Bản án số 18/2021/HS-ST ngày 13/04/2021 của TAND huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng tội danh
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 18/2021/HS-ST
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 18/2021/HS-ST
| Tên Bản án: | Bản án số 18/2021/HS-ST ngày 13/04/2021 của TAND huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang về tội tàng trữ trái phép chất ma túy |
|---|---|
| Tội danh: | 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND huyện Yên Sơn (TAND tỉnh Tuyên Quang) |
| Số hiệu: | 18/2021/HS-ST |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 13/04/2021 |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ án: |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN YÊN SƠN
TỈNH TUYÊN QUANG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 18/2021/HS-ST
Ngày: 13 - 4 - 2021
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
--------------
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hà Thị Vinh;
2. Ông Phạm Văn Ninh.
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thuý Nga - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tham
gia phiên tòa: Ông Phạm Trung Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh
Tuyên Quang mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:
17/2021/TLST-HS, ngày 16 tháng 3 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số 18/2021/QĐXXST-HS, ngày 30/3/2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Khương Đức L, sinh ngày 21/10/1978 tại tỉnh Tuyên Quang;
Trú tại: thôn ĐC, xã TH, huyện HY, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do;
quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Không;
con ông Khương Đức K (đã chết) và con bà Đoàn Thị N (đã chết); vợ: Đặng Thị
L, sinh năm 1980; con: có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2016.
- Tiền án: Không.
- Tiền sự: Quyết định số 44/QĐ - UBND ngày 24/4/2018 của Ủy ban nhân
dân xã TH, huyện HY, tỉnh Tuyên Quang áp dụng biện pháp giáo dục tại xã trong
thời hạn 03 tháng kể từ ngày 24/4/2018 đến ngày 24/7/2018 về hành vi sử dụng trái
phép chất ma túy (trong thời gian chấp hành, đến ngày 16/7/2018 tiếp tục sử dụng
trái phép chất ma túy);
Quyết định số 05/QĐ-TA ngày 12/9/2018 của Tòa án nhân dân huyện HY áp
dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn
18 tháng kể từ ngày 12/9/2018, ngày 04/10/2019 đã chấp hành xong.
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1318 ngày 02/11/2020 của Trưởng
Công an thành phố TQ xử phạt Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
2
- Nhân thân: Bản án hình sự số 03/2021/HS-ST ngày 22/01/2021 của Tòa án
nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang xử phạt Khương Đức L 01 năm
06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2020. Hiện đang bị tạm giam
tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang; có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 22/12/2020 Khương Đức L, sinh năm 1978, trú
tại thôn ĐC, xã TH, huyện HY, tỉnh Tuyên Quang đi bộ ra Quốc lộ 2 bắt xe buýt đi
đến khu vực xã Trung Môn, huyện Yên Sơn tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến
Km8 Quốc lộ 2 thuộc thôn 9, xã Trung Môn, huyện Yên Sơn thì L xuống xe đi bộ
hướng xuôi về thành phố Tuyên Quang tìm người để mua ma túy, đi được một đoạn
L gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể), L hỏi
mua ma túy và đưa cho người đàn ông 400.000 đồng, người đàn ông đồng ý và đưa
cho L 02 gói nhỏ được gói bên ngoài bằng giấy trắng có dòng kẻ bên trong cả hai gói
nhỏ đều chứa chất bột vón cục màu trắng ngà. L xác định là ma túy và cầm vào lòng
bàn tay đi bộ quay lại điểm xe buýt để đón xe đi về. Khi đang đi bộ tại đoạn Km8
Quốc lộ 2 thuộc thôn 9, xã Trung Môn, huyện Yên Sơn thì bị Tổ công tác Công an
huyện Yên Sơn yêu cầu dừng lại để kiểm tra vì nghi L có liên quan đến ma túy, L tự
nguyện giao nộp 02 gói nhỏ được gói bên ngoài bằng giấy trắng có dòng kẻ bên trong
cả hai gói đều chứa chất bột vón cục màu trắng ngà, L khai nhận là ma túy mua về
để sử dụng. Tổ công tác đã đưa L cùng tang vật về Công an xã Trung Môn, huyện
Yên Sơn, mời người chứng kiến và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với
Khương Đức L vào hồi 15 giờ 00 ngày 22/12/2020. Kết quả xét nghiệm tìm chất ma
túy đối với Khương Đức L (+) dương tính, có chất ma túy trong cơ thể, L khai nhận
đã sử dụng ma túy ngày 20/12/2020 mua của một người đàn ông không rõ họ tên,
địa chỉ tại khu vực Cổng trường Đại học Tân Trào thuộc thôn 5, xã Trung Môn,
huyện Yên Sơn.
Tại kết luận giám định số 45/GĐKTHS ngày 25/12/2020 của Phòng Kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận (đối với vật chứng thu giữ của Khương
Đức L): mẫu vật gửi giám định là chất ma túy loại Heroine (Hêrôin); khối lượng
0,243g (không phẩy hai bốn ba gam).
Trên cơ sở hành vi của bị cáo, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn đã ban
hành Cáo trạng số: 17/CT-VKSYS, ngày 15 tháng 3 năm 2021 truy tố bị cáo Khương
Đức L có lý lịch nêu trên về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại
điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan
điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội
đồng xét xử:
* Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều
38 Bộ luật hình sự:

3
- Tuyên bố bị cáo Khương Đức L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Khương Đức L từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một)
năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm 05 (năm) tháng 27 (hai
mươi bảy) ngày tù của bản án số 03/2021/HSST, ngày 22/01/2021 của Toà án nhân dân
thành phố Tuyên Quang. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản
án từ 02 (hai) năm 08 (tám) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày đến 02 (hai) năm 11 (mười
một) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị
cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 22/12/2020.
* Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy số Hêrôin đã thu giữ của bị cáo.
* Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH
14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để quyết định về án phí; áp dụng
các Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự để tuyên quyền kháng cáo đối với bị
cáo.
Bị cáo không tranh luận với bản luận tội của Kiểm sát viên, nói lời sau cùng
bị cáo xin Hội đồng xét xử cho được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi của bị cáo:
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong
quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng đã thu
giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để kết luận:
Hồi 15 giờ 00 ngày 22/12/2020, tại thôn 9, xã Trung Môn, huyện Yên Sơn,
tỉnh Tuyên Quang, Khương Đức L, sinh năm 1978, trú tại thôn ĐC, xã TH, huyện
HY, tỉnh Tuyên Quang đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,243g (không phẩy hai bốn
ba gam) Heroine, mục đích để sử dụng.
Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng
trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý và hành vi tàng trữ chất ma tuý bị
pháp luật nghiêm cấm và trừng trị nghiêm, trước đó năm 2018 bị cáo bị Tòa án nhân
dân huyện HY áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất
ma tuý, Uỷ ban nhân dân xã TH, huyện HY áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa
vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, năm 2020 bị Công an thành phố Tuyên Quang xử phạt
Cảnh cáo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Nhưng do nhu cầu nghiện của
bản thân, bị cáo lại tiếp tục tàng trữ trái phép 0,243g (không phẩy hai bốn ba gam)
Hêrôin mục đích để sử dụng. Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng,
xâm phạm đến việc độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây tác hại cho
sức khoẻ, phẩm giá con người, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội,
là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Do vậy cần phải xử phạt bị cáo

4
mức hình phạt tù nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội để răn đe, giáo dục bị
cáo và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.
Hội đồng xét xử xét thấy, tại bản án số 03/2021/HSST, ngày 22 tháng 01 năm
2021 của Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang xét xử bị cáo 01 năm 06 tháng tù
về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, được trừ 03 ngày tạm giữ (từ 21/10/2020 đến
23/10/2020), bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 05 (năm) tháng 27 (hai mươi
bảy) ngày tù. Nay bản án đã có hiệu lực pháp luật, do vậy Hội đồng xét xử cần áp Điều
56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt chung cho cả hai bản án là phù hợp.
[2]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử xét
thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng; bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách
nhiệm hình sự đó là: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo khai báo thành khẩn
đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều
51 của Bộ luật hình sự.
[3]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có tài sản
riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4]. Về xử lý vật chứng: Đối với 0,243g (không phẩy hai bốn ba gam) Hêrôin
thu giữ của bị cáo, đã đem đi giám định một phần, số còn lại cần tịch thu tiêu hủy.
[5]. Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo
quy định của pháp luật.
[6]. Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Yên
Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, Kiểm sát viên trong quá
trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định
của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý
kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Khương Đức L, ngày
25/12/2020, Trưởng Công an huyện Yên Sơn đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành
chính số 331/QĐ-XPVPHC, hình thức phạt: Cảnh cáo;
Đối với những người bán Heroine cho L tại khu vực cổng trường Đại Học Tân
Trào thuộc thôn 5, xã Trung Môn, huyện Yên Sơn ngày 20/12/2020 và tại thôn 9, xã
Trung Môn, huyện Yên Sơn, do không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ
để điều tra làm rõ trong vụ án;
Nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều
38 Bộ luật hình sự:
- Tuyên bố bị cáo Khương Đức L phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Khương Đức L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với
hình phạt 01 (một) năm 05 (năm) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù của bản án số
5
03/2021/HSST, ngày 22/01/2021 của Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang. Buộc
bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 02 (hai) năm 11 (mười
một) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày
bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 22/12/2020.
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì còn nguyên vẹn các mép dán kín, bên
ngoài mặt trước phong bì niêm phong ghi chữ “ Tang vật vụ: Khương Đức L giám
định ngày 22/12/2020” mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Khương
Đức L thành phần tham gia niêm phong và 05 (năm) hình dấu của phòng Kỹ thuật
hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện
Yên Sơn với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Sơn ngày 24/3/2021).
3. Căn cứ: Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Các
Điều 331, 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Bị cáo Khương Đức L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí
hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Tuyên Quang; Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND tỉnh Tuyên Quang;
- VKSND huyện Yên Sơn;
- Bị cáo; Người tham gia TT;
- CQCSĐT Công an huyện Yên Sơn;
- Chi cục THADS huyện Yên Sơn;
- Sở Tư pháp Tuyên Quang;
- Hồ sơ vụ án hình sự; Nguyễn Xuân Thuỷ
- Thi hành án hình sự;
- Lưu.
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 03/04/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
2
Ban hành: 29/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
3
Ban hành: 29/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
4
Ban hành: 22/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
5
Ban hành: 15/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
6
Ban hành: 14/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
7
Ban hành: 08/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
8
Ban hành: 07/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
9
Ban hành: 07/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
10
Ban hành: 05/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
11
Ban hành: 04/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
12
Ban hành: 01/03/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
13
Ban hành: 23/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
14
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
15
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
16
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
17
Ban hành: 06/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
18
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
19
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm
20
Ban hành: 05/02/2024
Cấp xét xử: Sơ thẩm