Bản án số 17/2018/DSPT ngày 07/08/2018 của TAND tỉnh Thái Bình về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Thuộc tính
- Nội dung
- VB gốc
- VB liên quan
- Lược đồ
- Đính chính
- Án lệ
- BA/QĐ cùng nội dung
- Tải về
Tải văn bản
-
Bản án số 17/2018/DSPT
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Báo lỗi
Thuộc tính Bản án 17/2018/DSPT
| Tên Bản án: | Bản án số 17/2018/DSPT ngày 07/08/2018 của TAND tỉnh Thái Bình về tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|---|---|
| Quan hệ pháp luật: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Tòa án xét xử: | TAND tỉnh Thái Bình |
| Số hiệu: | 17/2018/DSPT |
| Loại văn bản: | Bản án |
| Ngày ban hành: | 07/08/2018 |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Áp dụng án lệ: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Đính chính: |
Đã biết
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây! |
| Thông tin về vụ/việc: | Tranh chấp hợp đồng vay tài sản Ch - H |
Tóm tắt Bản án
Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!
Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI BÌNH
Bản án số: 17/2018/DS-PT
Ngày: 07-8-2018
V/v tranh chấp hợp đồng vay
tài sản
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Hải Yến
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thái Hà;
Bà Nguyễn Thị Thanh Bình
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:
Bà Phạm Thị Dinh – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử
phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2018/TLPT-DS ngày 28 tháng 5 năm 2018
về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
33/2018/QĐXXPT-DS ngày 23 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ch (Tr), sinh năm 1964
Địa chỉ: Thôn T Th, xã H M, huyện H H, tỉnh Thái Bnh.
2. Bị đơn: Bà Bùi Thị H, sinh năm 1964
Địa chỉ: Thôn T X , xã H M, huyện H H, tỉnh Thái Bnh.
3. Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989
Địa chỉ: Thôn T X, xã H M, huyện H H, tỉnh Thái Bình
4. Người kháng cáo: bị đơn bà Bùi Thị H
(Các đương sự có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
- Nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Ch trình bày: Bà và bà H có mối quan hệ
bạn bè thân thiết. Do bà H cần tiền để mua đất nên bà H đã hỏi vay tiền bà Ch, bà
Ch đồng ý cho vay. Ngày 24/8/2015, bà Ch đã giao cho bà H số tiền 180.000.000
đồng và có viết giấy biên nhận (giấy biên nhận do bà H tự tay viết), trong giấy
2
biên nhận có ghi trả lãi suất nhưng không ghi cụ thể lãi suất bao nhiêu. Bà Ch
trình bày nếu bà H vay vài tháng thì bà Ch không yêu cầu tính lãi nhưng do bà H
vay thời gian dài và không có ý thức trả nợ cả gốc lẫn lãi nên bà Ch khởi kiện yêu
cầu bà H phải trả cho bà Ch toàn bộ tiền nợ gốc là 180.000.000 đồng và toàn bộ
số tiền lãi của số tiền trên kể từ tháng 8 năm 2015 đến nay theo lãi suất của Ngân
hàng nhà nước quy định.
- Bị đơn, bà Bùi Thị H trình bày: Bà và bà Ch có quan hệ bạn bè. Bà H
khẳng định bà H không vay số tiền 180.000.000 đồng như bà Ch trình bày. Sự
việc vay tiền theo giấy biên nhận ngày 24/8/2015 là do bà H có quen biết bà Đ
(giáo viên trường Trung học cơ sở xã ĐS, huyện ĐH, hiện bà Đ đã chết) nên giới
thiệu bà Đ với bà Ch. Ngày 24/8/2015 bà Ch và bà Đ hẹn nhau để bà Ch đưa cho
bà Đ số tiền 180.000.000 đồng để bà Đ chạy việc cho con dâu bà Ch vào biên
chế. Do trưa ngày hôm đó bà Đ bận không đến gặp bà Ch để lấy tiền được nên bà
Đ nhờ bà gặp bà Ch để lấy tiền hộ. Bà có nhận của bà Ch 180.000.000 đồng và có
viết giấy nhận hộ tiền với bà Ch, sau đó bà đã đưa lại toàn bộ số tiền đó cho bà Đ
vào ngày 25/8/2015, giữa bà Đ và bà có viết giấy biên nhận vay tiền. Bà H cho
rằng giấy biên nhận ghi ngày 24/8/2015 do bà Ch nộp cho Tòa án không phải là
chữ ký và chữ viết của bà. Nếu kết quả giám định là đúng chữ ký và chữ viết của
bà trong giấy biên nhận thì bà hoàn toàn chịu trách nhiệm.
- Người làm chứng, chị Nguyễn Thị H trình bày: ngày 24/8/2015, chị đi
cùng mẹ chồng chị là bà Nguyễn Thị Ch đi xuống nhà bà H ở thôn Tịnh Xuyên,
xã H M để giao cho bà H vay số tiền 180.000.000 đồng. Sau khi nhận xong số
tiền trên bà H đã viết giấy biên nhận vay tiền và cả hai bên cùng ký tên bên dưới,
chị cũng ký tên vào Giấy biên nhận ở mục người chứng kiến. Chị khẳng định
không có việc chị và mẹ chồng chị nhờ bà H hay bà Đ chạy việc vào biên chế như
bà H trình bày.
Tại bản kết luận số 04/KLGĐ-PC 54 ngày 01/02/2018 kết luận: Chữ viết
trên “Giấy biên nhận” đề ngày 24/8/2015 có ký hiệu A so với chữ viết của Bùi
Thị H trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu từ M1 đến M7 do cùng một người viết
ra. Tại bản kết luận số 11/KLGĐ – PC 54 ngày 26/02/2018 kết luận: Chữ ký
mang tên Bùi Thị H dưới mục “Người vay” trên “Giấy biên nhận” đề ngày
24/8/2015 có bút lục I so với chữ ký của Bùi Thị H tại cột “Tên giáo viên dậy”
trên tài liệu mẫu so sánh có bút lục X (ký hiệu M) do cùng một người ký ra.
- Bản án số 03/2018/DS-ST ngày 24/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện
HH, tỉnh Thái Bnh đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 26, điểm a, khoản 1, Điều 35; Điều 147; Điều 161; Điều
162; Điều 267 và Điều 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 471; Điều 473;
Điều 474; Điều 476; Điều 477 Bộ luật Dân sự năm 2005; Quyết định 2868/QĐ-
3
NHNN ngày 29/11/2010 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam; Pháp
lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về “Tranh chấp hợp đồng vay tài
sản” của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ch (Tr) đối với bị đơn bà Bùi Thị H.
2. Buộc bà Bùi Thị H phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Ch toàn bộ số
tiền nợ gốc là 180.000.000 đồng và lãi tạm tính đến ngày 24/4/2018 là 43.200.000
đồng. Tổng là 223.200.000 đồng (Hai trăm hai mươi ba triệu hai trăm nghn đồng
chẵn).
3. Buộc bà Bùi Thị H phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị Ch tiền chi phí
giám định chữ ký, chữ viết là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí; quyền kháng cáo cho các đương sự
và quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án theo quy
định của pháp luật.
- Ngày 30/4/2018, bà Bùi Thị H kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm
bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị
đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với
nhau về việc giải quyết vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến: Trong
quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố
tụng và nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng
dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều
308 của Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như
thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét
xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Bùi Thị H làm trong thời hạn luật
định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, cần chấp nhận
[2] Xét các nội dung kháng cáo của bị đơn:
[2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu bị đơn phải trả
toàn bộ số tiền nợ gốc là 180.000.000 đồng thấy: Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H
thừa nhận ngày 24/8/2015 bà Ch có đến nhà bà đưa số tiền 180 triệu và bà có viết
giấy nhận hộ số tiền trên (không phải giấy biên nhận) của bà Ch, đây là số tiền bà
Ch giao cho bà Đ để lo xin việc cho con dâu bà Ch là Nguyễn Thị H bà chỉ nhận
hộ bà Đ, ngày hôm sau (25/8/2015) bà đã giao luôn số tiền đó cho bà Đ, bà Đ viết
4
biên nhận với bà. Bà H cho rằng bản gốc giấy biên nhận tiền ngày 24/8/2015 lưu
trong hồ sơ không phải là giấy biên nhận bà đã viết cho bà Ch. Xét lời trình bày
của bà H thấy bà H thừa nhận ngày 24/8/2015 có nhận của bà Ch số tiền 180 triệu
đồng, có viết biên nhận và tại kết luận số 04/KLGĐ-PC 54 ngày 01/02/2018 và số
11/KLGĐ – PC 54 ngày 26/02/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh
Thái Bình kết luận chữ ký và chữ viết trong giấy biên nhận đúng là chữ ký và chữ
viết của bà H. Bà H không đồng ý với kết luận giám định nhưng không yêu cầu
giám định lại. Bà H thừa nhận các tài liệu mà cơ quan chuyên môn dùng làm mẫu
so sánh để giám định chữ ký, chữ viết của bà trong giấy biên nhận ngày
24/8/2015 bao gồm các phiếu đánh giá phân loại viên chức, sổ đầu bài do Trường
Tiểu học Lý Nam Đế cung cấp đúng là chữ viết và chữ ký của bà. Do đó khẳng
định có việc vay tiền giữa bà Ch với bà H và bà H là người viết, ký vào giấy biên
nhận vay tiền của bà Ch. Việc bà H cho rằng thực chất đây là số tiền bà nhận hộ
bà Ch để giao cho bà Đ nhờ xin việc cho chị H nhưng bà Ch không thừa nhận và
bà H cũng không có căn cứ nào khác để chứng minh. Do đó án sơ thẩm chấp
nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bà H phải thanh toán cho bà Ch số tiền nợ
gốc 180.000.000 đồng là hoàn toàn phù hợp có căn cứ. Vì vậy, không có cơ sở để
chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Việc bà H cho bà Đ vay tiền là một quan hệ
khác không liên quan đến vụ án này.
[2.2] Đối với yêu cầu tính lãi: Trong giấy biên nhận vay tiền ngày
14/8/2015 có ghi về lãi suất nhưng không ghi cụ thể mức lãi suất. Tòa án cấp sơ
thẩm căn cứ vào Quyết định 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Thống đốc
Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định lãi suất cơ bản là 9%/năm, tương ứng
với 0,75%/tháng và căn cứ vào khoản 2 Điều 476 của Bộ luật Dân sự 2005 để
tính lãi là phù hợp. Không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
[2.3] Về chi phí tố tụng: bà H không thừa nhận chữ ký, chữ viết trong
giấy biên nhận và kết quả giám định xác định đúng là chữ ký, chữ viết của bà H
nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Điều 161, 162 Bộ luật tố tụng dân sự buộc bà
H phải chịu chi phí giám định là phù hợp.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận
nên bà H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 148; khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Điều 471; 473; 474; 476; 477 Bộ luật dân sự 2005; khoản 4 Điều 26; khoản 1
Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý án phí, lệ phí

5
Tòa án.
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Bùi Thị H; Giữ nguyên bản
án sơ thẩm số 03/2018/DS-ST ngày 24/4/2018 của Tòa án nhân dân huyện H H,
tỉnh Thái Bình.
1.1. Buộc bà Bùi Thị H phải trả cho bà Nguyễn Thị Ch số tiền nợ gốc là
180.000.000 đồng và lãi tính đến ngày 24/4/2018 là 43.200.000 đồng. Tổng cộng là
223.200.000 đồng (Hai trăm hai mươi ba triệu hai trăm nghn đồng).
1.2. Buộc bà Bùi Thị H phải trả cho bà Nguyễn Thị Ch tiền chi phí giám
định chữ ký, chữ viết là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng)
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với
các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong
tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền
lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều
468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng
nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Về án phí: Bà Bùi Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc
thẩm. Chuyển số tiền 300.000đ bà H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số
0005155 ngày 03/5/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H H, tỉnh Thái Bình
sang thi hành án phí phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2,
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật
thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện quy định tại Điều 30
Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 07/8/2018./.
Nơi nhận:
-Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
- Tòa án, Chi cục THADS h H H;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
(đã ký)
Lương Hải Yến
6
Tải về
Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!
Bản án/ Quyết định cùng đối tượng
1
Ban hành: 03/12/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
2
Ban hành: 24/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
3
Ban hành: 17/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
4
Ban hành: 03/11/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
5
Ban hành: 29/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
6
Ban hành: 24/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
7
Ban hành: 23/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
8
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
9
Ban hành: 22/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
10
Ban hành: 16/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
11
Ban hành: 15/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
12
Ban hành: 12/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
13
Ban hành: 09/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
14
Ban hành: 06/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
15
Ban hành: 04/10/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
16
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
17
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
18
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
19
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm
20
Ban hành: 30/09/2025
Cấp xét xử: Phúc thẩm