạng hội Zalo ngày 18/10/2023 với nội dung “Chi tong
em thieu chi 2 day lon 21tr600 + 1 y nhõ 5tr400 phãi kg chi” nghĩa “Chị
tổng em thiếu chị 2 dây lớn 21.600.000 đồng + 1 dây nhỏ 5.400.000 đồng phải
không chị”; “Tong hêt 27tr” nghĩa “Tổng hết là 27.000.000 đồng” nội
dung đoạn ghi âm chC gửi cho chị P do chị C dùng mạng xã hội Zalo gửi
tin nhắn đoạn ghi âm cho chị P với nội dung chị C còn nợ chị P tổng cộng
27.000.000 đồng, chị C xin tính lãi thêm 5.000.000 đồng, chị C trả dần làm 02
lần, cuối tháng 9 năm 2023 âm lịch chị C trả trả 16.000.000 đồng, cuối tháng 10
năm 2023 âm lịch chị C trả 16.000.000 đồng dứt nợ. Lời khai thừa nhận của bị
đơn phù hợp với lời trình bày của nguyên đơn phù hợp với Tờ giấy tập kẻ
ngang do nguyên đơn nộp tại phiên tòa thể hiện bị đơn C vay tiền của nguyên đơn
vào ngày 26/4/2023 vay số tiền 10.800.000 đồng, ngày 03/5/2023 vay số tiền
10.800.000 đồng, ngày 29/7/2023 vay số tiền 5.400.000 đồng, tổng cộng
27.000.000 đồng. Theo khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “Một
bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu,
văn bản, kết luận của quan chuyên môn bên đương sự kia đưa ra thì bên
đương sự đó không phải chứng minh”, căn cứ vào quy định này Hội đồng xét x
khẳng định bị đơn C có vay tiền của nguyên đơn Phương vào ngày 26/4/2023 vay
số tiền 10.800.000 đồng, ngày 03/5/2023 vay số tiền 10.800.000 đồng, ngày
29/7/2023 vay số tiền 5.400.000 đồng, vay tổng cộng số tiền 27.000.000 đồng
sự thật.
[4.2] Xét về lãi suất do các bên thỏa thuận, từ khi vay đến ngày 18/10/2023
với số tiền lãi là 5.000.000 đồng của số tiền gốc 27.000.000 đồng là vượt quá giới
hạn được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự và tại phiên tòa các
đương sự thống nhất yêu cầu Tòa án xem xét tính lại mức lãi suất các bên đã thỏa
thuận. Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu tính lãi suất 1%/tháng đối với số tiền đã
cho bị đơn vay, Hội đồng xét xử xét thấy mức lãi suất này phù hợp với quy định
6
tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, số tiền
lãi được tính như sau:
[4.2.1] Số tiền lãi của số tiền 10.800.000 đồng vay ngày 26/4/2023 tính đến
ngày 04/6/2025 25 tháng 10 ngày: 10.800.000 đồng x 25 tháng 10 ngày x
1%/tháng = 2.736.000 đồng.
[4.2.2] Số tiền lãi của số tiền 10.800.000 đồng vay ngày 03/5/2023 tính đến
ngày 04/6/2025 25 tháng 02 ngày: 10.800.000 đồng x 25 tháng 02 ngày x
1%/tháng = 2.707.200 đồng.
[4.2.3] Số tiền lãi của số tiền 5.400.000 đồng vay ngày 29/7/2023 tính đến
ngày 04/6/2025 22 tháng 07 ngày: 5.400.000 đồng x 22 tháng 07 ngày x
1%/tháng = 1.200.600 đồng.
[4.2.4] Tổng cộng số tiền lãi là: 6.643.800 đồng.
[5] Xét về số tiền lãi số tiền vốn gốc bị đơn đã trả cho nguyên đơn, Hội
đồng xét xử xét thấy, trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn cho rằng đã trả xong
hết stiền vay vốn gốc lãi cho nguyên đơn, thậm chí còn nhiều hơn số tiền bị
đơn nợ nguyên đơn. Tại lời khai ngày 27/11/2024 (bút lục 24), bị đơn khai đã trả
tiền cho nguyên đơn qua các lần và các ngày như sau: Ngày 30/4/2023, bị đơn trả
góp cho nguyên đơn số tiền 2.000.000 đồng; ngày 03/5/2023, bị đơn trả góp cho
nguyên đơn số tiền 2.000.000 đồng; vào các ngày 08, 13, 18, 23, 28 tháng 5 năm
2023 ngày 02/6/2023, mỗi ngày tương ứng với một lần trả tiền, mỗi lần bị đơn
trả cho nguyên đơn số tiền 2.000.000 đồng. Ngày 09/6/2023, chồng bị đơn tên
Huỳnh Quốc T, cùng địa chỉ ấp A, xã A 3 với bị đơn đã chuyển khoản cho nguyên
đơn trả dùm bị đơn số tiền 2.000.000 đồng. Đến các ngày 14, 19, 24, 29 tháng 6
năm 2023 các ngày 04, 09, 14, 19, 24, 29 tháng 7 năm 2023, mỗi ngày tương
ứng với một lần trả tiền, mỗi lần bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền 2.000.000
đồng. Ngày 11/8/2023, chồng bị đơn chuyển khoản cho nguyên đơn trả dùm bị
đơn số tiền 1.000.000 đồng; ngày 30/8/2023, chồng bị đơn chuyển khoản cho
nguyên đơn trả dùm bị đơn stiền 300.000 đồng; ngày 15/9/2023, chồng bị đơn
chuyển khoản cho nguyên đơn trả dùm bị đơn stiền 600.000 đồng. Như vậy,
tính từ ngày 26/4/2023 đến ngày 15/9/2023, thì bị đơn đã trả cho nguyên đơn số
tiền tổng cộng 39.900.000 đồng. Tuy nhiên, đến ngày 18/10/2023, bị đơn lại nhắn
tin cho nguyên đơn thừa nhận còn n nguyên đơn số tiền nợ gốc tổng cộng
27.000.000 đồng tự xin trả lãi cho nguyên đơn thêm số tiền 5.000.000 đồng.
Do đó, bị đơn cho rằng đã trả hết nợ cho nguyên đơn không sở để Hội
đồng xét xử chấp nhận. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ
thẩm, bị đơn chỉ chứng minh được các lần trả nợ cho nguyên đơn và được nguyên
đơn thừa nhận qua chuyển khoản với số tiền như sau: Ngày 09/6/2023 số tiền
2.000.000 đồng; ngày 11/8/2023 số tiền 1.000.000 đồng; ngày 30/8/2023 số tiền
300.000 đồng; ngày 15/9/2023 số tiền 600.000 đồng; ngày 08/02/2024 số tiền
5.000.000 đồng; ngày 09/4/2024 số tiền 1.000.000 đồng, tổng cộng 9.900.000
đồng. Đối với số tiền bị đơn cho rằng trả trực tiếp cho nguyên đơn nhận t
nguyên đơn xác định bị đơn trả cho nguyên đơn vừa chuyển khoản, vừa trả trực
tiếp được 6.600.000 đồng của số tiền vay 10.800.000 đồng vào ngày 11/4/2023
7
nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn không yêu cầu Tòa án
giải quyết đối với số tiền vay này nên không sở để Hội đồng xét xử giải
quyết trong vụ án này. Trường hợp các đương sự tranh chấp thì được quyền
khởi kiện thành một vụ án khác. Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử
khẳng định bị đơn đã trả cho nguyên đơn số tiền lãi vốn gốc của số tiền vay
vốn gốc tổng cộng 27.000.000 đồng với số tiền là 9.900.000 đồng.
[6] Căn cứ vào Điều 463 của Bộ luật Dân sự quy định “Hợp đồng vay tài
sản sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay;
khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo
đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có
quy định” tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự quy định về nghĩa vụ của
bên vay nsau: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài
sản là vật thì phải trả vật cùng loại, đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có
thỏa thuận khác”.
[7] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải nghĩa vụ trả cho nguyên đơn s
tiền vay vốn gốc còn nợ 27.000.000 đồng và số tiền lãi suất tổng cộng
6.643.800 đồng. Tổng cộng số tiền vốn gốc lãi 33.643.800 đồng. Khấu trừ
số tiền lãi vốn gốc bị đơn đã trả cho nguyên đơn tổng cộng 9.900.000 đồng.
Như vậy, bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền vay vốn gốc còn nợ tổng cộng
23.743.800 đồng.
[8] Xét đề nghị của Kiểm sát viên về nội dung giải quyết vụ án là có căn cứ,
đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về án phí dân sự thẩm: Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn, căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử dụng án phí lệ
phí Tòa án nên bị đơn chị Nguyễn Thị C phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm
có giá ngạch 1.187.190 đồng.
[10] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim P không phải chịu án phí dân sự
thẩm nên được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí, lphí đã nộp theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 2 Điều 92 và khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 463; khoản 1 Điều 466 và khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự;
- Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng
12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,
thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
8
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị
Kim P về yêu cầu trả số tiền nợ vay vốn gốc và lãi suất đối với bị đơn chị Nguyễn
Thị C.
2. Xử buộc bị đơn chị Nguyễn Thị C phải trả cho nguyên đơn chị Nguyễn
Thị Kim P số tiền vay vốn gốc còn nợ 27.000.000 đồng số tiền lãi suất tổng
cộng 6.643.800 đồng. Tổng cộng số tiền vốn gốc lãi 33.643.800 đồng.
Khấu trừ số tiền lãi và vốn gốc bị đơn đã trả cho nguyên đơn tổng cộng 9.900.000
đồng. Bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền vay vốn gốc còn ntổng cộng
23.743.800 đồng (hai mươi ba triệu bảy trăm bốn mươi ba nghìn tám trăm đồng).
Khi bản án hiệu lực pháp luật, kể tngày nguyên đơn chị Nguyễn Thị
Kim P đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản
tiền, thì hàng tháng bị đơn chị Nguyễn Thị C n phải chịu khoản tiền lãi của số
tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật
Dân sự.
3. Về án phí:
3.1. Bị đơn chị Nguyễn Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch
là 1.187.190 đồng.
3.2. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim P không phải chịu án pdân sự sơ
thẩm. Hoàn trả cho chNguyễn Thị Kim P số tiền tạm tạm ứng án phí thẩm
650.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 0004540 ngày 25 tháng 10 năm 2024 của
Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
4.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày,
kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xtheo trình
tự phúc thẩm.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sthì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án
hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi
hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30
Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- VKSND huyện Cù Lao Dung;
- Chi cục THADS huyện Cù Lao Dung;
- TAND tỉnh Sóc Trăng
(P.TTKT & THA);
- Lưu hồ sơ;
- Lưu Tòa án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đã ký
Đặng Phước Tuấn
Tải về
Bản án số 18/2025/DS-ST Bản án số 18/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 18/2025/DS-ST Bản án số 18/2025/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất