Bản án số 18/2018/HS-ST ngày 27/04/2018 của TAND huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 18/2018/HS-ST

Tên Bản án: Bản án số 18/2018/HS-ST ngày 27/04/2018 của TAND huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Tội danh:
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Yên Dũng (TAND tỉnh Bắc Giang)
Số hiệu: 18/2018/HS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 27/04/2018
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án:
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
Toµ ¸n nh©n d©n
HuyÖn Yªn Dòng
TỈNH BẮC GIANG
B¶n ¸n sè:18/2018/HS-ST
Ngµy 27/4/2018
Céng hoµ x· héi chñ nghÜa ViÖt nam
§éc lËp - Tù do - H¹nh phóc
NH©n danh
n-íc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam
toµ ¸n nh©n d©n huyÖn Yªn dòng
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Tân Thịnh;
Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Thị Thu Huyền và ông Nguyễn Hải Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bàơng Th Nhẫn thư kýa án nnn huyn Yên Dũng,
tỉnh Bc Giang;
- Đi din Vin kiểm sát nhân n huyện n ng, tnh Bc Giang tham gia phiên
tòa: Bà Nguyn ThQuỳnh Mai - Kim t vn.
Ngày 27 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng xét x
thẩm công khai vụ án hình sự thẩm th số: 13/2018/TLST-HS ngày 08
tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa ván ra xét xử số: 20/2018/QĐXXST-HS
ngày 13 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H; Sinh năm 1990; Tên gọi khác: Không; STQ: Thôn Y, L,
huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 09/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông:
Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1961Thị M, sinh năm 1961; Có vợ: Trần Thị D,
sinh năm 1991 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012.
- Tin án, tin s: Không có.
B cáo đầu thú, b tm gi t ngày 20/12/2017 đến ngày 26/12/2017, hin ti ngoi
mặt tại phiên tòa.
- Người hại: Anh Lê Thế P, sinh năm 1994; (vắng mặt)
STQ: Thôn S, L, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Lương Đức Q, sinh năm 1986; (vắng mặt)
Trú tại: Thôn A, xã B, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang;
2. Bà Vũ Thị M, sinh năm 1961; (có mặt)
Trú tại: Thôn Y, xã L, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu trong hồ vụ án diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau :
Khoảng 16 giờ ngày 19/10/2017, Nguyễn Văn H đi đến quán nước Điền
thôn X, xã L, huyện Yên Dũng ngồi uống nước cùng anh Nguyễn Văn N, sinh năm
1994 cùng thôn anh Thế P. Khi mọi người đang uống nước thì H hỏi mượn
anh P chiếc xe mô tô màu vàng, nhãn hiệu Honda Lead BKS 98B2-500.98 để đi đón
bạn, anh P đồng ý và giao chiếc xe mô tô trên cho H, bên trong cốp xe có để 01 đăng
xe mang tên Trần Thị V. Sau khi ợn được xe, H điều khiển xe đi
đến khu công nghiệp Đình Trám thuộc huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang tìm gặp anh
Trần Văn C, sinh năm 1986 cùng thôn để trả nợ anh C 1.700.000 đồng, nhưng khi
đến nơi, H phát hiện số tiền mang đi trả nợ bị rơi mất, không tiền trả nợ anh C
nên H nảy sinh ý định cầm cố chiếc xe tô của anh P để lấy tiền trả nợ chi tiêu
nhân. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày H điều khiển xe tô 98B2-500.98 đi
đến quán cầm đồ Anh Q gặp chủ quán anh Lương Đức Q đặt vấn đề cầm cố chiếc
xe mô trên cho anh Q với số tiền 30.000.000 đồng, anh Q đồng ý H viết 01 hợp
đồng cầm đồ, H nhận, điểm chỉ vào hợp đồng cầm đồ để lại chiếc xe mô , 01
đăng xe mang tên Trần Thị V và 01 chứng minh nhân dân mang tên
Nguyễn Văn H. Sau đó, anh Q đưa cho H 30.000.000 đồng, số tiền này H trả nợ cho
anh C 1.700.000 đồng, số tiền còn lại H chi tiêu nhân hết bỏ trốn khỏi địa
phương.
Vật chứng của vụ án: Ngày 27/11/2017, anh Lương Đức Q giao nộp cho cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng chiếc xe mô H đã cầm cố; 01 hợp
đồng cầm đồ; 01 chứng minh thư nhân dân số 121761157 mang tên Nguyễn n H;
01 đăng ký xe mang tên Trần Thị V.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 02 ngày 30/11/2017 của Hội đồng định giá
tài sản trong tố tụng hình sự huyện n Dũng kết luận: 01 chiếc xe mô nhãn hiệu
Honda Lead, BKS 98B2-500.98 có giá trị là 27.876.000 đồng.
Ngày 20/12/2017, Nguyễn n H đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện
n Dũng đầu thú và khai nhận nh vi phạm tội.
Ngày 25/12/2017, quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng tiến
hành trưng cầu giám định chữ viết, chữ ký, đường vân trên bản “Hợp đồng cầm đồ”.
Tại bản kết luận giám định số 10 ngày 03/01/2018 của phòng Kỹ thuật hình sự công
an tỉnh Bắc Giang kết luận: chữ viết, chữ mang tên Nguyễn Văn H dấu vân tay
dưới mụcNgười có tài sản cầm đồ” là của Nguyễn Văn H.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Thế P sau khi nhận lại xe không yêu cầu H phải
bồi thường thêm; Thị M mẹ của H đã trả cho anh Q 30.000.000 đồng, M
không yêu cầu H trả số tiền 30.000.000đồng. Anh Q, bà M không có yêu cầu, đề nghị
về trách nhiệmn sự.
Tại quan điều tra, Nguyễn Văn H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội
của mình.
3
Với nội dung trên tại bản cáo trạng số: 14/CA-VKSYD ngày 05 tháng 3 năm
2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng đã truy tố Nguyễn Văn H về tội
“Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 140
Bộ luật hình sự năm 1999.
Qtrình điều tra tại Cơ quan điều tra tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn
bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trng đã truy tố đúng quy định
của pp lut.
Tại phiên tòa, đi diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng giữ quyền công tố
tại phiên tòa sau khi pn tích, đánh giá tính chất, mc độ nguy hiểm của hành vi phạm
tội mà bịo gây ra cho hội cùng c tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình
sự đề nghị Hội đồng t xử: Tuyên bố bị o Nguyễn Văn H phạm tội Lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 1 điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999
đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 140, điều 38, điểm i, s khoản 1,
khoản 2 điều 51, Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn n H từ 15 đến 18 tháng tù. Thời
hạn nh từ ngày bắt thi hành án nng được trthời gian tạm giữ.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không nghề ngH ổn định, do vậy đề
nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
Vật chứng của vụ án: Không đặt ra giải quyết.
Ngoài ra còn đnghị tuyên án p quyn kng cáo theo quy đnh ca pp luật.
Bị cáo nhận tội và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, mà chỉ
đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn H tha nhận nh vi phạm tội của
mình, lời nhận tội của bị o hoàn toàn phù hợp với: Thời gian, địa điểm xảy ra tội
phạm, phợp vi biên bản người phạm tội ra đầu t phù hp vớic chứng cứ, tài
liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, do vậy
đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 16 giờ ngày 19/10/2017, tại quán nước Điền thôn X, L, huyện
Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, Nguyễn Văn H lợi dụng sự quen biết và sự tin tưởng của
anh Thế P cho mượn 01 chiếc xe màu vàng, nhãn hiệu Honda Lead, BKS
98B2-500.98 sau khi có được xe đã chiếm đoạt mang đi cầm cố cho anh Lương Đức
Q được 30.000.000 đồng tiêu sài nhân hết rồi bỏ trốn khỏi địa phương. Tài sản
bị cáo chiếm đoạt trị giá 27.876.000 đồng. quan điều tra đã thu hồi chiếc xe
mô tô BKS 98B2-500.98 trả lại cho người bị hại.
Hành vi nêu trên ca b cáo Nguyn Văn H đã đ yếu t cu thành ti "Lm dng tín
nhim chiếm đoti sn, ti đưc quy đnh ti đim a khon 1 điu 140 ca Bộ luật hình
4
s năm 1999 như bn cáo trng ca Vin kim sát truy t là đúng ngưi đúng ti, đúng pháp
lut.
Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã m phạm trực tiếp
đến quyền shữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự
trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, bị cáo
thực hiện hành vi cố ý trực tiếp giữa ban ngày. Do vậy cần phải mức hình phạt
nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Xét
thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống hội một thời gian nhất định đủ
để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Xét về nhân thân của b cáo thì thấy: Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Không có.
nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa tiền án, tiền sự, phạm
tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tµi s¶n bị chiếm đoạt đã được thu hồi
trả lại cho chủ shữu, chủ sở hữu không yêu cầu gì. Tại quan điều tra cũng
như tại phiên Tòa thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, đã tác động để gia đình
bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả cho anh Q, bị cáo ra đầu thú. Đây là các tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều
51 của Bluật hình sự, do vậy khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xcân nhắc
giảm nhẹ mt phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không công ăn việc làm n định nên
không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Anh P đã nhận lại chiếc xe mô BKS 98B2-500.98
trong tình trạng ban đầu không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì nên không đặt ra giải
quyết. Anh Q không yêu cầu thêm M không yêu cầu bị cáo trả lại số
tiền nên không đặt ra giải quyết.
Về xử vật chứng: Chiếc xe mô BKS 98B2-500.98 giấy đăng mang
tên chị Trần Thị V, sinh năm 1986 ở thôn H, xã L, huyện Yên Dũng thuộc sở hữu của
anh Thế P n ngày 26/12/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên
ng đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại 01 chiếc xe mô tô BKS 98B2-500.98, 01
đăng xe mang tên Trần Th V cho anh P 01 chứng minh thư nhân dân số
121761157 cho H do vậy không đặt ra giải quyết.
Đối với anh Lương Đức Q hành vi nhận cầm cố của H chiếc xe mô BKS
98B2-500.98 nhưng anh Q không biết chiếc xe trên i sản do H phạm tội mà có
nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QuyÕt ®Þnh:
5
Tuyên b b cáo Nguyn Văn H phm ti Lạm dng tín nhim chiếm đot tài sn.
Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự m 1999, Điều 38, điểm i,
s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về
mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
ph¹t: Nguyễn Văn H 15 (Mười lăm) tháng , thời hạn tính từ ngày bắt
thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam (t ngày 20/12/2017 đến ngày
26/12/2017).
Trách nhiệm dân sự: Không giải quyết.
Xử lý vật chứng: Không giải quyết.
Án Phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền
kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người quyền lợi
nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận
được tống đạt bản án./.
N¬i nhËn:
-TAND tỉnh Bắc Giang;
- VKSND; CA huyện Yên Dũng;
- Chi cục THA DS huyện Yên Dũng;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ, Văn Phòng.
T.M héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ
Vò T©n ThÞnh
6
Tải về
Bản án số 18/2018/HS-ST Bản án số 18/2018/HS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất