Bản án số 18/2024/HC-PT ngày 08/01/2024 của TAND cấp cao tại Hà Nội

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 18/2024/HC-PT

Tên Bản án: Bản án số 18/2024/HC-PT ngày 08/01/2024 của TAND cấp cao tại Hà Nội
Quan hệ pháp luật:
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND cấp cao tại Hà Nội
Số hiệu: 18/2024/HC-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 08/01/2024
Lĩnh vực: Hành chính
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI
Bản án số: 18/2024/HC-PT
Ngày 08 tháng 01 năm 2024
V/v yêu cầu hủy quyết định thu hồi đất,
quyết định cưỡng chế thu hồi đất
và quyết định giải quyết khiếu nại.
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP
CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Xuân Điền
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Văn Hưng
Bà Nguyễn Phương Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Nhạn, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà
Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Nội tham gia phiên tòa:
Ông Lê Song Lê, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm Phòng xét xử trực tuyến Tòa
án nhân dân cấp cao tại Nội điểm cầu thành phần Phòng xét xử trực tuyến Tòa
án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, Tòa án nhân dân cấp cao tại Nội mở phiên tòa công
khai theo hình thức trực tuyến xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ số
634/2023/TLPT-HC ngày 11 tháng 9 năm 2023 về việc “Yêu cầu hủy quyết định thu
hồi đất, quyết định cưỡng chế thu hồi đất và quyết định giải quyết khiếu nại”, do Bản
án hành chính sơ thẩm số 17/2023/HC-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Toà án nhân
dân tỉnh Bắc Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 15087/2023/QĐ-PT ngày 25
tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông Đỗ Đình V, sinh năm 1962; địa chỉ: thôn Y, H,
huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Nguyễn Thị
Kim T, ông Phạm Văn H và ông Nguyễn Đức B; đều Luật của Văn Phòng Luật
Nguyễn Thanh thuộc Đoàn Luật Thành phố H; địa chỉ: Số E Ngõ A G, phường
C quận Đ, Thành phố Hà Nội.
2. Người bị kiện:
2.1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B.
2.2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
2.3. Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện theo pháp luật của Ủy ban nhân dân huyện Y: Ông Nguyễn Chí
C, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Y.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1.Ủy ban nhân dân xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Kiều Ngọc C1, Chủ tịch Ủy ban nhân dân H,
huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
3.2. Bà Nguyễn Thị V1, sinh năm 1963;
3.3. Anh Đỗ Đình N, sinh năm 1982;
3.4. Anh Đỗ Đình B1, sinh năm 1985;
3.5. Anh Đỗ Đình H1, sinh năm 1986;
Cùng địa chỉ: thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh.
4. Người kháng cáo: Ông Đỗ Đình V (Là người khởi kiện).
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyễn Thị Kim T mặt; ông V và phía người bị
kiện có đơn xin xét xử vắng mặt; bà V1, anh N, anh B1, anh H1 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo nội dung Đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, người khởi kiện
ông Đỗ Đình V và người đại diện hợp pháp của ông V trình bày:
Năm 2019, Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là: UBND) huyện Y có chủ trương
thu hồi đất nông nghiệp của các hộ dân tại thôn Y, H, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh để
thực hiện dự án đầu xây dựng khu n đấu giá quyền sử dụng đất. Hgia đình
ông V thuộc diện bị thu hồi một phần diện tích đất nông nghiệp đthực hiện dự án.
Nguồn gốc diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi của gia đình ông V được nhà nước
cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là: GCNQSDĐ) vào thời
điểm năm 1999 nhưng thực tế gia đình ông V được chia từ tớc năm 1999, gia đình
ông V vẫn canh tác ổn định từ khi được chia ruộng cho đến khi bị thu hồi.
Ngày 20/9/2019, UBND huyện Y ra Quyết định s7422/QĐ-UBND thu hồi đối
với thửa đất số 58, tờ bản đồ số 01, diện tích 80,1m
2
tại xứ đồng “Mái Sau” và Quyết
định số 7423/QĐ-UBND thu hồi đối với thửa đất số 106, tờ bản đồ số 02, diện tích
451,4m
2
tại xứ đồng “Cây Xanh”, thôn Y, xã H, huyện Y. Theo Quyết định thu hồi thì
số diện tích bị thu hồi này đúng theo như GCNQSDĐ của gia đình ông V, ông V
không có thắc mắc gì về số diện tích trên.
Gia đình ông V được nhận quyết định thu hồi đất nhưng không được nhận
thông báo thu hồi đất quyết định phê duyệt phương án bồi thường đất; người dân
được phổ biến họp nhưng một số hộ dân không đồng ý với các quyết định
của UBND huyện Y, một số hộ dân hỏi chính quyền khi họp dân nhưng các cấp
chính quyền không trả lời được cho người dân.
Ngày 29/11/2019, ông V cùng một số h dân khác đã làm đơn khiếu nại lần thứ
nhất gửi đến các quan thẩm quyền khiếu nại về việc thu hồi đất của UBND
huyện Y. Ngày 15/12/2020, Chủ tịch UBND huyện Y ban hành Quyết định số
14696/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn khiếu nại của Trần Thị T1 một số
công dân thôn Y, H, huyện Y, trong đó có gia đình ông V kết luận rằng nội
dung khiếu nại của các ông bà không có căn cứ.
Không đồng ý với kết luận giải quyết khiếu nại của UBND huyện Y, ngày
04/01/2021 ông V một số công dân tiếp tục làm đơn khiếu nại lần thứ hai. Đến
ngày 06/5/2021, Chủ tịch UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 503/QĐ-UBND ngày
06/5/2021 về việc giải quyết khiếu nại của bà Trần Thị T1 và một số công dân thôn Y,
H, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, trong đó gia đình ông V kết luận rằng nội dung
khiếu nại của các ông bà không có căn cứ.
Theo quy đinh tại khoản 1 Điều 16; khoản 3 Điều 62 Luật Đất đai 2013 thì việc
UBND huyện Y ra Quyết định thu hồi với thửa đất của gia đình ông V không
căn cứ, trái quy định pháp luật. UBND huyện Y không tiến hành theo đúng trình tự,
thủ tục luật định, cụ thể: Gia đình ông V không được nhận tng báo thu hồi đất;
không được nhận quyết định phương án bồi thường hỗ trợ; không được tham gia lấy ý
kiến trong quá trình lập, thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Tại Nghị quyết số 191/NQ-HĐND ngày 11/7/2019, Hội đồng nhân dân tỉnh B
phê duyệt danh mục dự án thu hồi đất để phát triển kinh tế, xã hội, vì lợi ích quốc gia,
công cộng năm 2019 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Tuy nhiên không xác định vị trí,
ranh giới của dự án, dẫn đến việc tiến hành thu hồi đất có thể không chính xác.
Nay gia đình ông V muốn sử dụng phần đất này để canh tác, tạo công ăn việc
làm cho gia đình nên gia đình ông V không đồng ý việc thu hồi đất của UBND huyện
Y. Còn nếu dự án này tiếp tục được thực hiện thì ông V các hộ dân đề nghị được
thoả thuận về giá bồi thường đối với chủ đầu tư. dự án này dự án đầu xây
dựng nhà ở đấu giá quyền sử dụng đất tại H, huyện Y chứ không phải dự án thu
hồi đất để phát triển kinh tế - hội lợi ích quốc gia, ng cộng theo quy định tại
Điều 62 Luật Đất đai năm 2013.
Trước khi bị thu hồi, thửa đất của gia đình ông V vẫn đang canh tác trồng hành,
tỏi nhưng ngày 17/11/2021 Chủ tịch UBND huyện Y đã ra quyết định cưỡng chế trái
pháp luật dẫn đến thiệt hại về hoa mầu việc canh tác sản xuất nông nghiệp của gia
đình ông V. Từ những lý do trên, ông V khởi kiện vụ án yêu cầu Tòa án giải quyết:
1. Hủy Quyết định số 7422/QĐ-UBND Quyết định số 7423/QĐ-UBND cùng
ngày 20/9/2019 của UBND huyện Y về việc thu hồi đất để thực hiện Dự án đầu
xây dựng khu nhà ở đấu giá quyền sử dụng đất tại xã H, huyện Y;
2. Hủy Quyết định số 7852/QĐ-UBND ngày 17/11/2021 của Chủ tịch UBND
huyện Y về việc cưỡng chế thu hồi đất để thực hiện Dự án đầu tư xây dựng khu nhà ở
đấu giá quyền sử dụng đất tại xã H, huyện Y;
3. Hủy Quyết định số 14696/QĐ-UBND ngày 15/12/2020 của Chủ tịch UBND
huyện Y về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Trần Thị T1 và một số công dân thôn
Y, xã H, huyện Y;
4. Hủy Quyết định số 503/QĐ-UBND ngày 06/5/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh
B về việc giải quyết khiếu nại lần hai của bà Trần Thị T1 một số công dân thôn Y,
xã H, huyện Y
5. Yêu cầu UBND huyện Y bồi thường hoa màu trên đất do cưỡng chế trái quy
định pháp luật với tổng số tiền là 68 triệu đồng.
2. Ý kiến của người bị kiện:
2.1. Tại văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, Chủ
tịch UBND tỉnh B trình bày:
Ngày 15/12/2020, Chủ tịch UBND huyện Y ban hành Quyết định số 14696/QÐ-
UBND về việc giải quyết đơn khiếu nại của Trần Thị T1 một số công dân thôn
Y, xã H, huyện Y, đã khẳng định bà Trần Thị T1 và một số công dân thôn Y khiếu nại
các quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải
phóng mặt bằng của UBND huyện Y khi UBND huyện Y quyết định thu hồi đất thực
hiện dự án đầu xây dựng Khu nhà đấu giá quyền sử dụng đất tại thôn Y, H
không có căn cứ.
Ngày 05/01/2021, UBND tỉnh B nhận được đơn khiếu nại ngày 04/01/2021 của
một số hộ dân thuộc tn Y, H, huyên Y về việc không đồng ý với Quyết định số
14696/QÐ-UBND của Chủ tịch UBND huyện Y về việc giải quyết đơn khiếu nại.
Ngày 28/01/2021, Chủ tịch UBND tỉnh B đã ban hành Quyết định số 134/QĐ-UBND
giao cho Sở T3 tiến hành xác minh làm nội dung khiếu nại của bà Trần Thị T1
một số công dân thôn Y, H, huyện Y, khiếu nại các Quyết định thu hồi đất của
UBND huyện Y đối với dự án Khu nhà ở đấu giá quyền sử dụng đất tại thôn Y, xã H.
Ngày 14/4/2021, Sở T3 Báo cáo số 76/BC-STNMT về kết quả xác minh đơn
của Trần Thị T1 một số công dân thôn Y, H, huyện Y. Trên sở đó, ngày
06/5/2021 Chủ tịch UBND tỉnh ban hành Quyết định số 503/QÐ-UBND vviệc giải
quyết khiếu nại của Trần Thị T1 một scông dân thôn Y, H, huyện Y, theo
đó kết luận:
- Đơn khiếu nại của Trần Thị T1 một số công dân thôn Y, H đối với
Quyết định số 14696/QĐ-UBND ngày 15/12/2020 của Chủ tịch UBND huyện Y về
việc giải quyết đơn khiếu nại của Trần Thị T1 và một số công dân thôn Y, xã H
không có căn cứ.
- Chủ tịch UBND huyện Y giải quyết đơn khiếu nại của Trần Thị T1 một
số công dân tn Y, H bản theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011
Thông số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 quy định quy trình giải quyết khiếu
nại hành chính. Tuy nhiên, thiếu sót về một số thủ tục hành chính như: không
thông báo việc thụ bằng văn bản đến người khiếu nại; không quyết định giao
nhiệm vụ xác minh nội dung khiếu nại theo quy định. Việc thiếu sót này UBND
huyện Y cần rút kinh nghiệm.
- Quyết định số 14696/QĐ-UBND ngày 15/12/2020 của Chủ tịch UBND huyện
Y về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Trần Thị T1 một số công dân thôn Y, xã
H, huyện Y là có căn cứ.
Chủ tịch UBND tỉnh B đã giữ nguyên nội dung Quyết định số 14696/QĐ-UBND
ngày 15/12/2020 của Chủ tịch UBND huyện Y về việc giải quyết đơn khiếu nại của
Trần Thị T1 và một số công dân của thôn Y, H, huyện Y. Nay ông Đỗ Đình V
yêu cầu hủy các Quyết định số 7440, Quyết định 7852, Quyết định 14696, Quyết định
503, Chủ tịch UBND tỉnh B không chấp nhận.
2.2. Người đại diện hợp pháp của UBND huyện Y Chủ tịch UBND huyện Y
trình bày:
a) Đối với yêu cầu hủy Quyết định của UBND huyện Y về việc thu hồi đất để
thực hiện dư án đầu tư xây dựng khu nhà ở đấu giá quyền sử dụng đất tại H, huyện
Y:
Dự án đầu xây dựng khu nhà đấu giá quyền sử dụng đất tại H dự án
Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo
điểm d khoản 3 Điều 62 Luật Đất đai năm 2013; khoản 3 Điều 32 Quyết định số
528/QÐ-UBND ngày 22/12/2014 của UBND tỉnh B; Quyết định số 31/2019/QÐ-
UBND ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh B về việc ban hành Bảng giá các loại đất
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh (áp dụng từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2024)... Về
trình tự thủ tục lập hồ thu hồi đất, lập phương án bồi thường hỗ trợ Quyết định
thu hồi đất, Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB của UBND
huyện Y ban hành đúng thầm quyền, đúng trình tthủ tục, đúng quy định của pháp
luật đất đai hiện hành.
b) Đối với yêu cầu hủy Quyết định số 7852/QÐ-UBND ngày 17/11/2021 của
Chủ tịch UBND huyện Y về việc cưỡng chế thu hồi đất:
Hội đồng bồi thường GPMB phối hợp với UBND H, các ban ngành đoàn thể
địa phương tổ chức nhiều cuộc vận động, đối thoại trực tiếp với nhân dân nhưng
một shộ không đồng ý. Ngày 09/11/2021, UBND tỉnh B ban hành Văn bản số 734
về việc đồng ý cho UBND huyện Y tổ chức cưỡng chế thu hồi đất để thực hiện dự án
ĐTXD khu nhà đấu giá quyền sử dụng đất tạo vốn H, huyện Y. Như vậy, việc
Chủ tịch UBND huyện Y ban hành Quyết định số 7852/QÐ-UBND ngày 17/11/2021
là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
c) Đối với yêu cầu hủy Quyết định số 14696/QÐ-UBND ngày 15/12/2020 của
Chủ tịch UBND huyện Y về việc giải quyết đơn khiếu nại của Trần Thị T1 một
số công dân thôn Y, xã H, huyện Y:
Sau khi nhận được đơn khiếu nại của Trần Thị T1 một số công dân xã H,
UBND huyện Y đã thực hiện giải quyết như sau:
Ngày 17/02/2020, Chủ tịch UBND huyện Y ban hành Văn bản số 186/UBND-
NC giao Phòng T4 xem xét, tham mưu giải quyết đơn của Trần Thị T1 một số
công dân thôn Y, xã H.
Ngày 23/11/2020, Phòng T4 tổ chức buổi đối thoại với công dân đxác minh
làm rõ nội dung đơn của các công dân.
Ngày 15/12/2020, Phòng T4 ban hành Báo cáo số 49/BC-TNMT. Trên sở đó,
Chủ tịch UBND huyện Y ban hành Quyết định số 14696/QÐ-UBND về việc giải
quyết đơn khiếu nại của bà Trần Thị T1 một số công dân thôn Y, xã H.
Như vậy, việc Chủ tịch UBND huyện Y ban hành Quyết định số 14696/QD-
UBND về việc giải quyết đơn khiếu nại của Trần Thị T1 một số công dân thôn
Y, xã H là đảm bảo theo quy định của pháp luật.
d) Về Yêu cầu bồi thường thiệt hại hoa màu trên đất của người khởi kiện:
Ngày 17/11/2021, Chủ tịch UBND huyện Y ban hành Quyết định số 7852/QÐ-
UBND về việc cưỡng chế thu hồi đất nông nghiệp. Sau đó thực hiện các thủ tục gi
quyết định, tuyên truyền vận động đến từng hộ, niêm yết công khai thường xuyên
thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng tại địa phương.
Ngày 21/12/2021, UBND H thực hiện cưỡng chế thu hồi đất trên thực địa
theo hình thức san ủi mặt bằng hiện trạng đối với các thửa ruộng các hộ gia đình
không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ.
Sau khi cưỡng chế, các hộ đơn tố cáo gửi Công an huyện Y đối với việc hủy
hoại hoa màu, cây trồng trên đất được Công an huyện Y giải quyết như sau: Ngày
24/02/2022, Công an huyện Y ban hành Văn bản số 203/TB-CAYP thông báo kết quả
giải quyết tố cáo (bà Trần Thị T1 một số công dân thôn Y, xã H); ngày 17/4/2022,
Công an huyện Y ban hành Văn bản số 499/TL-CAH trả lời đơn của công dân (bà
Trần Thị T1 thôn Y, H) đều nội dung xác định việc thực hiện cưỡng chế đảm
bảo công khai, minh bạch đúng theo quy định của pháp luật, yêu cầu của các hộ được
bồi thường thiệt hại về hoa màu, cây trồng trên đất khi cưỡng chế là không có cơ sở.
Từ những căn cứ trên, người đại diện hợp pháp của Chủ tịch UBND huyện Y
vẫn ginguyên các quyết định hành chính đã ban hành, đề nghị Tòa án bác toàn bộ
yêu cầu của người khởi kiện.
3. Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND xã H:
Dự án đầu xây dựng khu nhà đấu giá quyền sử dụng đất tại H dự án
Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - hội vì lợi ích quốc gia, công cộng theo
điểm d khoản 3 Điều 62 Luật đất đai; được Hội đồng nhân dân tỉnh B phê duyệt theo
Nghị quyết số 90/NQ-HĐND ngày 08/12/2017; Nghị quyết số 123 ngày 18/7/2018 và
Nghị quyết số 191 ngày 11/7/2019. UBND H được UBND tỉnh B giao làm Chủ
đầu tư dự án này.
Ngày 20/9/2019, UBND huyện Y ban nh Quyết định thu hồi đất từ số 7382
đến số 7539 đến tng hộ gia đình, nhân đất bị thu hồi ban hành Quyết định
số 7540 phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện
dự án đầu tư xây dựng khu nhà ở đấu giá quyền sử dụng đất tại H, vị trí tại thôn Y,
H, huyện Y, diện tích đất nông nghiệp bồi thường hỗ trợ 5,79 ha, kinh phí bồi
thường hỗ trợ 26,17 tỷ đồng.
Quá trình thực hiện dán, UBND H đã phối hợp với Hội đồng BTGPMB
huyện Y các đơn vị liên quan thực hiện các trình tự, thủ tục thu hồi đất; bồi
thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng khi thu hồi đất để thực hiện dự án đảm bảo đúng
quy định pháp luật. Tuy nhiên, hộ gia đình ông V một trong những hộ không đồng
ý chủ trương thu hồi đất, phương án bồi thường hỗ trợ và không nhận tiền bồi thường
(hiện số tiền các hộ không nhận đã được chuyển vào Kho bạc nnước). Dự án này
đã tổ chức thu hồi đất cưỡng chế thu hồi đất xong nhưng chưa tổ chức đấu giá.
UBND xã H đề nghị Tòa án không chấp nhận đơn khởi kiện của ông Đỗ Đình V.
4. Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 17/2023/HC-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023,
Toà án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã quyết định:
Căn cứ Điều 62, Điều 66, Điều 69 Luật đất đai 2013; Điều 18, Điều 29, Điều 30,
Điều 31 Luật khiếu nại 2011; Luật tổ chức chính quyền địa phương; Nghị định số
47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định
khi Nhà nước thu hồi đất;
Tuyên xử: Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Đình V gồm:
- Bác yêu cầu hủy Quyết định số 7422/QĐ-UBND Quyết định số 7423/QĐ-
UBND cùng ngày 20/9/2019 của UBND huyện Y về việc thu hồi đất để thực hiện Dự
án đầu tư xây dựng khu nhà ở đấu giá quyền sử dụng đất tại xã H, huyện Y;
- Bác yêu cầu hủy Quyết định số 7852/QĐ-UBND ngày 17/11/2021 của Chủ
tịch UBND huyện Y về việc cưỡng chế thu hồi đất để thực hiện Dự án đầu xây
dựng khu nhà ở đấu giá quyền sử dụng đất tại xã H, huyện Y;
- Bác yêu cầu hủy Quyết định số 14696/-UBND ngày 15/12/2020 của Ch
tịch UBND huyện Y về việc giải quyết đơn khiếu nại của Trần Thị T1 một số
công dân thôn Y, xã H, huyện Y;
- Bác yêu cầu hủy Quyết định số 503/QĐ-UBND ngày 06/5/2021 của Chủ tịch
UBND tỉnh B về việc giải quyết khiếu ni lần hai của Trần Thị T1 một số công
dân thôn Yên Vĩ, xã Hòa Tiến, huyện Yên Phong
- Bác yêu cầu bồi thường hoa màu trên đất với tổng số tiền là 68 triệu đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp thẩm còn tuyên miễn án phí hành chính sơ thẩm, án phí
đối với yêu cầu bồi thường của ông Đỗ Đình V phổ biến quyền kháng cáo cho các
đương sự theo quy định.
5. Kháng cáo: Ngày 10/7/2023, ông Đỗ Đình V đơn kháng cáo đối với toàn
bộ bản án hành chính thẩm; ngày 23/8/2023, ông V có đơn kháng cáo bổ sung yêu
cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ Bản án thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu
khởi kiện của ông.
6. Tại phiên tòa phúc thẩm:
6.1. Người bảo vquyền lợi ích hợp pháp của ông Đỗ Đình V là Luật
Nguyễn Thị Kim T phát biểu ý kiến đánh giá các tình tiết của vụ án, đưa ra các căn cứ
pháp luật, từ đó quan điểm cho rằng những nội dung ông Đỗ Đình V đã trình bày
tại đơn kháng cáo căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật; đề nghị Hội
đồng xét xử phúc thẩm xem xét chấp nhận kháng o của ông Đỗ Đình V, sửa Bản án
sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Đình V.
6.3. Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao ti Nội tham gia
phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá
trình giải quyết vụ án hành chính ở giai đoạn phúc thẩm:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng đã
thực hiện đầy đủ, đúng các thủ tục theo quy định của Luật Tố tụng hành chính; những
người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vtheo quy định của
pháp luật. Tòa án cấp phúc thẩm đã triu tập đầy đủ, hợp lệ những người tham gia tố
tụng đến phiên tòa nhưng người khởi kiện kháng cáo ông Đỗ Đình V phía
người bị kiện có đơn xin xét xử vắng mặt; một số người quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đã được triệu tp hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, việc Hội đồng
xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định tại Điều 225 Luật Tố
tụng Hành chính.
Về nội dung: Tòa án cấp thẩm đã thu thập, xem xét đánh giá đầy đủ các
chứng cứ, tài liệu, lời trình bày của các bên đương sự để xem xét tính hợp pháp của
các quyết định hành chính bị khởi kiện và yêu cầu về bồi thường thiệt hại. Trên cơ sở
đó, đã quyết định bác toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện ông Đỗ Đình V căn
cứ, đúng quy định của pháp luật. Ông V kháng cáo toàn bbản án thẩm nhưng
những ý kiến của ông V tại đơn kháng cáo, đơn kháng cáo bổ sung cũng như ý kiến
của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của ông V phát biểu tại phiên tòa phúc
thẩm không đủ cơ sở để chứng minh được nội dung kháng cáo là có căn cứ pháp luật.
vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành
chính, bác đơn kháng cáo của ông Đỗ Đình V và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Trên sở các chứng cứ, tài liệu trong hồ vụ án được thẩm định tại phiên
tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên và nghị án,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tại Đơn kháng cáo đ ngày 10/7/2023 đơn kháng cáo bổ sung đề ngày
23/8/2023, ông Đỗ Đình V cho rằng việc UBND huyện Y ban hành quyết định thu hồi
đất của ông trái quy định của pháp luật về căn cứ thu hồi đất; vi phạm nhiều trình
tự, thủ tục trong quá trình thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ; tổ
chức cưỡng chế thu hồi đất ti pháp luật sai phạm trong việc bồi thường thiệt
hại hoa màu, tài sản trên đất bị thu hồi của gia đình ông.
Xét những nội dung kháng cáo của ông Đỗ Đình V ý kiến của người bo v
quyền và lợi ích hợp pháp của ông V phát biểu tại phiên tòa thì thấy:
[1] Về căn cứ thu hồi đất:
[1.1] Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Ngày 08/12/2017, Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Bắc Ninh ban hành Nghị
quyết số 90/NQ-HĐND “V/v Phê duyệt danh mục các dự án chuyển mục đích sử
dụng đất trồng lúa dưới 10ha, đất rừng dưới 20ha; dự án thu hồi đất để phát triển kinh
tế - hội vì lợi ích quốc gia, công cộng năm 2018 trên địa bàn tỉnh”. Theo bảng Phụ
lục đính kèm Nghị quyết thể hiện tại số thứ t102 dự án: “Khu nhà đấu giá
QSDĐ tạo vốn xã H; tổng diện tích 9,6ha đất sử dụng vào trồng lúa; đăng ký mới”.
Ngày 18/7/2018, HĐND tỉnh B ban hành Nghị quyết số 123/NQ-HĐND “V/v
Phê duyệt danh mục bổ sung các dự án chuyển mục đích sử dụng dưới 10ha đất trồng
lúa; dự án thu hồi đt để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng năm
2018 trên địa bàn tỉnh”. Theo bảng Phụ lục đính kèm Nghị quyết thể hiện tại số thứ tự
140 dán: “Xây dựng khu nhà đấu giá quyền sử dụng đất tạo vốn xây dựng hạ
tầng xã H; tổng diện tích 8,5 ha đất sử dụng vào trồng lúa; đăng ký mới”.
Ngày 11/9/2018, Chủ tịch UBND tỉnh B Văn bản s 3493/UBND-XDCB
“V/v giới thiệu địa điểm lập quy hoạch, dự án ĐTXD khu nhà ở đấu giá QSDĐ xã H,
huyện Y” có nội dung: “Đồng ý giới thiệu địa điểm các khu đất tại tn Y, YY, xã
H, huyện Y, tổng diện tích 03 khu đất khoảng 9,6ha (có đvị trí các khu đất kèm
theo) cho UBND xã H lập quy hoạch, dự án đầu tư xây dựng khu nhà ở đấu giá quyền
sử dụng đất. Việc lập quy hoạch, dự án trình thẩm định phê duyệt theo đúng quy
trình, quy định hiện hành. UBND huyện Y bsung các khu đất nêu trên vào điều
chỉnh Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 của huyện và Kế hoạch sử dụng đất hàng
năm trình cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định”.
Ngày 24/10/2018, UBND huyện Y ban hành các văn bản: Quyết định số
8271/QĐ-UBND về việc thành lập Hội đồng bồi thường, hỗ trợ GPMB (Hội đồng
BTHTGPMB) Tổ công tác giúp việc khi Nhà nước thu hồi đất, giao đất thực hiện
dự án đầu xây dựng Khu nhà đấu giá QSDĐ tại H, huyện Y; Kế hoạch số
1622/KH-UBND về kế hoạch thu hồi đất thực hiện dự án; Thông báo số 111/TB-
UBND về việc thu hồi đất thực hiện dự án.
Ngày 31/10/2018, Hội đồng bồi thường, hỗ trợ GPMB huyện tổ chức họp triển
khai đến các thành viên Tổ công tác giúp việc Hội đồng BTHTGPMB huyện; đã
giao cho UBND H niêm yết công khai Thông báo số 111/TB-UBND về việc thu
hồi đất thực hiện dự án tại trụ sở UBND xã H và nhà văn hóa thôn Y, đồng thời thông
báo trên phương tiện thông tin đại chúng của địa phương để các hộ gia đình đất
nông nghiệp thu hồi được biết.
Ngày 31/01/2019, UBND huyện Y ban hành Quyết định số 1542/QĐ-UBND
“V/v phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết Khu nhà ở đấu giá QSDĐ tại xã H, huyện Y”.
Ngày 01/02/2019, Sở T3 duyệt Trích đo bản đồ địa chính (hiện trạng) khu đất số
15/TĐBĐ.
Ngày 05/5/2019, UBND H đã tổ chức hội nghị tại thôn Y họp với các hộ dân
có đất thu hồi dự án Khu nhà ở đấu giá quyền sử dụng đất thôn Y để thông báo về chủ
trương thu hồi đất thực hiện dự án.
Ngày 11/7/2019, HĐND tỉnh B tiếp tục ban hành Nghị quyết số 191/NQ-HĐND
“V/v Phê duyệt danh mục bổ sung các dự án chuyển mục đích sử dụng dưới 10ha đất
trồng lúa; dự án thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
năm 2019 trên địa bàn tỉnh”. Theo bảng Phụ lục đính kèm Nghị quyết thể hiện tại số
thứ tự 70 có: “Dự án ĐTXD khu nhà ở đấu giá QSD đất tại xã H; tổng diện tích 9,6ha
đất sử dụng vào trồng lúa; đăng ký mới”.
Ngày 20/9/2019, UBND huyện Y ban hành Quyết định thu hồi đt đối với từng
hộ gia đình, nhân có đt bị thu hồi; trong đó Quyết định số 7422/QĐ-UBND
Quyết định số 7423/QĐ-UBND “V/v: Thu hồi đất nông nghiệp của hông (bà): Đỗ
Đình V thực hiện dự án đầu tư xây dựng Khu nhà ở đấu giá QSDĐ tại xã H, huyện Y
đối với thửa đất số 58, tờ bản đồ số 01, diện tích 80,1m
2
tại xứ đồng “Mái Sau”
thửa đất số 106, tờ bản đồ s02, diện tích 451,4m
2
tại xđồng “Cây Xanh”, loại đất
thu hồi đều là “LUC”. Đồng thời ban hành Quyết định số 7540/QĐ-UBND “V/v: Phê
duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án ĐTXD
Khu nhà đấu giá QSDĐ tại H, huyện Y (đợt A). Vị trí: thôn Y, H, huyện Y
(trong đó, hộ ông Đỗ Đình V được bồi thường, hỗ trợ đối với thửa đất số 58 tổng số
tiền 35.163.900 đồng; đối với thửa đất số 106 tổng số tiền 198.164.600 đồng -
bút lục: 317A, 317E).
[1.2] Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác
định:
Việc UBND huyện Y ban hành các quyết định thu hồi đất của các hộ gia đình, cá
nhân để thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu nđể đấu giá quyền sử dụng đất tại
thôn Y, H, huyện Y đã được HĐND tỉnh B chấp thuận, thuộc trường hợp Nhà
nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - hội vì lợi ích quốc gia, công cộng quy định
tại điểm d khoản 3 Điều 62 Luật Đất đai 2013 và bảo đảm đầy đủ các căn cứ quy định
tại Điều 63 Luật Đất đai 2013. Tòa án cấp thẩm đã nhận định về nội dung này
chính xác.
Nội dung kháng cáo của ông Đỗ Đình V và ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của ông V phát biểu tại phiên tòa cho rằng: thay vì thu hồi đúng đủ
9,6ha đất nông nghiệp để thực hin dự án, trên thực tế UBND huyện Y đã chỉ đạo thu
hồi khoảng 11,49ha đất nông nghiệp chưa xem xét đầy đtính liên quan giữa các
Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh B ban hành vào các năm 2017, 2018, 2019
nêu trên; cũng như chưa xem xét kỹ nội dung bảng danh sách thu hồi đt (kèm theo
Thông báo số 111) đã thhiện chi tiết ngoài việc thu hồi đất nông nghiệp (LUC) của
các hộ gia đình nhân thì UBND huyện Y còn quyết định thu hồi các loại đất khác
(DCH, DGT, NTD, GTL, BHK) do UBND xã H một số hộ gia đình, cá nhân quản
lý, sử dụng. Do đó, kháng cáo của ông V đối với nội dung căn cứ thu hồi đất là không
có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về trình tự, thủ tục thu hồi đất; phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi
thu hồi đất:
Quá trình triển khai thực hiện dự án, được sự ủy quyền của UBND tỉnh B tại
Quyết định số 528/QĐ-UBND ngày 22/12/2014, UBND huyện Y đã ban hành: Quyết
định thành lập Hội đồng BTHTGPMB và Tổ công tác giúp việc khi Nhà nước thu hồi
đất, giao đất thực hiện dự án đầu xây dựng Khu nhà đấu giá QSDĐ tại H,
huyện Y; Kế hoạch thu hồi đất thực hiện dự án; Thông báo thu hồi đất... Đồng thời,
giao nhiệm vụ cho Hội đồng BTHTGPMB huyện phối hợp với UBND H niêm yết
Thông báo thu hồi đất, công khai Thông báo này trên phương tiện thông tin đại chúng
của địa phương, tổ chức hội nghị họp với các hộ dân đất thu hồi để thông báo về
chủ trương thu hồi đất thực hiện dự án.
Sau khi triển khai về chủ trương thực hiện dự án, Tổ công tác giúp việc Hội đồng
BTHTGPMB triển khai nhiệm vụ lập hồ sơ thu hồi đất, phát tờ khai sử dụng đất đến
hộ gia đình, nhân đất thu hồi; tiến hành kiểm tra thực địa, soát trên hồ địa
chính, hquản đất đai, việc thu thuế dịch vụ nông nghiệp tại địa phương để
lập hồ thu hồi đất, dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ GPMB. Ngày 16/6/2019,
tổ chức hội nghị họp các hộ dân có đất thu hồi để công bố, lấy ý kiến và công khai dự
thảo phương án bồi thường, hỗ trợ; giải thích về chế độ bồi thường, hỗ trợ theo quy
định hiện hành. Từ ngày 20/6/2019 đến ngày 10/7/2019, Hội đồng BTHTGPMB thực
hiện công khai dự thảo phương án bồi thường hỗ trợ, niêm yết công khai tại trụ sở
UBND xã H, Nhà văn hóa thôn Y và được thông báo rộng rãi trên hệ thống đài truyền
thanh của địa phương.
Trên sở tổng hợp các ý kiến trong thời gian công khai dự thảo phương án bồi
thường, hỗ trợ GPMB tchức họp đối thoại với các hộ dân đất thu hồi, ngày
28/8/2019 Phòng T4 chủ trì, phối hợp với Phòng Tài chính kế hoạch, Kinh tế Hạ
tầng, Chi cục Thuế khu vực T - Y, UBND xã H, lãnh đạo thôn Y thực hiện việc thẩm
định, hoàn thiện hồ thu hồi đất, phương án bồi thường, hỗ trợ. Trên sở đó,
UBND huyện Y ban hành Quyết định thu hồi đt Quyết định phê duyệt phương án
bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất giao đến từng hộ dân theo quy định.
Với những nội dung phân tích trên, Hội đồng xét xđủ sxác định:
UBND huyện Y đã triển khai thực hiện việc thu hồi đất đối với hộ ông Đỗ Đình V
bảo đảm đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ theo quy định tại các Điều 66,
67, 68, 69 của Luật Đất đai 2013. Đối với việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ
trợ: đối chiếu các khoản tiền bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất của hộ ông Đỗ Đình V
tại “Biểu thống diện tích, loại đất thu hồi, hồi thường hỗ trợ…” kèm theo Quyết
định số 7540/QĐ-UBND ngày 20/9/2019 của UBND huyện Y tthấy UBND huyện
Y đã áp dụng đúng đầy đủ mức bồi thường, hỗ trợ đối với từng khoản bồi thường,
hỗ trợ theo quy định tại Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ, Quyết định số
528/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 Quyết định số 552/2014/QĐ-UBND ngày
29/12/2014 của UBND tỉnh B.
Khi giải quyết vụ án này, do sự nhầm lẫn với việc UBND huyện Y phê duyệt
phương án bồi thường đt 2 (ngày 08/6/2020) nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng văn
bản pháp luật chưa được ban hành vào thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ
trợ (Quyết định số 31/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh B) là thiếu
chính xác. Tuy vậy, đã đánh giá quyết định thu hồi đt quyết định phê duyệt
phương án bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đã được UBND huyện Y ban
hành đúng pháp luật; từ đó, đã quyết định bác yêu cầu khởi kiện của ông V về việc
hủy Quyết định số 7422/QĐ-UBND Quyết định số 7423/QĐ-UBND cùng ngày
20/9/2019 của UBND huyện Y do không căn cứ pháp luật đúng quy định tại
điểm a khoản 2 Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính.
Ông Đỗ Đình V kháng cáo cho rằng UBND huyện Y vi phạm nhiều trình tự, thủ
tục trong quá trình thu hồi đất phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi
đất, t đó yêu cầu hủy Quyết định số 7422/QĐ-UBND Quyết định số 7423/QĐ-
UBND cùng ngày 20/9/2019 của UBND huyện Y. Tuy nhiên, những ý kiến ông V
trình bày trong đơn kháng cáo, đơn kháng cáo bổ sung những ý kiến của Luật
bảo vquyền lợi ích hợp pháp của ông V phát biểu tại phiên tòa phúc thẩm
không đủ sở chứng minh yêu cầu hủy Quyết định số 7422/QĐ-UBND Quyết
định số 7423/QĐ-UBND là n cứ pháp luật; ngoài ra, ông V không đưa ra được
tài liệu, chứng cứ nào mới nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận.
[3] Về việc tổ chức cưỡng chế thu hồi đất yêu cầu bồi thường thiệt hại hoa
màu, tài sản trên đất thu hồi:
Hồ sơ vụ án thể hiện: Sau khi nhận quyết định thu hồi đất quyết định phê
duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, gia đình ông V một
số hộ gia đình khác đã được vận động nhiều lần nhưng vẫn không nhận tiền bồi
thường, hỗ trợ, không bàn giao mặt bằng thực hiện dự án nên UBND huyện Y đã
văn bản báo cáo sự việc đã được UBND tỉnh B văn bản đồng ý cho UBND
huyện yên P tổ chức cưỡng chế thu hồi đất. Theo đó, ngày 17/11/2021 Chủ tịch
UBND huyện Y đã ban hành Quyết định số 7852/QĐ-UBND V/v cưỡng chế thu hồi
đất nông nghiệp” đối với 54 hộ đang sử dụng đất (trong đó có hộ ông V) là đúng trình
tự, thủ tục, thẩm quyền đúng căn cứ pháp luật quy định tại các Điều 70, 71 Luật
Đất đai, Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ.
Thực hiện Điều 2 của Quyết định số 7852/QĐ-UBND, UBND H đã tiến hành
gửi Quyết định này đến các hộ dân, niêm yết công khai, thường xuyên thông báo trên
phương tiện thông tin đại chúng tại địa phương đã tổ chức tuyên truyền, vận động
đến từng hộ; đồng thời, đã ban hành Thông báo số 90/TB-UBND ngày 03/12/2021,
Thông báo số 98/TB-UBND ngày 03/12/2021, Thông báo số 105/TB-UBND ngày
14/12/2021 về việc dừng toàn bộ hoạt động sản xuất nông nghiệp, các hoạt động làm
thay đổi hiện trạng sử dụng trên phần diện tích đất đã có quyết định thu hồi nhưng các
hộ vẫn không nhận tiền hồi thường, hỗ trợ, bàn giao đất. Vì vậy, ngày 21/12/2021
UBND H đã thực hiện cưỡng chế thu hồi đất theo hình thức san ủi mặt bằng hiện
trạng đối với các thửa ruộng các hộ gia đình không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ. Sau
khi cưỡng chế, các hộ đơn tố cáo gửi Công an huyện Y về việc việc hủy hoại hoa
màu, cây trồng trên đất được Công an huyện Y giải quyết tại Văn bản số 203/TB-
CAYP ngày 24/2/2022, Văn bản số 499/TL-CAH ngày 27/4/2022 với nội dung kết
luận: Việc thực hiện cuỡng chế đảm bảo công khai, minh bạch đúng trình tự, thủ tục
theo quy định của pháp luật. Không có sự hủy hoại tài sản như công dân phản ánh, nội
dung đơn tố cáo của bà Nguyễn Thị T2 và một số công dân thôn Y, H là không
cơ sở.
Như vậy, Tòa án cấp thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông V về việc hủy
Quyết định số 7852/QĐ-UBND; theo đó, không chấp nhận yêu cầu bồi thường 68
triệu đồng của ông V là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.
[4] Về yêu cầu hủy các quyết định giải quyết khiếu nại:
[4.1] Đối với Quyết định số 14696/QĐ-UBND ngày 15/12/2020 của Ch tịch
UBND huyện Y V/v giải quyết đơn khiếu nại của Trần Thị T1 và một số công
dân thôn Y, xã H, huyện Y”:
Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết khiếu nại: Sau khi nhận được đơn
khiếu nại của Trần Thị T1 một số công dân xã H, ngày 17/02/2020 Chtịch
UBND huyện Y đã ban hành Văn bản số 186/UBND-NC giao Phòng T4 xem xét,
tham mưu giải quyết đơn của Trần Thị T1 một số công dân thôn Y, xã H. Ngày
23/11/2020, Phòng T4 tổ chức buổi đối thoại với công dân để làm nội dung đơn
khiếu nại của các công dân. Trên cơ sở kết quả đối thoại, xác minh nội dung khiếu nại
tại Báo cáo số 49/BC-TNMT ngày 15/12/2020 của Phòng T4, ngày 15/12/2020 Chủ
tịch UBND huyện Y ban hành Quyết định số 14696/QÐ-UBND vviệc giải quyết
đơn khiếu nại của Trần Thị T1 một scông dân thôn Y, xã H. Như vậy, trong
hồ sơ vụ án mặc dù không có thông báo việc thụ lý khiếu nại bằng văn bản đến người
khiếu ni, không quyết định giao nhiệm vụ xác minh nội dung khiếu nại theo quy
định; tuy nhiên, việc Chủ tịch UBND huyện Y ban hành Quyết định số 14696/QĐ-
UBND ngày 15/12/2020 về việc giải quyết đơn khiếu nại đã bảo đảm giải quyết
đúng các nội dung khiếu nại và bản đã bảo đảm đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền
quy định tại Điều 29 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật Khiếu nại
năm 2011, Luật Đất đai năm 2013, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của
Chính phủ Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính
phủ.
Về nội dung giải quyết khiếu nại: Như đã nhận định tại mục [1], [2] trên, việc
UBND huyện Y thu hồi đất nông nghiệp của gia đình ông V để thực hiện dự án Khu
nhà đấu giá QSD đất tại H, huyện Y đúng quy định của pháp luật. Do vậy, tại
Quyết định số 14696/QĐ-UBND ngày 15/12/2020, Chủ tịch UBND huyện Y đã quyết
định không chấp nhận nội dung khiếu nại của Trần Thị T1 một scông dân
thôn Y, xã H, huyện Y là đúng quy định pháp luật.
[4.2] Đối với Quyết định số 503/QĐ-UBND ngày 06/5/2021 của Chủ tịch
UBND tỉnh B “Về việc giải quyết đơn khiếu nại của Trần Thị T1 một số công
dân thôn Y, xã H, huyện Y (lần hai)”:
Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết khiếu nại: Ngày 04/01/2021, UBND
tỉnh B nhận được đơn khiếu nại của một số công dân thôn Y, H khiếu ni Quyết
định giải quyết khiếu ni số 14696/QĐ-UBND ngày 15/12/2020 của Chủ tịch UBND
huyện Y. Ngày 28/01/2021, Chủ tịch UBND tỉnh B ban hành thông báo về việc thụ lý
giải quyết khiếu nại quyết định giao nhiệm vụ xác minh nội dung đơn khiếu nại.
Trên cơ sở kết quả xác minh nội dung đơn khiếu nại tại Báo cáo số 76 ngày 14/4/2021
của Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh T3, ngày 06/5/2021 Chủ tịch UBND tỉnh B đã
ban hành Quyết định số 503/QĐ-UBND “Về việc giải quyết đơn khiếu nại của
Trần Thị T1 một số công dân thôn Y, H, huyện Y (lần hai)” đảm bảo đúng
trình tự, thủ tục quy định tại Điều 22 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm
2015, Luật Khiếu nại năm 2011, Nghị định số 75/2012/NĐ-CP của Chính phủ, Thông
số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 Thông số 02/2016/TT-TTCP ngày
20/10/2016 của Thanh tra Chính phủ.
Về nội dung giải quyết khiếu nại: Theo kết quả phân tích tại mục [3.1] trên đã
xác định Quyết định số 14696/QĐ-UBND ngày 15/12/2020 của Chủ tịch UBND
huyện Y được ban hành đúng quy định pháp luật. vậy, tại Quyết định số 503/QĐ-
UBND ngày 06/5/2021 Về việc giải quyết đơn khiếu nại của Trần Thị T1 một
số công dân thôn Y, H, huyện Y (lần hai)” Chủ tịch UBND tỉnh B đã quyết định
công nhận giữ nguyên Quyết định số 14696/QĐ-UBND ngày 15/12/2020 của Chủ
tịch UBND huyện Y là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
[5] Tổng hợp những nội dung phân tích trên ý kiến của Kiểm sát viên đại
diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Nội phát biểu tại phiên tòa, Hội đồng xét
xử có đủ căn cứ kết luận:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp thẩm đã thu thập, xem xét đánh giá
đầy đủ các chứng cứ, tài liệu, lời trình bày của các bên đương sự để xem xét tính hợp
pháp của các quyết định hành chính bị khởi kiện và yêu cầu về bồi thường thiệt hại.
Trên cơ sở đó, đã xác định những yêu cầu khởi kiện của ông V về việc hủy các quyết
định hành chính không căn cứ pháp luật nên đã quyết định bác toàn bộ yêu cầu
của người khởi kin ông Đỗ Đình V căn cứ, đúng quy định tại điểm a khon 2
Điều 193 của Luật Tố tụng hành chính.
Ông Đỗ Đình V kháng cáo toàn bộ bản án thẩm nhưng những ý kiến của ông
V tại đơn kháng cáo, đơn kháng cáo bổ sung cũng như ý kiến của nời bo vệ quyền
lợi ích hợp pháp của ông V phát biu tại phiên tòa phúc thẩm không đủ sở để
chứng minh được nội dung kháng cáo căn cứ pháp luật; ngoài ra, ông V không
giao nộp thêm được tài liệu, chứng cứ nào mới nên kháng cáo của ông Đỗ Đình V Hội
đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận.
[5] Các quyết định của bản án thẩm không kháng cáo, kháng nghị, Hội
đồng xét xkhông giải quyết, hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng
cáo, kháng nghị.
[6] Về án phí: Ông Đỗ Đình V kháng o không được chấp nhận nng
người cao tuổi nên được miễn không phải nộp án phí hành chính phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật Ttụng hành chính: Bác kháng cáo của
người khởi kiện ông Đỗ Đình V; giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính
thẩm số 17/2023/HC-ST ngày 27 tháng 6 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh Bắc
Ninh.
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 349 của Luật Tố tụng hành chính; điểm đ khoản 1
Điều 12, khoản 6 Điều 15 khoản 1 Điều 34 Nghị quyết số 326/2016/NQ-
UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội: Ông Đỗ Đình V
được miễn toàn bộ án phí hành chính phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 08 tháng 01
năm 2024).
Nơi nhận:
Tòa án nhân dân tối cao;
VKSND cấp cao tại Hà Nội;
TAND tỉnh Bắc Ninh;
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
VKSND tỉnh Bắc Ninh;
Cục THADS tỉnh Bắc Ninh;
Các đương sự;
Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Xuân Điền
Tải về
Bản án số 18/2024/HC-PT Bản án số 18/2024/HC-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án số 18/2024/HC-PT Bản án số 18/2024/HC-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất