Bản án số 17/2021/DS-ST ngày 20/08/2021 của TAND huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 17/2021/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 17/2021/DS-ST ngày 20/08/2021 của TAND huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Giao Thủy (TAND tỉnh Nam Định)
Số hiệu: 17/2021/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 20/08/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chia di sản thừa kế
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIAO THỦY
TỈNH NAM ĐỊNH
Bản án số: 17/2021/DS-ST
Ngày: 20-8-2021
V/v: Chia di sản thừa kế
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – H1 phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN N HUYỆN GIAO THY, TNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ông Ngọc Lễ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Xuân Trường;
Ông Nguyễn Ngọc Giao.
- Thư phiên a: Ông Phạm Thái Thưởng - Thư Toà án nhân dân
huyện Giao Thủy.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham
gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Tuất - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 16 tháng 8 năm 2021 ngày 20 tháng 8 năm 2021, tại trụ
sở Toà án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ
án dân sự thụ lý số 12/2020/TLST-DS ngày 01/10/2020 về “Tranh chấp chia di sản
thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2021/QĐXXST-DS, ngày 01-
7-2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Phạm Thị T; sinh năm 1950; địa chỉ: Xóm 3, B, huyện
G, tỉnh N. “có mặt”.
Bị đơn: Ông Phạm Văn H; sinh năm 1963; địa chỉ: m 5, B, huyện G,
tỉnh N. “có mặt”.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Phạm Thị H3; sinh năm 1951; địa chỉ: Tổ dân phố 4B, thị trấn N,
huyện G, tỉnh N. “có mặt”.
2. Phạm Thị C; sinh năm 1955; địa chỉ: Xóm 2, xã GH, huyện G, tỉnh N.
“có mặt”.
3. Ông Phạm Bá H2; sinh năm 1958; địa chỉ: Xóm 5, xã B, huyện G, tỉnh N.
“có mặt”.
2
4. Ông Phạm Văn H1; sinh năm 1961; địa chỉ: Xóm 7, B, huyện G, tỉnh
N. “vắng mặt”.
5. Phạm Thị Th; sinh năm 1970; địa chỉ: Xóm 5, B, huyện G, tỉnh N.
“có mặt”.
6. Phạm Thị S1; sinh năm 1973; địa chỉ: Tổ dân phố 4B, thị trấn N,
huyện G, tỉnh N. “có mặt”.
7. Đỗ Thị L; sinh năm 1967; địa chỉ: Xóm 5, B, huyện G, tỉnh N. “có
mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện ngày 20 tháng 8 năm 2020, các văn bản khác
có trong hồ sơ vụ án tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị T trình bày:
Bố bà là c Phạm Văn S, sinh năm 1929, chết năm 1982. CS có 02 người vợ,
người vợ cả là cụ Phạm ThV (không nhớ năm sinh, năm chết), người vợ thứ 2 là c
Nguyễn ThNg, sinh năm 1930, chết năm 2019. Thửa đất tại xóm 5,B đang tranh
chấp do cS cV tạo lập nên. Cụ S cụ V sinh được 02 người con là Phạm Thị
G Phạm Thị H3. Phạm Thị G chết khi 07 tuổi. Vài năm sau cụ S lấy mẹ bà
cụ Nguyễn Thị Ng, hai c sinh sống tn đất này, xây dựng, quật lập,i nới để có
tha đất có diện ch như hiện nay. CS và cụ Ng sinh được 07 người con gồm: Phạm
Thị T, Phạm Thị C, Phạm H2, Phạm Văn H1, Phạm Văn H, Phạm Thị Th,
Phạm Thị S1. Khi chết các cụ đều không để lại di chúc. Di sản bố mẹ bà để lại thửa
đất diện ch 1460 m
2
tại Xóm 5, xã B, huyện G, tỉnh N 01 ngôi nhà cấp bốn xây
dựng tn đất. Thửa đất bố m để lại hiện nay ông H đang quản lý, sử dụng đã
được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 730 m
2
; diện tích 730
m
2
n lại được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mẹ cụ Ng (vẫn
chung thửa số 324 tờ bản đsố 15 xã B). Bà u cầu Tòa án chia thừa kế i sản của
bố mẹ theo quy định của pháp luật gồm thửa đất mang tên cNg thửa đất mang
n ông H, tổng cộng là 1460 m
2
và căn nhà lợp ngói cấp bốn của cụ Ng. Hiện nay khi
khảo t đo đạc, diện ch đất ông H sử dụng 839 m
2;
đất của cụ Ng 502 m
2
.
đề nghị chia di sản thừa kế của bố mẹ bà để lại chia đều làm 08 phần cho mỗi đồng
thừa kế 01 phần theo quy định của pháp luật.
Tại bản tự khai ngày 15 tháng 10 năm 2020, các văn bản khác trong hồ
sơ vụ án tại phiên tòa, bị đơn đơn ông Phạm Văn H trình bày:
Về thành phần gia đình và tài sản của bố mẹ ông để lại, ông hoàn toàn nhất
trí theo như trình bày của T. Bố ông là cụ Phạm Văn S, sinh năm 1929, mất m
1982. Mẹ ông là cụ Nguyễn Thị Ng, sinh m 1930, mất năm 2019. Bố mẹ ông sinh
được 07 người con gồm: Phạm Thị T, Phạm Thị C, Phạm H2, Phạm Văn H1,
Phạm Văn H, Phạm Thị Th, Phạm Thị S1. Phạm Thị H3 con của bố ông với
người vợ cả bà Phạm Thị V. Nay T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đối
với toàn bộ đất và căn nhà lợp ngói cấp bốn của cụ S và cụ Ng, ông không nhất trí.
3
đối với phần diện tích đất 730 m
2
đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất tại Xóm 5, B, huyện G, tỉnh N cho ông vào m 1998 của ông; đối với
diện tích đất 730 m
2
đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mẹ ông
cụ Ng ngôi nhà lợp ngói cấp bốn xây trên đất, ông đề nghị Tòa án chia phần
di sản này theo quy định của pháp luật. Nếu được hưởng phần di sản ông xin nhận.
Đối với phần di sản Th ông H1 được chia cho lại ông, ông xin nhận nộp
án phí cả cho bà Th và ông H1. Ông nhất trí với diện tích đất thực tế đã kháo sát đo
đạc hiện nay đối với đất của ông và cụ Ng sử dụng.
Tại bản tự khai, các văn bản khác trong hồ v án tại phiên tòa,
những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày như sau:
Đỗ Thị L trình bày: kết hôn với ông Phạm Văn H vào năm 1987, đến
năm 1992, vợ cH đã xây dng một ngôi nhà mái bằng, một thời gian sau xây
thêm bếp, công trình phụ, làm sân ngõ đi. Vào ngày 29/02/2020, Ủy ban nhân
dân B đã làm việc đo khảo sát diện tích, mốc giới giữa đất của cụ Nguyễn
Thị Ng và đất của hộ gia đình bà. Vợ chồng đã tiến hành lấp ao, làm ngõ đi, làm
dậu cổng trị g47.000.000 đồng (bốn mươi bảy triệu đồng). Nay T khởi
kiện yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế do cụ S và cụ Ng để lại, bà yêu cầu Tòa án
giải quyết theo quy định của pháp luật và nhất trí với ý kiến trình bày của ông H.
Các ông bà Phạm Thị H3, phạm Thị C, Phạm H2, Phạm Thị Th, Phạm
Thị S1 đều thống nhất trình bày: Hoàn toàn nhất trí với phần trình bày của T
như trên. Bà H3 trình bày thêm: Mặc dù nguồn gốc đất là do bố bà và mẹ bà (cụ V)
tạo lập ban đầu nhưng nay chia thừa kế chỉ nhận 1 suất bằng các anh chị em
khác kiến của H3 đã được tất cả mọi người trong số em bà nhất trí). C,
ông H2, Th, bà S1 trình bày đều nguyện vọng nhận phần di sản được chia.
Th có ý kiến phần di sản được chia bà cho ông H.
Ông Phạm Văn H1 trình bày: Cụ S chết năm 1982, cụ Ng chết năm 2019
đều không để lại di chúc. Nay ông quan điểm phần đất 730 m
2
đã đã được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông H là của ông H; phần đất 730 m
2
mang tên cụ Ng căn nhà cấp bốn lợp ngói ông đề nghị chia thừa kế theo quy
định của pháp luật. Phần di sản ông được chia ông nhận và cho toàn bộ ông H. Các
anh chị em thỏa thuận được với nhau những nội dung thì ông cũng hoàn toàn
nhất trí.
Người làm chứng ông Đặng Văn D tnhy: Ôngcông chức địa chính B
từ tháng 10/2010 đến tháng 10/2019 thì điều chuyển làm ng chức địa chính H.
Thời gian năm 1998 cụ Ng ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là
cấp lần đầu n không hồ sơ. Nguồn gốc đất của cụ Ng ông H trước đây theo
bản đồ địa chính xã B lập năm 1981 mangn cụ S và cụ Ng. Năm 1995 đoàn đo đạc
của Sở Tài nguyên Môi trường tỉnh N về B m công c đo đạc khảo t hiện
trạng sử dụng đất, cụ Ng đã ch đất cho ông H thông qua đoàn đo đạc. Về thủ tục
ch đất cho ông H và thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như thế o ông
không được biết. Trên thực tế c hộ gia đình, cá nhân tại địa phương được cấp giấy
4
chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cùng thời điểm như hộ cNg hộ ông H đều
vẫn chung thửa, không c định được ranh giới, mốc. Ông có trực tiếp tham gia
c buổi hòa giải giữa c đương sự tại địa phương nhưng đều không thành khi
xuống đo đạc thực địa, các n không thống nhất được với nhau.
Kết quả xác minh thu thập chứng cứ:
Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G và UBNDB cung cấp: Hồ
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ ông H và hộ cụ S (cụ Ng) chỉ có
đơn đăng quyền sử dụng đất của 02 hộ trên hệ thống đơn đăng quyền s
dụng đất của B được lập năm 1997 và đăng ký trong sổ địa chính lập năm 1998
diện tích 1460 m
2
; gồm bản đồ địa chính B lập năm 1981, năm 1995
bản đchỉnh năm 2010; sổ cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất ban hành
kèm theo Quyết định số 499/-ĐC ngày 27/7/1995 của Sở i nguyên Môi
trường tỉnh N, đồ địa chính, sổ mục đất đai, đơn đăng quyền sử dụng đất.
Ngoài ra không còn lưu trữ tài liệu nào liên quan đến hồ cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của 02 hộ.
Tại biên bản làm việc, xác minh thu thập chứng cứ ngày 12 tháng 3 năm
2021, Ủy ban nhân dân B cung cấp: Thửa đất có tranh chấp nguồn gốc do cụ
Phạm Văn S cụ Phạm Thị V tạo lập nên. Cụ V chết khoảng những năm 1950 và
địa phương kng xác định được năm chết của cụ V. Cụ S cụ V 02 con G
Phạm Thị G (chết khi được 07 tuổi) Phạm Thị Hương (hiện trú tai tổ dân
phố 4B thị trấn NĐ, huyện G). Sau khi cụ V chết thì vài năm sau cụ S lấy cụ
Nguyễn Thị Ng làm vợ, tiếp tục chung sống trên thửa đất sinh được 07 người
con gồm: Phạm Thị T, Phạm Thị C, Phạm H2, Phạm Văn H1, Phạm Văn H,
Phạm Thị Th, Phạm Thị S1. Cụ S chết năm 1982 cụ Ng chết năm 2019. Theo
bản đồ địa chính B năm 1981 thửa đất đang tranh chấp số thửa 11, tờ
bản đsố 3A, diện tích 1741 m
2
mang tên cS cụ Ng (chưa được cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất). Theo bản đđịa chính B lập năm 1995 (đo v
năm 1995 lập năm 1998), thửa đất đang tranh chấp số thửa 324, tờ bản
đồ số 15, diện tích 1460 m
2
mang tên cụ Ng ông H đến năm 1998 thì được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, diện tích đất 1460 m
2
được chia làm đôi,
trong đó hộ cụ Ng hộ ông H đều diện tích 730 m
2
, vẫn chung thửa không
phân định về mô mốc ranh giới đất giữa hai hộ. Trên phần đất cụ Ng
căn nhà cấp bốn lợp Ngi xây dựng đã lâu; phần đất hộ ông H cũng làm nhà mái
bằng một tầng để ở; hai hộ đi chung ngõ đi từ đường dong xóm vào nhà không
nđi riêng. m 1995 đoàn đo đạc của Sở Tài nguyên Môi trường tiến
hành đo đạc hiện trạng các hộ sử dụng đất, cụ Ng lúc đó đã tách diện tích đất 730
m
2
cho ông H thông qua đoàn đo đạc, do đó bản đồ năm 1995 thửa đất đứng tên cụ
Ng ông H. Về thủ tục tách đất cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất địa
phương không còn lưu trữ được. Trên thực tế tại B vào giai đoạn đó các hộ gia
đình nhận được cấp giấy chứng nhận quyền sdụng đất lần đầu đều tình
trạng vẫn chung thửa và không xác định được mô mốc, ranh giới đất như hộ cụ Ng
5
hộ ông H. Về diện tích đất theo bản đồ năm 1981 diện tích 1741 m
2
, bản đồ
năm 1995 có diện tích 1460 m
2
, đo đạc hiện trạng khi xem xét thẩm định tại chỗ
1411 m
2
, như vậy giảm 49 m
2
. do diện tích giảm đi do trước đây khi đo đạc
đều đo thủ công bằng thước dây, việc chỉ mốc không chính xác do vướng bờ
bụi… Sau khi đoàn đạc của Sở Tài nguyên Môi trường tiến hành đo đạc hiện
trạng các hộ sử dụng đất xong, Ủy ban nhân dân B khai, lập danh sách thửa
đất, vị trí đất, diện tích đất là đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Quá trình từ khi hộ ông H được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến
khi cụ Ng chết năm 2019 các anh em trong gia đình không ai ý kiến hay tranh
chấp gì.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản ngày 11-12-2020 cụ
thể như sau: Thửa đất số 324, tờ bản đồ s15, bản đồ địa chính xã B lập năm 1995
tại xóm 5, B vị trí phía Nam giáp ngõ đi ra đường dong xóm thổ ông H2;
phía Bắc giáp ruộng lúa; phía Tây giáp thổ ông S, ông P; phía Đông giáp ruộng
a; diện tích đo đạc thực tế 1411 m
2
. Giá trị quyền sử dụng đất theo giá thị trường
tại địa phương700.000 đồng/1m
2
.
Công trình xây dựng trên phần đất của cụ S chỉ có căn nhà cấp bốn lợp ngói
, xây dựng năm 2005 trên diện tích 21 m
2
có giá trị là 10.938.600 đồng. Công trình
xây dựng trên phần đất của ông H có: Nhà xây mái bằng 01 tầng, xây dựng năm
1992 diện tích 54 m
2
có giá trị là 113.628.416 đồng; nhà xây mái bằng 01 tầng, xây
dựng năm 2003 diện tích 37 m
2
giá trị 103.886.784 đồng; sân ngõ đổ
tông năm 2020 giá trị 39.600.000 đồng; bể nước mưa giá trị 5.321.093
đồng; bể nước ngầm gtrị 1.901.625 đồng; nhà lợp mái broximăng nền vôi
xỉ có giá trị là 5.030.134 đồng. Giáp phần đất của cụ Ng ông H hàng rào lưới
thép B40 cao 1,5m, dài 16m giá trị 3.820.800 đồng, trong đó 01 đoạn
tường chân đế xây gạch 110cm, cao 0,5m có giá trị là 568.850 đồng đoạn tường
chân đế giáp cột trụ cổng xây gạch 110cm, cao 1m, dài 4m giá trị 1.468.000
đồng; trụ cổng xây gạch kích thước 60x60cm, cao 2,5m giá trị 2.000.000
đồng.
Ý kiến của Kiểm sát viên:
Nguồn gốc diện tích đất tranh chấp của cụ S cụ V. Cụ S 2 người
vợ là cụ V cụ Ng, cụ S cụ V 2 người con bà H3 bà G (bà G đã mất
lúc 7 tuổi), cụ S và cụ Ng 7 người con ông H, T, S1, bà Th, ông H1,
ông H2, bà C. Cụ V chết khoảng những năm 1950, cụ S chết năm 1982, cụ Ng chết
năm 2019 đều không để lại di chúc.
Tại bản đồ năm 1981 cụ S diện tích đất 1741 thể hiện tại số thửa 11 tờ
bản đồ số 3A. Tại bản đồ năm 1995 cụ S diện tích 730 m², ông H diện
tích730 tại thửa số 324 tờ bản đồ số 15. Năm 1997 hộ ông Phạm Văn H và hộ
cụ Phạm Thị S đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng diện ch đất diện
tích 730 nêu trên.
Xét về thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sdụng diện tích đất 730 của
hộ ông Phạm Văn H hộ cụ Phạm Thị S: Hồ cấp giấy chứng nhận quyền s
6
dụng đất hộ ông H và hộ cụ S do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Giao
Thủy cung cấp chỉ đơn đăng quyền sử dụng đất của 2 h trong hthống đơn
đăng ký quyền sử dụng đất của xã B lập năm 1997. Tại bản đồ năm 1995 ông H
cụ S đều diện tích đất 730 thể hiện tại thửa số 324 tờ bản đs15, bản đồ
này giá trị để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình,
nhân nên năm 1997 hộ ông Phạm Văn H hộ cụ Phạm Thị S được quan
thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích đất nêu trên, như vậy
hộ ông H và hộ cụ S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hợp pháp. Từ
khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hông H sử dụng đất y
dựng công trình trên diện tích đất được cấp từ nhiều năm nay nhưng không ai có ý
kiến gì.
Qua kết quả đo đạc thực tế thì thửa đất tranh chấp chỉ còn lại 1411 (thiếu
49 ) so với tổng diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ cụ
Phạm Thị S hộ ông Phạm Văn H được cấp. vậy diện tích h ông H và hcụ
S mỗi hộ sẽ bị trừ đi 24,5 . Như vậy diện tích đất của hộ cụ S và diện tích đất hộ
ông H mỗi hộ chỉ còn 705,5 .
Xét thực tế 2 hộ đang sử dụng ngõ đi chung diện tích 45,4 , vậy mỗi
hộ sẽ bị trừ đi 22,7 làm ngõ đi chung nên sau khi trừ đi diện tích ngõ đi chung
thì hộ cS chỉ còn diện tích đất 682,8 m². Như vậy xác định diện tích đất di sản
để chia thừa kế của cụ S, cụ Ng, cụ V chỉ còn 682,8 , ngôi nhà cấp 4 di sản
của cụ Ng để lại chưa chia.
Theo nguyện vọng H3 thì bà chỉ hưởng phần di sản thừa kế bằng các anh
chị em khác, xét nguyện vọng này tự nguyện vẫn đảm bảo quyền lợi của các
đồng thừa kế khác. Vì vậy di sản thừa kế diện tích đất 682,8 và ngôi nhà mái
bằng trị giá 10.938.600 đồng sẽ được chia đều cho 8 người con của cụ S, cụ Ng, cụ
V gồm: H3, C, bà Th, S1, ông H1, ông H2, T. Như vậy mỗi kỷ phần
thừa kế sẽ được hưởng diện tích đất 85,3m² và 1/8 giá trị ngôi nhà. Ông H được bà
Th ông H1 cho kỷ phần thừa kế được hưởng nên ông H sẽ được hưởng 256
và 3/8 giá trị ngôi nhà.
Xét vị trí các công trình đã xây dựng trên đất hcụ S hộ ông H, đề nghị
Tòa án giao cho ông H các đồng thừa kế diện tích đất được hưởng vị trí phù
hợp, đảm bảo việc thuận tiện trong việc s dụng diện tích đất được giao. Các
đương sự thanh toán chênh lệch tài sản cho nhau theo quy đnh của pháp luật.
Áp dụng các điều 650, 651, 652 Bluật dân sự, đề nghị TAND huyện Giao
Thuỷ giải quyết vụ ỏn theo hướng phân tích trên.
Án phí đương sự phải nộp theo quy định tại Nghị quyết số
236/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội khóa 14
quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa
án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ ván đã được thẩm tra tại
phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
7
[1] Về quan hệ pháp luật thẩm quyền giải quyết: Nội dung yêu cầu khởi
kiện là “Tranh chấp chia di sản thừa kếtheo Khoản 5 Điều 26; Điều 35 Điều
39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân
huyện Giao Thy.
[2] Về thời hiệu khởi kiện: Cụ Phạm Văn S chết ngày 21/6/1982, cụ Nguyễn
Thị Ng chết ngày 06/7/2019, không để lại di chúc. Theo quy định tại Điều 623 Bộ
luật Dân snăm 2015, Pháp lệnh thừa kế năm 1990 Nghị quyết số 02/HĐTP
ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì vụ án được
giải quyết trong thời hiệu khởi kiện.
[3] Về nội dung: Phạm Thị T khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế
1.460m
2
đất và căn nhà cấp 4 lợp ngói của bố mẹ đlại.
Tại phiên tòa, các đương sự đều thừa nhận nguồn gốc thửa đất tranh chấp
của cụ Phạm Văn S và cụ Phạm Thị V tạo lập. Sau khi cụ V chết, cụ S kết hôn với
cụ Nguyễn Thị Ng, 2 cụ tiếp tục sinh sống trên thửa đất đó cho đến khi các cụ
qua đời không để lại di chúc.
Tại bản đồ địa chính lập năm 1981 cụ S có diện tích đất 1741m2 thể hiện tại
thửa 11 tờ bản đồ số 3A. Bản đồ địa chínhB lập năm 1995 đất mang tên cụ S và
ông H tại thửa số 324 tờ bản đồ số 15 tổng diện tích là 1460 m
2
. Đến năm 1998
thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ S (cụ Ng) và hộ
ông H với mỗi hộ là 730 m
2
, nhưng chưa tách thửa.
Xét vthủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số M 382676 ngày
04/5/1998 diện tích đất 730 m² của hộ ông Phạm Văn H giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số 382728 ngày 04/5/1998 diện tích 730m2 hộ Phạm Thị S: Hồ
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hông H hộ S do Chi nhánh văn
phòng đăng đất đai huyện Giao Thủy cung cấp chỉ đơn đăng quyền sử dụng
đất của 2 hộ trong hệ thống đơn đăng quyền sử dụng đất của B lập năm
1997. Tại bản đồ năm 1995 ông H S đều diện tích đất 730 thể hiện tại
thửa số 324 tờ bản đồ số 15, bản đồ này có giá trị để cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, nvậy hộ ông H hộ S được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất hợp pháp. Từ khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông H sử
dụng đất xây dựng công trình trên diện tích đất được cấp từ nhiều năm nay
nhưng không ai có ý kiến gì.
Qua kết quả đo đạc thực tế thì thửa đất tranh chấp chỉ còn lại 1411 (thiếu
49 ) so với tổng diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ cụ
Phạm Thị S hộ ông Phạm Văn H được cấp. vậy diện tích h ông H và hcụ
S mỗi hộ sẽ bị trừ đi 24,5, chỉ còn 705,5 .
Xét thực tế 2 hộ đang sử dụng ngõ đi chung diện tích 45,4 , vậy mỗi
hộ sẽ bị trừ đi 22,7 làm ngõ đi chung nên sau khi trừ đi diện tích ngõ đi chung
thì mỗi hộ chcòn diện tích đất 682,8 m². Như vậy xác định diện tích đất di sản
để chia thừa kế của cụ S, cụ Ng, cụ V chỉ còn 682,8 m² ngôi nhà cấp 4 di sản
của cụ Ng để lại.
Kết quả định giá tài sản: Ngôi nhà Ngi cấp 4 diện tích 21m2 của cụ Ng có giá
10.938.600đồng; giá đất 700.000đồng/1m2. Như vậy tổng giá trị di sản thừa kế
8
682,8m2 đất x 700.000đồng = 477.960.000 đồng + nhà giá 10.938.600đồng =
488.898.600 đồng (làm tròn số 488.899.000đồng).
Xét về hàng thừa kế: Gồm các con của cụ S với cụ V con của cụ S với cụ
Ng thuộc hàng thừa kế thứ nhất, là 8 người: Bà H3, bà T, bà C, ông H2, ông H1, bà
Th, ông H, bà S1.
Theo nguyện vọng của các đồng thừa kế:H3 chỉ nhận hưởng phần di sản
thừa kế bằng các anh chị em khác, ông H1, Th nhận phần di sản của mình
nhưng cho ông H, ông H xin nhận phần di sản do ông H1 Th cho nhận nộp
án phí thay ông H1 Th. Xét nguyện vọng này tnguyện C được chấp nhận.
vậy di sản thừa kế sẽ được chia đều cho 8 người con, mỗi kỷ phần sẽ được
hưởng diện tích đất 1/8 x 682,8 = 85,31/8 giá trị ngôi nhà. Tính trị giá
thành tiền mỗi kỷ phần được hưởng 61.077.000đồng.
Xét về nhu cầu sở hữu, sử dụng di sản: Hiện tại ông H đang sinh sống trên
đất được cấp và một phần đất di sản, ông H2 ở thổ đất riêng nhưng sát với thửa đất
di sản thuận tiện cho việc khai thác sử đất, còn các đồng thừa kế khác đều đã
nơi riêng, không thực sự nhu cầu trực tiếp sử dụng. vậy nay giao cho ông
H và ông H2 trực tiếp sở hữu sử dụng di sản, các đồng thừa kế khác sẽ được thanh
toán bằng tiền là phù hợp.
Ông H được Th ông H1 cho kỷ phần thừa kế được hưởng nên ông H
sẽ được hưởng 256m² 3/8 giá trị ngôi nhà. Nếu giao ông H 256m2 đất chia di
sản thừa kế cộng với 682,8 m2 đất đã được N nước giao (tổng 938,8m2) thì
thể sẽ cắt vào ngôi nhà của cụ Ng. vậy nay giao ông H sử dụng diện tích đất
909m2 (gồm cả diện tích 70m2 ngõ) hiện tại đang sử dụng (trên đất vợ chồng ông
đã xây dựng các công trình), phần diện tích đất còn lại 502m2 giao cho ông H2 sử
dụng (trên đất ngôi nhà của cụ Ng), ông H2 nghĩa vụ thanh toán chênh lệch
cho các đồng thừa kế khác là phù hợp.
[4] Về lệ phí xem xét thẩm định định gtài sản: T đơn đề nghị
xem xét thẩm định, định giá tài sản tranh chấp tự nguyện chịu các khoản lệ phí
xem xét thẩm định, định g(bà T đã nộp 10.000.000đ tạm ng lệ phí xem xét
thẩm định, định giá, Tòa án đã chi cho Hội đồng xem xét thẩm định, định giá số
tiền 8.400.000đ, còn lại 1.600.000đ đã hoàn lại cho bà T).
[5] Về án phí dân sự thẩm: T, H3, C, ông H2 người cao tuổi,
đơn xin miễn tiền án phí, theo quy định của pháp luật sẽ được miễn án phí. Ông
H, ông H1,bà Th, S1 phải nộp án phí đối với phần di sản được chia theo quy
định pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự quyền kháng cáo theo quy định
tại Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật T tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 203 Luật đất đai; các Điều 649, 650, 651, 660 của Bộ luật
Dân sự; Điều 147, Điều 271 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết
9
số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Xử chấp nhận một phần yêu cu khi kiện của bà Phạm ThT về việc chia
di sản thừa kế.
Giao ông Phạm n H và Đỗ Thị N tiếp tc được quyền sử dụng diện
tích đất 682,8 m
2
đất được UBND huyện Giao Thủy cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất số M 382676 ngày 04/5/1998.
Chia ông H được quyền sử dụng 226,2m2 diện tích đất di sản thừa kế (phần
diện tích đất này nằm trong tổng diện tích đất 909m2 vợ cH ông đang quản sử
dụng).
Đất ông H N được cấp đất ông H được chia thừa kế tổng diện tích
909m2 (hiện trạng đang sử dụng), vị trí như sau: Phía Nam giáp đất nhà ông H2
dài 23,9m; Phía Bắc giáp ruộng lúa dài 19,2m; Phía Đông giáp ruộng lúa dài
38,2m; Phía Tây giáp đất ông H2 được chia dài 37,5m.
Chia ông H2 được quyền sử dụng diện tích đất 502m2 và được quyền sở hữu
ngôi nhà Ngi diện tích 21m2 xây dựng tn đất được chia.Vị trí như sau: Phía Nam
giáp ngõ đi chung dài 12,97m. Phía bắc giáp ruộng lúa dài 13,3m. Phía Đông giáp
ngõ đi của nhà ông H dài 37,5m. Phía Tây giáp đất bà P, ông S dài 38m.
Phần đất làm ngõ đi chung của ông H và ông H2 có diện tích 45,4m2.
(Có sơ đồ kèm theo)
Ông Phạm Bá H2 phải nghĩa vụ thanh toán cho các đồng thừa kế khác số
tiền cụ thể như sau:
- Thanh toán cho ông Phạm Văn H số tiền 20.860.000 đồng (Hai mươi triệu
tám trăm sáu ơi nghìn đồng).
- Thanh toán cho bà Phạm Thị H3, Phạm Thị T, Phạm Thị C,bà Phạm
Thị S1 mỗi người số tiền 61.077.000đồng (Sáu mươi mốt triệu không trăm bảy
mươi bảy nghìn đồng).
Ông Phạm Văn H và ông Phạm H2 được quyền đề nghị với quan nhà
nước thẩm quyền để điều chỉnh diện tích đất trong các Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất đã cấp cho hộ ông H, S đăng quyền sdụng đất theo đúng
quy định của pháp luật.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Phạm Văn H phải nộp 9.162.000 đồng (Chín triệu một trăm sáu mươi
hai nghìn đồng).
- Bà Phạm Thị S1 phải nộp 3.054.000 đồng (Ba triệu không trăm năm mươi
nghìn đồng).
Kể tngày bản án hiệu lực pháp luật người được thi hành án đơn yêu
10
cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến
khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải
chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại các
Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự quyền kháng cáo bản án trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Phạm Văn H1 quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ny kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án
dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền
thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị
cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 9 Luật Thi hành án dân
sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án
dân sự.
Nơi nhận:
- TAND Tỉnh;
- VKSND Tỉnh + Huyện;
- Chi cục THADS Huyện;
- UBND xã B;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án;
- Lưu văn phòng.
11
Tải về
Bản án số 17/2021/DS-ST Bản án số 17/2021/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất