Bản án số 18/2017/LĐ-PT ngày 31/10/2017 của TAND tỉnh Bình Dương về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 18/2017/LĐ-PT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 18/2017/LĐ-PT
| Tên Bản án: | Bản án số 18/2017/LĐ-PT ngày 31/10/2017 của TAND tỉnh Bình Dương về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp về xử lý kỷ luật, sa thải, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Bình Dương |
| Số hiệu: | 18/2017/LĐ-PT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 31/10/2017 |
| Lĩnh vực: | Lao động |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động giữa nguyên đơn bà Đặng Thị N với bị đơn Công ty Cổ phần Sản xuất LĐ |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số 18/2017/LĐ-PT
Ngày 31-10-2017
V/v tranh chấp về đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nhàn.
Các Thẩm phán: Bà Thái Thị Hữu Xuân;
Ông Nguyễn Đắc Cường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương: Bà Ngô Kim
Duyên - Kiểm sát viên, tham gia phiên tòa.
Ngày 31 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương
xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2017/TLPT-LĐ ngày 16 tháng 10
năm 2017 về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động.
Do Bản án lao động sơ thẩm số 12/2017/LĐ-ST ngày 25 tháng 8 năm 2017
của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 15/2017/QĐ-PT ngày
25/10/2017, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đng Thị N, sinh năm: 1973; địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện
T, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm
1986; địa chỉ: Tổ 1, khu phố K, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương; tạm trú:
Số X/A, tổ 3, khu phố 2, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương. Là người đại diện
theo ủy quyền theo giấy ủy quyền ngày 01/9/2016. Có mt.
- Bị đơn: Công ty Cổ phần sản xuất LĐ; địa chỉ: Thửa đất số 208, tờ bản
đồ số 43, khu phố K, phường B, thị xã T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lý Vĩnh H, sinh năm 1967; nơi đăng
ký hộ khẩu thường trú: B 130-2900, H, Đan Mạch; chỗ ở hiện tại: Số N, đường

2
C, Phường Z, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; chức danh: Chủ tịch hội đồng
quản trị kiêm Giám đốc công ty.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Tư L, sinh năm 1988;
địa chỉ: Số S, đường P, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Là người đại
diện theo ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 07/8/2017. Có mt.
- Người kháng cáo: Bị đơn Công ty Cổ phần sản xuất LĐ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 08 tháng 02 năm 2017 và đơn khởi kiện bổ sung
ngày 21 tháng 02 năm 2017, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa
nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Văn T
trình bày:
Vào ngày 12/10/2013, bà Đng Thị N được Công ty Cổ phần sản xuất LĐ
(sau đây gọi là Công ty LĐ) nhận vào làm việc, công việc của bà N phải làm ở
bộ phận xưởng gỗ. Ngày 26/6/2015, bà N và Công ty LĐ ký kết một hợp đồng
lao động xác định thời hạn, thời hạn của hợp đồng là 01 năm (tính từ ngày
26/6/2015 đến ngày 25/6/2016), công việc của bà N phải làm ở bộ phận sản xuất
xưởng gỗ. Ngày 26/6/2016, bà N và Công ty LĐ ký tiếp một hợp đồng lao động
xác định thời hạn, thời hạn của hợp đồng là 01 năm (tính từ ngày 26/6/2016 đến
ngày 26/6/2017), công việc của bà N phải làm ở bộ phận xưởng gỗ. Lương cơ
bản theo hợp đồng là 3.696.000 đồng, mức lương đóng bảo hiểm xã hội là
3.745.000 đồng, phụ cấp chuyên cần 200.000 đồng. Tổng tiền lương và phụ cấp
lương của bà N là 3.945.000 đồng. Trong quá trình làm việc tại Công ty bà N
luôn chấp hành nội quy lao động của Công ty.
Bất ngờ vào ngày 18/8/2016, Công ty LĐ giao cho bà N Quyết định cho
thôi việc số 02/0816/QĐ lập ngày 08/8/2016, thời gian cho thôi việc kể từ ngày
26/7/2016, lý do cho thôi việc là căn cứ theo đơn xin thôi việc của bà N ngày
26/7/2016. Bà N không đồng ý quyết định cho thôi việc của Công ty bởi vì trong
suốt quá trình làm việc tại Công ty, bà N không bị Công ty lập biên bản xử lý kỷ
luật và bà N cũng không có đơn xin thôi việc.
Ngoài ra, khi Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà
N cũng không trao đổi với Ban chấp hành công đoàn cơ sở của Công ty, không
báo cáo với cơ quan quản lý lao động cấp tỉnh, không báo trước khi đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà N.
Nhận thấy hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của Công ty
LĐ là hoàn toàn trái với quy định của pháp luật lao động, trực tiếp xâm phạm
đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà N.
Do vậy, bà N làm đơn khởi kiện Công ty LĐ, yêu cầu Công ty LĐ phải có
trách nhiệm sau:
1. Hủy Quyết định cho thôi việc số 02/0816/QĐ ngày 08/8/2016 của Công

3
ty Cổ phần sản xuất LĐ;
2. Theo đơn khởi kiện bà N yêu cầu buộc Công ty LĐ phải nhận bà N trở
lại làm việc và bố trí công việc cho bà N theo hợp đồng lao động ngày
26/6/2016. Tuy nhiên, qua quá trình hòa giải tại Tòa, bà N nhận thấy mâu thuẫn
giữa bà N và Công ty LĐ không hòa giải được nên bà N yêu cầu Công ty bồi
thường cho bà N 02 tháng tiền lương là 7.890.000 đồng để chấm dứt hợp đồng
lao động.
3. Buộc Công ty LĐ phải bồi thường cho bà N tiền lương và phụ cấp
lương trong những ngày bà N không được làm việc, tính từ ngày 26/7/2016 đến
ngày 26/6/2017 là 11 tháng với số tiền là: 3.945.000 đồng x 11 tháng =
43.395.000 đồng.
4. Buộc Công ty LĐ phải bồi thường cho bà N hai tháng tiền lương và phụ
cấp lương do Công ty có hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là:
3.945.000 đồng/tháng x 02 tháng = 7.890.000 đồng.
5. Buộc Công ty LĐ phải bồi thường tiền lương cho bà N do Công ty vi
phạm thời gian báo trước với số tiền là: 3.945.000 đồng/26 ngày x 30 ngày =
4.551.923 đồng.
6. Buộc Công ty LĐ phải thanh toán tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
bảo hiểm thất nghiệp cho bà N tính từ ngày 26/7/2016 đến ngày 26/6/2017 là 11
tháng với số tiền là: 3.945.000đ x 11 tháng x 22% = 9.546.900 đồng.
Tổng cộng bà N yêu cầu Công ty LĐ phải bồi thường cho bà do đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là: 73.273.823 đồng.
Nguyên đơn cung cấp các chứng cứ sau: Bản photo Hợp đồng lao động;
Bản sao Quyết định thôi việc; Bản sao Sổ bảo hiểm xã hội mang tên Đng Thị N.
Người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ phần sản xuất LĐ trình bày:
Công ty LĐ có nhận bà N vào làm việc tại Công ty vào ngày 12/10/2013,
vị trí làm việc tại xưởng gỗ. Hai bên ký hợp đồng lần thứ nhất thời gian làm việc
từ 26/6/2015 đến ngày 25/6/2016 với mức lương là 3.552.000 đồng, mức đóng
bảo hiểm xã hội là 3.317.000 đồng. Hợp đồng lần hai thời gian làm việc từ ngày
26/6/2016 đến ngày 26/6/2017 với mức lương là 3.896.000 đồng, mức đóng bảo
hiểm xã hội là 3.745.000 đồng. Nhưng từ ngày 15/7/2016 đến ngày 31/7/2016,
bà N không đến công ty làm việc không có lý do, tổng cộng là 15 ngày nghỉ
không phép.
Hai hợp đồng lao động bà N ký với Công ty LĐ do ông Đng Hùng C
chức vụ Phó Giám đốc của Công ty ký nhưng không có văn bản ủy quyền của
Giám đốc Công ty là người đại diện theo pháp luật của Công ty. Theo quy định
tại điểm b khoản 1 Điều 50 Bộ luật Lao động năm 2012, trường hợp người ký
hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền thì hợp đồng lao động vô hiệu. Do
đó, Hợp đồng số 022016/HĐLĐ đã ký ngày 26/6/2016 vô hiệu toàn bộ. Tuy
nhiên, bà N đã làm việc tại Công ty và Công ty đã trả lương, tham gia các chế độ

4
bảo hiểm cho bà N theo đúng quy định Bộ luật Lao động, thỏa ước lao động tập
thể. Công ty LĐ thừa nhận bà N là người lao động của Công ty.
Đối với Quyết định thôi việc số 02/0816/QĐ ngày 08/8/2016 bà Đng Thị
N cung cấp cho Tòa án, Công ty căn cứ vào đơn thôi việc của bà N để ban hành
quyết định. Tuy nhiên, thực tế bà N không làm đơn xin thôi việc mà do tại thời
điểm tháng 8 năm 2016 bà N bị bệnh tai biến không thể đến Công ty làm việc.
Bà N đang điều trị tại bệnh viện và cần tiền để trả các chi phí điều trị tại bệnh
viện nên Công ty ra quyết định thôi việc cho bà N được hưởng chế độ bảo hiểm
thất nghiệp, bảo hiểm xã hội để có tiền điều trị bệnh. Công ty thừa nhận việc ban
hành Quyết định thôi việc đối với bà N là không đúng quy định của pháp luật
nhưng trên tinh thần giúp đỡ người lao động nên Công ty mới ban hành quyết
định thôi việc.
Đối với Quyết định thôi việc số 02/0816/QĐ ngày 08/8/2016 và Biên bản
họp vi phạm ngày 26/7/2016 do Công ty cung cấp cho Tòa án, Công ty căn cứ
vào biên bản họp vi phạm ngày 26/7/2016 để ban hành quyết định thôi việc đối
với bà N. Công ty LĐ thừa nhận Quyết định thôi việc số 02/0816/QĐ ngày
08/8/2016 và Biên bản họp vi phạm ngày 26/7/2016 do Công ty cung cấp cho
Tòa án là do Công ty làm lại sau khi bà N khởi kiện tại Tòa án. Công ty đã hợp
thức hóa hồ sơ cung cấp cho Tòa án, Công ty đã làm lại quyết định thôi việc căn
cứ vào biên bản họp vi phạm. Quyết định này Công ty không giao cho bà N mà
chỉ cung cấp cho Tòa án.
Công ty thừa nhận hai Quyết định thôi việc số 02/0816/QĐ ngày
08/8/2016 đều do Công ty LĐ ban hành và người ký quyết định là ông Đng
Hùng C – Phó Giám đốc. Ông Đng Hùng C không phải là người đại diện theo
pháp luật của Công ty nên Quyết định thôi việc không có hiệu lực pháp lý, không
có giá trị áp dụng. Quan hệ lao động giữa bà N và Công ty vẫn tồn tại, chưa
chấm dứt. Do đó, Công ty không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn. Trong trường hợp bà N muốn trở lại Công ty làm việc thì Công ty
chấp nhận nhận bà N trở lại làm việc và bố trí công việc phù hợp với sức khỏe
của bà N.
Bị đơn cung cấp các chứng cứ sau: Bản photo Quyết định của giám đốc
Công ty LĐ ngày 03/7/2017; Bản sao nội quy lao động của Công ty LĐ; Bản
sao phiếu lương của bà Đng Thị N từ tháng 02/7/2016; Bản sao Hợp đồng lao
động số 150704 ngày 26/6/2015; Bản sao Hợp đồng lao động số 022016/HĐLĐ
ngày 26/6/2016; Bản photo ký nhận sổ bảo hiểm xã hội; Bản photo danh sách lao
động tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp số 2 tháng
8/2016; Bản photo bảng công tháng 7/2016; Quyết định thôi việc số 02/0816/QĐ
ngày 08/8/2016; Biên bản họp vi phạm ngày 26/7/2016.
Bản án sơ thẩm số 12/2017/LĐ-ST ngày 25 tháng 8 năm 2017 của Tòa án
nhân dân thị xã T đã quyết định:
1. Buộc Công ty Cổ phần sản xuất LĐ phải bồi thường cho bà Đng Thị N
tiền lương và phụ cấp lương trong những ngày bà Đng Thị N không được làm

5
việc 43.395.000 đồng.
2. Buộc Công ty Cổ phần sản xuất LĐ phải bồi thường cho bà Đng Thị N
hai tháng tiền lương và phụ cấp lương do Công ty có hành vi đơn phương chấm
dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là 7.890.000 đồng.
3. Buộc Công ty Cổ phần sản xuất LĐ phải bồi thường tiền lương cho bà
Đng Thị N do Công ty vi phạm thời gian báo trước với số tiền là 4.551.923
đồng.
4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đng Thị N buộc Công ty
Cổ phần sản xuất LĐ phải trả tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp cho bà Đng Thị N.
5. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đng Thị N buộc Công ty
Cổ phần sản xuất LĐ phải bồi thường hai tháng tiền lương do bà Đng Thị N
muốn chấm dứt hợp đồng lao động.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các đương
sự.
Ngày 07 tháng 9 năm 2017, bị đơn Công ty LĐ kháng cáo toàn bộ bản án
sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không
chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Các đương sự không thỏa thuận được với nhau
về việc giải quyết tranh chấp.
- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
- Người đại diện hợp pháp của bị đơn đề nghị Tòa án xem xét lại bản án sơ
thẩm về phần buộc Công ty LĐ bồi thường cho bà N, đề nghị sửa án sơ thẩm
không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương: Về tố
tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã chấp hành đúng các quy
định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự đã thực hiện đúng các quyền và
nghĩa vụ khi tham gia phiên tòa theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung, bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng
minh bà N tự xin thôi việc nên đề nghị bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản
án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về tố tụng: Ngày 25/8/2017, Tòa án nhân dân thị xã T xét xử vụ án và
ban hành Bản án lao động sơ thẩm số 12/2017/LĐ-ST, ngày 07/9/2017 bị đơn có
đơn kháng cáo bản án. Theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân
sự, bị đơn kháng cáo trong thời hạn luật định.

6
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn Công ty LĐ đề nghị không chấp
nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà N, xét thấy:
Ngày 18/8/2016, Công ty LĐ giao cho bà N Quyết định thôi việc số
02/0816/QĐ ngày 08/8/2016, ghi thời gian thôi việc kể từ ngày 26/7/2016, căn
cứ vào đơn xin thôi việc đề ngày 26/7/2016 của bà N (quyết định này do nguyên
đơn cung cấp). Nguyên đơn cho rằng không có việc nguyên đơn viết đơn xin thôi
việc gửi cho bị đơn và bị đơn cũng thừa nhận nguyên đơn không có đơn xin thôi
việc nhưng bị đơn vẫn ban hành Quyết định số 02/0816/QĐ ngày 08/8/2016 để
chấm dứt hợp đồng lao động đang giao kết với nguyên đơn là trái quy định pháp
luật tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Lao động.
Quyết định thôi việc số 02/0816/QĐ ngày 08/8/2016 và biên bản họp vi
phạm ngày 26/7/2016 do bị đơn cung cấp cho Tòa án (bút lục 77) được đại diện
bị đơn thừa nhận do bị đơn hợp thức hóa hồ sơ để cung cấp cho Tòa án sau khi
bà N khởi kiện bị đơn (các bút lục 155-163), tại phiên tòa phúc thẩm đại diện bị
đơn xác định do phòng nhân sự của Công ty hợp thức hóa hồ sơ để trình giám
đốc. Như vậy, chứng cứ này hoàn toàn không có giá trị chứng minh.
Mt khác, sự kiện bà N bị bệnh tai biến, nằm viện từ ngày 14/7/2016 đến
ngày 18/8/2016 mới xuất viện, không đến công ty làm việc, Công ty thừa nhận
biết rõ việc này nhưng ngày 08/8/2016, Công ty đã ra quyết định cho bà N thôi
việc là chưa đủ điều kiện để thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động của người sử dụng lao động theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 38 và
khoản 1 Điều 39 Bộ luật Lao động.
Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị đơn đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động trái pháp luật đối với nguyên đơn và buộc bị đơn phải bồi thường
cho nguyên đơn tiền lương, phụ cấp lương trong những ngày nguyên đơn không
được làm việc (tính đến ngày 26/6/2017), 02 tháng tiền lương và thời gian không
báo trước 30 ngày là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
Bị đơn kháng cáo cho rằng Công ty chưa chấm dứt hợp đồng lao động với
bà N do quyết định chấm dứt hợp đồng lao động bị vô hiệu vì được ký bởi phó
giám đốc, không phải người có thẩm quyền của Công ty. Hội đồng xét xử xét
thấy, mc dù hợp đồng lao động và quyết định chấm dứt hợp đồng lao động giữa
Công ty và bà N được ký bởi phó giám đốc không phải người đại diện theo pháp
luật của Công ty nhưng thực tế giữa hai bên đã phát sinh và tồn tại mối quan hệ
lao động trong thời gian dài, đồng thời mối quan hệ lao động đó bị chấm dứt bởi
Quyết định số 02/0816/QĐ ngày 08/8/2016 là theo ý chí của Công ty. Theo đó,
người lao động đã bị mất việc làm và Công ty đã tự chốt sổ bảo hiểm xã hội của
bà N từ ngày 15/8/2016 trước khi bà N xuất viện nên ý kiến của Công ty về việc
chưa chấm dứt hợp đồng lao động với bà N là không có cơ sở để chấp nhận.
[3] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu hủy Quyết định số
02/0816/QĐ ngày 08/8/2016: Tòa án cấp sơ thẩm chưa giải quyết trong phần
quyết định của bản án sơ thẩm là có thiếu sót. Tuy nhiên, nguyên đơn không
kháng cáo bản án sơ thẩm; bị đơn không có yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem

7
xét; mt khác, đến thời điểm xét xử sơ thẩm thì hợp đồng lao động giữa bà N với
bị đơn cũng đã hết hiệu lực, việc hủy quyết định hay không không làm thay đổi
kết quả giải quyết của vụ án. Do vậy, không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm,
tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm vấn đề này.
[4] Từ những phân tích trên, xét thấy bị đơn kháng cáo nhưng không cung
cấp được chứng cứ nào khác để chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận yêu
cầu kháng cáo của bị đơn; Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình
Dương là phù hợp với quy định của pháp luật.
[5] Về án phí: Án phí sơ thẩm, phúc thẩm bị đơn phải chịu theo quy định
của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Cổ phần sản xuất LĐ,
giữ nguyên phần quyết định của Bản án sơ thẩm số 12/2017/LĐ-ST ngày
25/8/2017 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Bình Dương.
Áp dụng:
- Các Điều: 38, 39, 41, 42, 90, 96 Bộ luật Lao động;
- Điểm b khoản 2 Điều 133, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148 Bộ luật
Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc
hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ
phí Tòa án:
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Đng Thị N đối
với Công ty Cổ phần sản xuất LĐ về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động trái pháp luật.
1. Buộc Công ty Cổ phần sản xuất LĐ phải bồi thường cho bà Đng Thị N
tiền lương và phụ cấp lương trong những ngày bà Đng Thị N không được làm
việc 43.395.000 đồng; Hai tháng tiền lương và phụ cấp lương do Công ty có
hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là 7.890.000
đồng; bồi thường vi phạm thời gian báo trước với số tiền là 4.551.923 đồng.
Tổng cộng: 55.836.923 đồng.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đng Thị N buộc Công ty
Cổ phần sản xuất LĐ phải trả tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất
nghiệp cho bà Đng Thị N.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đng Thị N buộc Công ty
Cổ phần sản xuất LĐ phải bồi thường hai tháng tiền lương do bà Đng Thị N
muốn chấm dứt hợp đồng lao động.

8
4. Về án phí sơ thẩm: Công ty Cổ phần sản xuất LĐ phải chịu 1.675.000
đồng.
5. Về án phí phúc thẩm: Công ty Cổ phần sản xuất LĐ phải chịu 300.000
đồng, được trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án
phí, lệ phí Tòa án số 0013342 ngày 10/10/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự
thị xã T.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải
thi hành án không thi hành án, thì hàng tháng còn chịu tiền lãi đối với số tiền
chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng
với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành
án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận
thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoc bị cưỡng chế
thi hành án theo quy định tại các Điều: 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời
hiệu thi hành án bản án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành
án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Bình Dương;
- TAND thị xã T;
- Chi cục THADS thị xã T;
- Các đương sự;
- Lưu: Tổ HCTP, Tòa LĐ, HSVA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thị Nhàn
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng