Bản án số 164/2023/HS-PT ngày 09-06-2023 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng tội danh
  • Tải về
Tải văn bản
  • 164-2023-HS-PT-TP-HCM

    Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

  • 164-2023-HS-PT-TP-HCM

    Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 164/2023/HS-PT

Tên Bản án: Bản án số 164/2023/HS-PT ngày 09-06-2023 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
Tội danh: 341.Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 164/2023/HS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 09/06/2023
Lĩnh vực: Hình sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ án: Bùi Minh T phạm tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PH H CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập Tự do – Hạnh phúc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PH H CHÍ MINH
- Thành phn Hội đồng xét x phúc thm gm có:
Thm phán - Ch ta phiên tòa: Ông Ngô Đức Th.
Các Thm phán: 1. Ông S Hng Nam
2. Ông Hoàng Bích Sơn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Hưng – Thư ký Tòa án.
- Đại din Vin kim sát nhân dân Thành ph H Chí Minh tham gia
phiên tòa: Bà Mnh Th Tú Uyên - Kim sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2023, ti tr s Tòa án nhân dân Thành ph H Chí
Minh xét x phúc thm công khai v án hình s phúc thm th s
66/2023/TLPT-HS ngày 20/02/2023, đối vi các b cáo Bùi Minh T, Nguyn
Hi T1, Hunh Minh T2, Văn T3 Lâm T4 do kháng cáo ca các b cáo
đối vi bn án hình s thm s 167/2022/HSST ngày 23/11/2022 ca Tòa án
nhân dân Qun 8, Thành ph H Chí Minh.
- B cáo có kháng cáo:
1. Bùi Minh T (tên gi khác: M); sinh năm: 1993, ti: Thành ph H Chí
Minh; nơi đăng thường trú: S 47/35 đường T, Phường I (nay phưng H),
Qun K, Thành ph H Chí Minh; ch : S 294/2 đưng P, Phường A, Qun
B, Thành ph H Chí Minh; ngh nghiệp: Lao động t do; trình độ hc vn:
12/12; dân tc: Kinh; gii tính: Nam; tôn giáo: Không; quc tch: Vit Nam; con
ông Bùi Ha M bà Nguyn Th H; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tin s:
Không. B cáo ti ngoi. Vng mt.
2. Nguyn Hi T1; sinh năm: 1985, ti: Qung Nam; nơi đăng thường
trú: S 65 đường 6, Khu ph 2, phường Hip Bình Chánh, thành ph Th Đức,
Thành ph H Chí Minh; ch : S 163 Nguyễn Văn Thương (D1 cũ), Phường
25, qun Bình Thnh, Thành ph H Chí Minh; ngh nghiệp: Lao động t do;
trình độ hc vn: 12/12; dân tc: Kinh; gii tính: Nam; tôn giáo: Không; quc
tch: Vit Nam; con ông Nguyn Quc Huy và bà Th Kim Thúy; v:
Nguyn Th Ngc Châu (đã ly hôn 2021) 01 người con, sinh năm: 2014;
tin án: Không; tin s: Không. B cáo ti ngoi. Có mt.
3. Hunh Minh T2; sinh năm: 1991, ti: Thành ph H Chí Minh; nơi
đăng thường trú: S 44 đường F, phường C, thành ph D, Thành ph H
Bn án s: 164/2023/HS-PT
Ngày: 09/6/2023.
2
Chí Minh; ch : S 237/70/15 đường T, Phường E, qun F, Thành ph H Chí
Minh); ngh nghiệp: Lao đng t do; trình độ hc vn: 12/12; dân tc: Kinh;
gii tính: Nam; tôn giáo: Không; quc tch: Vit Nam; con ông Huỳnh Văn M
(đã chết) Đng Th Thu H; v (ly hôn năm 2019) 02 con, sinh
năm 2011 và 2015; tin án: Không; tin s: Không. B cáo ti ngoi. Có mt.
4. Lê Văn T3; sinh năm: 1993, ti: Thành ph H Chí Minh; nơi đăng
thưng trú: th trn I, huyn K, tnh Ra - Vũng Tàu; ch : S 60/12F2 t
77B, KP7, phường L, Qun M, Thành ph H Chí Minh; ngh nghip: Nhân
viên văn phòng; trình đ hc vn: 12/12; dân tc: Kinh; gii tính: Nam; tôn
giáo: Không; quc tch: Vit Nam; con ông Văn Q và bà Nguyn Th L; v,
con: Chưa có; tiền án: Không; tin s: Không. Bo ti ngoi. Có mt.
5. Lâm T4; sinh năm: 1991, ti: Sóc Trăng; nơi đăng thường trú: 16
đưng A, Phường X, thành ph Y, tỉnh Sóc Trăng; ch : S 384 đưng B,
Phường S, qun T Thành ph H Chí Minh; ngh nghiệp: Buôn bán; trình đ
hc vn: 12/12; dân tc: Hoa; gii tính: Nam; tôn giáo: Không; quc tch: Vit
Nam; con ông Lâm Quang M Phm Th V; v 01 người con, sinh
năm: 2019; tiền án: Không; tin s: Không. Bo ti ngoi. Có mt.
- Người bào cha cho b cáo Lâm T4: Ông Phan a N - Luật ca
Công ty Lut TNHH T, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H Chí Minh. Có mt.
NI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu trong hồ ván diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ 30 phút, ngày 09/9/2021, tại trước số 53 đường đường X,
phường A, Quận V, Thành phố Hồ Chí Minh, tổ công tác phòng PC02 Công an
Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp cùng Công an Quận V, Thành phố Hồ Chí
Minh tiến hành kiểm tra hành chính đối với Lâm T4 hành vi vi phạm Chỉ
thị 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện các biện
pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19. Qua kiểm tra, lực lượng Công an
tạm giữ của T4 01 xe gắn máy biển số 83P4-419.58, 01 điện thoại di động hiệu
Samsung A7 màu xanh, gắn sim số 0944778896, 19 giấy đi đường của Phòng
Cảnh sát Giao thông Đường bĐường sắt Công an thành phố Hồ Chí Minh (đã
n, đóng dấu, chưa thông tin người được cấp giấy), 02 giấy đi đường của
Phòng Cảnh sát Giao thông Đường bộ Đường sắt Công an thành phố Hồ Chí
Minh (có số thứ tự 1B-NHNN-2850 mang tên Lâm T4 số thứ tự 1B-NHNN-
2850 không ghi thông tin tên người trên giấy, ghi địa chỉ, quan làm việc
Ngân ng Thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam) số tiền 1.850.000
đồng (T4 khai nhận của khách mua giấy đi đường trước đó). Qua xác minh, Công
an tiến hành mời những người liên quan gồm: Văn T3, Nguyễn Hải T1
Bùi Minh T làm việc. Công an tạm giữ của T3 02 điện thoại di động (hiệu
Iphone 11 Huawei), của T1 02 điện thoại di động (hiệu Iphone X Iphone
6), của Tân 02 điện thoại di động (hiệu Masstel Redmi Note 7 Pro). Riêng
Huỳnh Minh T2 trước đó đã đến Công an phường G, Quận H, Thành phố Hồ
Chí Minh tự thú và giao nộp 16 giấy đi đường của Phòng Cảnh sát Giao thông
3
Đường bộ Đường sắt Công an thành phố Hồ Chí Minh (đã ký tên, đóng dấu, chưa
thông tin người được cấp giấy) số tiền 7.200.000 đồng (tiền n giấy đi
đường) ng 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi của Bùi Minh T tại số 294/2 đường P,
Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (đây là nhà thuê, không giấy tờ
chủ quyền nằm trong khu quy hoạch, T sử dụng một phần phòng của mình
trong căn nhà để lén lút làm giả con dấu, tài liệu và chủ nhà không hay biết),
Công an thu giữ: 64 giấy đi đường của Phòng Cảnh sát Giao thông Đường bộ
Đường sắt ng an Thành phố Hồ CMinh (chưa tên, đóng dấu), 02 giấy đi
đường của Phòng Cảnh sát Giao thông Đường bộ Đường sắt ng an thành phố
Hồ Chí Minh (đã tên, đóng dấu, chưa thông tin người được cấp giấy), 07
giấy xác nhận đã tiêm vắc xin Covid-19 ược đóng dấu tròn của Trạm y tế
phường H), 20 mẫu giấy xác nhận đã tiêm vắc xin Covid-19, 05 tờ phim âm bản
mẫu hình dấu, 01 dấu tên “Phạm ThThanh T”, 01 dấu tên “BS.Mỹ Chi”, 01
con dấu tròn Png Cảnh sát Giao tng Đường bộ Đường sắt Công an thành ph
Hồ Chí Minh, 01 hình dấu tròn Ngân hàng thương mại F chi nhánh Bình Dương,
01 phôi hình dấu tròn “Trạm y tế Phường P, 01 phôi hình dấu tròn “Công ty
TNHH TM-DV HKN”, 01 mộc đóng số, 05 tờ giấy nylon để làm hình dấu, 01
dấu tên “BS.Phạmn T”, 01 dấu tên “Nguyễn Thị Kiều O”, 01 dấu tên “Nguyễn
Ái P”, 02 mộc dấu chưa gắn tên, 01 máy làm con dấu không hiệu, 01 Laptop
hiệu Gateway, 03 máy in, 01 màn hình vi tính, 01 bàn phím, 01 CPU hiệu HP, 01
USB, các dụng cụ kc để phục vụ việc làm con dấu và giấy tờ giả.
Trong cùng ngày 09/9/2021, Phòng PC02 của Công an Thành phố Hồ Chí
Minh chuyển toàn bộ vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát Điều trang an Quận B thụ
giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 10/9/2021, Cơ quan Cảnh sát Điu tra Công an Qun 8 ra Quyết định
trưng cầu giám định s 357, trưng cầu Phòng K thut nh s ca Công an
Thành ph H Chí Minh giám định 01 con du tròn Phòng Cnh sát Giao thông
Đưng b Đưng st Công an Thành ph H Chí Minh 39 t giấy đi đường
thu gi ca Bùi Minh T, Lâm T4 Hunh Minh T2. Cùng ngày 10/9/2021,
Phòng K thut Hình s Công an Thành ph H Chí Minh có kết luận giám định
s 4980/KLGĐ-TT: Ch ký mang tên thượng Nguyễn Đình Dương trên 39
giấy đi đường gi. Hình du tròn trên các tài liu cần giám đnh gi. Con
du tròn Phòng Cảnh sát Giao thông Đường b Đưng st ng an Thành ph
H Chí Minh là gi. Hình du tròn trên 02 tài liu thu gi ca Bùi Minh T đưc
làm gi bằng phương pháp in phun u. Hình dấu tròn nội dung “Phòng
Cảnh Sát Giao Thông Đường B Đưng St Công An Thành Ph H Chí
Minh trên các giấy đi đường nêu trên được đóng ra t con du tròn Phòng cnh
sát giao thông đường b đưng st ng an Thành ph H Chí Minh gi giám
định.
Ngày 30/11/2021, quan Cảnh sát Điều tra Công an Qun B ra Quyết
định trưng cầu giám định s 463, trưng cầu Phòng K thut Hình s Công an
Thành ph H Chí Minh giám định 01 hình tròn “Ngân hàng thương mi
4
TAIPEI FUBON Chi nhánh Bình Dương, 01 phôi hình dấu tròn “Trạm y tế
Phường Phú Hữu”, 01 phôi hình dấu tròn “Công ty TNHH TM-DV HKN”, 07
giy xác nhận đã tiêm vc xin Covid-19, được đóng du tròn ca Trm y tế
Phường P 06 ch được đóng tên “BS. M Ctrên 06 giấy xác nhận đã
tiêm vc xin Covid-19 được đóng dấu tròn ca Trm y tế Phường P. Ngày
07/12/2021, Phòng K thut Hình s Công an Thành ph H Chí Minh kết
luận giám định s 6429/KLGĐ-TT: 01 hình tròn “Ngân hàng thương mi F Chi
nhánh Bình Dương, 01 phôi hình dấu tròn “Trm y tế Phường Phú Hữu”, 01
phôi hình dấu tròn “Công ty TNHH TM-DV HKN” là gi; 07 giy xác nhận đã
tiêm vc xin Covid-19, được đóng dấu tròn ca Trm y tế Phường Phú Hu
được đóng ra từ mu cần giám đnh; 06 ch được đóng tên “BS.Lê M Chi”
trên 06 giy xác nhận đã tiêm vắc xin Covid-19 được đóng du tròn ca Trm y
tế Phường Phú Hu không phi do cùng một người ký ra.
Ngày 10/02/2022, quan Cảnh sát Điều tra Công an Qun B ra Quyết
định trưng cầu giám định s 70, trưng cầu Phòng K thut Hình s Công an
Thành ph H Chí Minh giám định 01 t giấy đi đường do Phòng Cnh sát Giao
thông Đưng b Đưng st Công an Thành ph H Chí Minh cp cho Nguyn
Văn T; 02 tờ giấy đi đường do Phòng Cnh sát Giao thông Đường b Đưng st
Công an Thành ph H Chí Minh cp, không ghi thông tin v người được cp
(thu gi ca Đặng Thanh P). Ngày 15/02/2022, Phòng K thut Hình s Công an
Thành ph H Chí Minh kết luận giám định s 1086/KLGĐ-TT: Ch
mang tên Thượng tá Nguyễn Đình Dương trên 03 tờ giấy đi đường gi, hình
du tròn có nội dung “PHÒNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG ĐƯỜNG B
ĐƯNG ST-CÔNG AN THÀNH PH H CHÍ MINH” trên 03 t giấy đi
đường được đóng ra từ con du tròn thu gi ca Bùi Minh Minh Tân.
Tại quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 8: Bùi Minh T, Lâm T4,
Văn T3, Nguyễn Hải T1Huỳnh Minh T2 khai nhận:
T T1 mối quan h bạn quen biết ngoài hội từ năm 2018.
Khoảng cuối tháng 7/2021, do nhận thấy nhu cầu người dân và các doanh
nghiệp cần làm giấy đi đường trong thời gian Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện
giãn cách hội giấy xác nhận đã tiêm vắc xin Covid-19; nên T nảy sinh ý
định rủ T1 ng tham gia làm giả các loại giấy tờ nêu trên để bán cho những
người cần sử dụng, qua đó kiếm tiền tiêu xài thì được T1 đồng ý. Thực hiện ý
định trên, T đã mua thêm một một số máy móc, thiết bị, dụng cụ cùng với một
số máy móc, thiết bị các dụng cụ T đã sẵn để thực hiện việc làm giấy tờ
giả như trên. T đã sử dụng Laptop, máy in, máy làm dấu, mộc các dụng cụ
khác để làm giấy đi đường giả theo mẫu do Phòng Cảnh t Giao thông Đường
bộ Đường sắt ng an Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Sau đó, thông qua mạng xã
hội, T1 rủ T2, T3 một người thanh niên tên L (còn gọi T, không lai lịch,
địa chỉ); T rủ T4 cùng tham gia. T lập nhóm Zalo riêng với tên gọi “ĐAM
KIẾM TIỀN” để liên lạc với T1, T2, T3, T4 và L.
Kể tngày 09/9/2021, T1 đăng quảng cáo bán giấy đi đường lên nhóm
Facebook “Shipper sài gòn ship IKI SHIP TP.HCM”, “SHIPPER LIÊN
5
QUẬN SÀI GÒN”, “Chợ tốt TP.HCM (sài gòn) đăng nội dung: Hỗ trợ làm giấy
đi đường (PC08) giấy xác nhận tiêm vắc xin mũi 1 mũi 2. Tân là người
quản chung, chuẩn bị trang thiết bị, nghiên cứu các mẫu giấy tờ của quan,
tổ chức và trực tiếp làm giả các con dấu và tài liệu của cơ quan, tổ chức. T3 và L
nhiệm vụ đăng tải trên mạng hội đtìm khách mua giấy đi đường giả rồi
thông báo cho T1 biết, sau đó T1 tổng hợp lại số lượng đbáo cho T làm giả
giấy tờ bán cho khách; Huỳnh Minh T2 Lâm T4 nhiệm vụ đi giao giấy đi
đường giả cho khách nhận tiền của khách. Ngày 02/9/2021, khi máy móc,
thiết bị đã đầy đủ thì T đã làm giả ra nhiều loại giấy tờ xác nhận tiêm vắc xin
Covid-19 (con dấu của Trung tâm y tế phường P, quận D) nhiều giấy đi
đường (con dấu của Phòng Cảnh t Giao thông Đường bộ Đường sắt Công an
Thành phố Hồ Chí Minh). T quy định mỗi bgiấy tgiả giao cho T4, T3, T2và
L thì T thu v1.000.000 đồng, số tiền này T sẽ chia cho T1 600.000 đồng, T
hưởng 400.000 đồng, T3 hoặc L hưởng từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng/tờ;
T4 T2 nếu giao 01 tờ thì được hưởng 200.000 đồng, giao 02 tờ thì được
hưởng 300.000 đồng, giao 03 tờ thì được hưởng 400.000 đồng. Riêng giấy tờ
xác nhận tiêm vắc xin Covid-19, T thu về 600.000 đồng. Trong các ngày 08
09/9/2021 15 người (không lai lịch) đặt mua của T3 19 giấy đi đường giả
và T3 đã nói cho T1 biết để T1 nói T làm giả giấy đi đường. Vào khoảng 14 giờ
30 phút, ngày 08/9/2021, T giao cho T4 22 giấy đi đường giả để đem đi giao cho
khách. Trong đó theo yêu cầu của T3, T1 nhờ T4 đưa dùm cho T3 02 giấy đi
đường giả để T3 ghi tên T3 vào giấy đi đường nhằm thuận tiện đi lại giao giấy
tờ giả cho khách. Sau đó, T4 điều khiển xe gắn máy đi giao 01 giấy đi đường giả
cho anh Nguyễn Văn Th và thu của anh Th số tiền 1.800.000 đồng; đồng thời,
Trực giao 03 giấy đi đường giả cho ông Đặng Thanh P thu của ông P số tiền
5.400.000 đồng. Đến khoảng 10 giờ, ngày 09/9/2021, T giao cho Thạnh 20 giấy
đi đường giả tại đường C, Phường E, Quận F. Sau đó, T3 điều khiển xe gắn máy
biển số 83P4 - 419.58 giao 01 giấy đi đường giả cho 01 người thanh niên (không
lai lịch) tại trước số 384 đường H, Phường E, Quận F, Thành phố Hồ Chí
Minh thu số tiền 1.850.000 đồng. Sau đó, Thạnh tiếp tục đi giao giấy đi
đường giả cho khách; khi đến trước số 53 đường X, phường A, Quận V, Thành
phố Hồ Chí Minh thì Thạnh bị lực lượng Công an phát hiện như nêu trên.
Đến thời điểm bị phát hiện, T4 đã bán 04 giấy đi đường giả được
7.200.000 đồng, T3 đã bán 01 giấy đi đường giả được 1.850.000 đồng; số tiền thu
lợi tổng cộng 9.050.000 đồng, nhưng chưa kịp chia tiền thì bị Công an phát
hiện bắt giữ.
Trong thời gian từ ngày 08/9/2021 đến 09/9/2021, T3 sử dụng giấy đi
đường giả của T1 đưa để ghi thông tin của T3 lên giấy này và sử dụng đi qua các
chốt kiểm soát trong thời gian giãn cách hội. Tuy nhiên, T3 không nhớ cụ
thể chính xác về vị trí, địa điểm của các chốt kiểm soát dịch, cũng như thời gian
cụ thể mà T3 đã sử dụng Giấy đi đường giả để đi qua từng chốt kiểm soát dịch.
Qua điều tra, anh Nguyễn Văn Th, ông Đặng Thanh P, chị Ngô Thị Thanh
H khai nhận:
6
Anh Th đã mua 01 giấy đi đường giả của nhóm T làm ra và ông P đã mua
03 giấy đi đường giả của nhóm T làm ra; cả anh Th và ông P đều chưa sử dụng.
Anh Th tự nguyện giao nộp lại 01 giấy đi đường giả đã mua của nhóm T ông
P tự nguyện giao nộp lại 02 giấy đi đường giả đã mua của nhóm T (còn lại 01
giấy đi đường giả đã bị ướt nhàu nát, không còn nguyên vẹn; nên ông P đã
vứt bỏ).
Chị H không quen biết không đặt ai làm giấy tờ xác nhận đã tiêm vắc
xin Covid-19.
Vic thu gi, tm gi tài liu, đồ vt x vt chng liên quan:
- 42 giấy đi đường giả của Phòng Cảnh sát Giao thông Đường bộ Đường
sắt Công an Thành phố Hồ Chí Minh (trong đó: 38 giấy đã tên, đóng dấu,
chưa ghi thông tin người được cấp giấy; 01 giấy đã tên, chưa đóng dấu, chưa
ghi thông tin người được cấp giấy; 01 giấy đã tên, đóng dấu, ghi thông tin
người được cấp giấy tên Nguyễn Văn Th, sinh năm 1977; 01 giấy đã ký tên, đóng
dấu, ghi thông tin người được cấp giấy tên Lâm T4, sinh năm 1991; 01 giấy đi đã
tên, đóng dấu, không ghi thông tin tên người trên giấy, có ghi địa chỉ quan
làm việc là Ngân ng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu V); 07 giấy xác nhận
đã tiêm vắc xin Covid-19 giả, được đóng dấu tròn của Trạm y tế Phường P
(trong đó: 03 giấy xác nhận đã tiêm mũi 1 vắc xin Covid-19, ghi thông tin người
được cấp giấy Ngô Thị Thanh H, sinh năm 1987; 04 giấy xác nhận tiêm vắc
xin Covid-19, chưa ghi thông tin người được cấp giấy). Hiện 42 giấy đi đường
giả 07 giấy xác nhận đã tiêm vắc xin Covid-19 giả đang được lưu theo hồ
vụ án.
- 64 mẫu giấy đi đường của Phòng CSGT ĐB-ĐS/CA TP.HCM chưa
tên, đóng dấu; 20 mẫu giấy xác nhận đã tiêm vắc xin Covid-19, chưa đóng dấu;
05 tphim âm bản mẫu hình dấu; 01 dấu tên “Phạm Thị Thanh T, 01 dấu tên
“BS Lê Mỹ C”; 01 con dấu tròn Phòng CSGT ĐB-ĐS/CA TP.HCM; 01 hình dấu
tròn Ngân hàng thương mại F chi nhánh Bình Dương; 01 phôi hình dấu tròn
“Trạm y tế Phường Phú Hữu”; 01 phôi hình dấu tròn “Công ty TNHH TM-DV
HKN”; 01 mộc đóng số; 05 tờ giấy nylon để làm hình dấu; 01 dấu tên “BS Phạm
Văn T”, 01 dấu tên “Nguyễn Thị Kiều O”, 01 dấu tên “Nguyễn Ái P”; 01 hộp
mực; 02 mộc dấu chưa gắn tên; 01 mộc dấu ngày, tháng, năm; 01 hộp bột màu
trắng; 05 tờ giấy kiếng; 01 chai keo hiệu Photopolymer; 02 tấm kính kích thước
10x12cm; 02 tấm kính kích thước 24x30cm; 05 miếng tăm bông màu; 01 chai
mực màu đỏ; 02 cuộn rom máy in; 01 con dao rọc giấy màu đỏ; 01 máy làm con
dấu không hiệu; 01 Laptop hiệu Gateway; 03 máy in hiệu Canon; 01 màn
hình vi tính hiệu Samsung; 01 bàn phím; 01 CPU hiệu HP; 01 USB không
hiệu; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6; 02 điện thoại di động hiệu Iphone 11
Huawei; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7; 01 điện thoại di động hiệu
Redmi Note 7 Pro; 01 điện thoại di động hiệu Samsung A7; số tiền 1.850.000
đồng (do T3 bán 01 giấy đi đường) và số tiền 7.200.000 đồng (do T4 n 01 giấy
đi đường cho anh Thạch và 03 giấy đi đường cho ông P). Hiện quan Cảnh t
7
Điều tra Công an Quận 8 đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sQuận 8
quản lý theo quy định.
- Xe gắn máy, biển số 83P4 - 419.58 do ông Lâm Quang M (cha ruột của
Lâm T4) mua và nhờ T4 đứng tên chủ sở hữu, việc T4 dùng xe làm phương tiện
phạm tội nhưng ông M không biết; nên quan Cảnh sát Điều tra Công an
Quận 8 lập biên bản trả lại chiếc xe cho ông M.
- Xe gắn máy mà T3sử dụng làm phương tiện đi bán giấy đi đường giả do
T3 mượn của người quen (không rõ địa chỉ, không nhớ biển số xe) để sử dụng đi
lại và T3đã sử dụng làm phương tiện phạm tội, nhưng chủ xe không biết; sau khi
ra tự thú, T3 đã trả lại chiếc xe.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone X của Nguyễn Hải T1, 01
điện thoại di động hiệu Masstel của Bùi Minh T; do không liên quan đến vụ án,
nên quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 8 trả lại các chiếc điện thoại di
động này cho T1 và T.
Đối với người thanh niên tên L (còn gọi T), do không xác định được
nhân thân, lai lịch; nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 8 không đủ căn
cứ để xử lý trong vụ án này.
Đối với anh Nguyễn Văn Th, ông Đặng Thanh P hành vi mua giấy đi
đường giả nêu trên và chưa sử dụng, đồng thời đã tự nguyện giao nộp lại cho
quan điều tra; nên Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 8 không xử lý.
Đối với chị Ngô Thị Thanh H không thừa nhận việc đặt mua 03 giấy xác
nhận đã tiêm mũi 1 vắc xin Covid-19 do nhóm của T bán, nên Cơ quan Cảnh sát
Điều tra Công an Quận 8 không đủ căn cđể xử lý.
Ti bn án hình s thẩm s 167/2022/HSST ngày 23/11/2022 ca Tòa
án nhân dân Qun 8, Thành ph H Chí Minh, đã tuyên xử:
- Căn cứ vào đim a khoản 3 Điều 341; điểm a khoản 1 Điều 52; điểm s
Khon 1 Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 B lut hình
s năm 2015 (sửa đổi, b sung năm 2017);
X pht:
1/ B cáo Bùi Minh T 04 (bốn) năm , v ti “Làm giả con du, tài liu
của quan, tổ chức”. Thi hn tù tính t ngày bt b o chp nh án.
2/ B cáo Nguyn Hi T1 03 (ba) năm , v ti “Làm giả con du, tài liu
của quan, tổ chức”. Thời hn tù tính t ngày bt bo chpnh án.
3/ B cáo Văn T3 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng , v ti “Làm giả con
du, tài liu của cơ quan, tổ chức”. Thời hn tù tính t ngày bt b o chp hành
án.
- Căn cứ vào đim a khoản 3 Điều 341; điểm a khoản 1 Điều 52; các
đim: a, r, s Khon 1 Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58
B lutnh s năm 2015 (sửa đổi, b sung năm 2017);
X pht:
8
4/ B cáo Hunh Minh T2 03 (ba) năm tù, v ti “Làm giả con du, tài liu
của quan, tổ chức”. Thi hn tù tính t ngày bt b o chp nh án.
- Căn cứ vào đim a khoản 3 Điều 341; điểm a khoản 1 Điều 52; điểm s
Khon 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 Khon 1
Điu 341; các điểm: i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 cùng Điu 55 B
lut hình s năm 2015 (sửa đổi, b sung năm 2017);
X pht:
5/ B cáo Lâm T4 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, v ti “Làm gi con du,
tài liu của cơ quan, t chc” và 06 (sáu) tháng , v ti “S dng tài liu gi ca
cơ quan, tổ chc”. Tng hp hình pht chung ca c 02 (hai) ti, buc b cáo
Lâm T4 phi chp hành 04 (bốn) năm tù. Thi hn tính t ngày bt b o
chp hành án.
- V hình pht b sung: Không pht b sung đối vi b cáo Bùi Minh T,
Nguyn Hi T1, Lê Văn T3, Hunh Minh T2, Lâm T4.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng
cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 12/12/2022, các b cáo Bùi Minh T, Nguyn Hi T1, Văn T3,
Hunh Minh T2, Lâm T4 kháng cáo đối vi bn án hình s thẩm ca Tòa án
nhân dân Qun 8, xin gim nh hình pht và xin hưởng án treo.
Ti phiên tòa phúc thm: b cáo Bùi Minh T vng mt, các b cáo Nguyn
Hi T1, Lê Văn T3, Hunh Minh T2, Lâm T4 gi nguyên yêu cu kháng cáo xin
xem xét gim nh hình pht xin hưởng án treo mức án thẩm quá
nghiêm khc.
Trong phn tranh luận, đại din Vin kim sát thc hành quyn công t
sau khi tóm tt ni dung v án, phân tích v tính cht, mức độ phm tinhân
thân b cáo, ng như tình tiết gim nh trách nhim hình s, đã kết luận đủ căn
c xác định bản án thm xét x các b cáo Bùi Minh T, Nguyn Hi T1,
Văn T3, Hunh Minh T2, v ti m gi con du,i liu của cơ quan, tổ chc;
b cáo Lâm T4 v các ti “Làm giả con du, tài liu của cơ quan, tổ chc” và ti
“S dng tài liu gi của quan, tổ chc” theo quy định ti đim a khon 3
Điu 341 và Khoản 1 Điều 341 B lut Hình s năm 2015 được sửa đổi, b sung
năm 2017 sở pháp lut. Sau khi xét x thẩm, các b cáo kháng cáo
trong thi hn luật địnhhp l nên cần được xem xét.
B cáo Bùi Minh T vng mt ti phiên tòa, mặc dù đã đưc tống đt quyết
định đưa vụ án ra xét x hp l (b cáo đã đơn xin hoãn phiên tòa lần 1 và đã
đưc Hội đồng xét x chp nhn), vic b cáo vng mt không làm cn tr đến
quá trình xét x nên Hội đồng xét x quyết định vn tiến hành xét x
s.
Xét, các b cáo Bùi Minh T, Nguyn Hi T1, Lê Văn T3, Hunh Minh T2,
Lâm T4 kháng cáo xin gim nh hình pht nhưng ti phiên tòa phúc thm không
thêm tình tiết gim nh mi, riêng b cáo T1 tình tiết gim nh mi
9
xác nhận gia đình có hoàn cảnh khó khăn và cha bị cáo là ngưi có công vi đất
c. Tuy nhiên mc án cấp thẩm đã tuyên phạt đối vi tng b cáo
phù hp so vi tính cht, mức độnh vi phm ti ca các b cáo.
Do đó, đề ngh Hội đồng xét x áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 B lut
T tng hình s, không chp nhn kháng cáo ca các b cáo Bùi Minh T,
Nguyn Hi T1, Văn T3, Hunh Minh T2, Lâm T4 gi nguyên bản án
thm.
Luật sư bào chữa cho b cáo Lâm T4 trình bày ý kiến: Đối vi ti danh xét
x b cáo v tội “Sử dng tài liu gi của cơ quan, tổ chức” đề ngh Hi đồng xét
x xem xét li, bi l hành vi s dng tài liu gi ch phương tiện th hin vai
trò đồng phm ca b cáo, phải được thu hút vào ti danh “Làm giả con du,
tài liu của quan, tổ chức” bị cáo đã bị truy t, xét x với vai trò đng
phm. V ti danh “Làm giả con du, tài liu của quan, tổ chức” vai trò
đồng phm giúp sức, đề ngh Hội đồng xét x xem xét phân hóa vai trò ca b
cáo so vi các b cáo khác mc hình pht phù hp, t đó xem xét giảm
nh hình pht cho b cáo.
Các b cáo Nguyn Hi T1, Văn T3, Hunh Minh T2 Lâm T4
không tranh lun, ch xin xem xét gim hình pht đã nhận thức được hành vi
vi phm pháp lut ca nh mong mun nhận được mc án khoan hng để
làm li cuộc đời.
Căn cứ vào các chng ctài liệu đã được thm tra tại phiên tòa; căn cứ
vào kết qu tranh lun tại phiên tòa, trên s xem xét đầy đủ toàn din chng
c, ý kiến ca Kim sát viên và b cáo.
NHẬN ĐỊNH CA TÒA ÁN:
Trên cơ sở ni dung v án,n c vào các tài liu trong h v án đã đưc
tranh tng ti phiên a, Hội đng xét x nhận định như sau:
[1] B cáo Bùi Minh T kháng cáo nhưng vắng mt ti phiên tòa, gia đình
ca b cáo nộp đơn xin hoãn phiên tòa đề ngày 07/6/2023. Xét thấy trước đó bị
cáo đã nộp đơn xin hoãn phiên tòa xét x vào ngày 14/4/2023 đã đưc Hi
đồng xét chp nhn, vic b cáo vng mt ti phiên tòa xét x ln này không gây
tr ngi cho vic xét x nên Hội đồng xét x vn tiến hành xét x theo quy định
tại điểm c khoản 1 Điều 351 B lut t tng hình s.
[2] Đơn kháng cáo của các b cáo làm trong thi hn luật đnh là hp l
nên thuc thm quyn gii quyết ca Tòa án cp phúc thm.
V hành vi, quyết định t tng của quan Cảnh sát điều tra Công an
Qun 8, Thành ph H Chí Minh, Điều tra viên, Kim sát viên Vin Kim sát
nhân dân Qun 8, Thành ph H Chí Minh trong quá trình điu tra, truy t đã
thc hiện đúng về thm quyn, trình t quy định ca B lut t tng hình s.
[3] Ti phiên tòa, các b cáo Nguyn Hi T1, Lê Văn T3, Hunh Minh T2,
Lâm T4 đã khai nhận toàn b hành vi phm ti ca mình phù hp vi ni dung
bản án sơ thẩm và bn cáo trng truy t; phù hp vi các tài liu, chng c: biên
10
bn bt ngưi, biên bn thu gi vt chng, li khai ca người làm chng, cùng
các tài liu, biên bn v hoạt động t tng khác của Cơ quan điều tra đã thu thập
có trong h sơ vụ án.
Đã đủ sđể kết luận: bị cáo Tân bị cáo T1 mối quan hệ bạn
quen biết ngoài hội từ năm 2018. Khoảng cuối tháng 7/2021, do nhận thấy
nhu cầu người dân các doanh nghiệp cần làm giấy đi đường trong thời gian
Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện giãn cách hội giấy xác nhận đã tiêm
vắc xin Covid-19, nên bị cáo T nảy sinh ý định và rủ bị o T1 cùng tham gia làm
giả các loại giấy tờ nêu trên để n cho những người cần sử dụng, qua đó kiếm
tiền tiêu xài, thì được bị cáo T1 đồng ý. Thực hiện ý định trên, bị cáo T đã mua
thêm một số máy móc, thiết bị, dụng cụ cùng với một số máy móc, thiết bị
các dụng cụ bị cáo T đã có sẵn để thực hiện việc làm giấy tờ giả như trên. Bị cáo
T đã sử dụng Laptop, máy in, máy làm dấu, mộc và các dụng cụ khác để làm
giấy đi đường giả theo mẫu do Phòng Cảnh sát Giao thông Đường bộ Đường sắt
Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp. Sau đó, thông qua mạng xã hội, bị cáo T1
rủ bị cáo T4, bị cáo T3 và một người thanh niên tên L (không lai lịch, địa
chỉ); bị cáo Tân rủ bị cáo T2 cùng tham gia. Bị cáo T lập nhóm Zalo riêng với
tên gọi “ĐAM MÊ KIẾM TIỀN” để liên lạc với các bị cáo.
Kể từ ngày 09/9/2021, bcáo T1 đăng quảng cáo bán giấy đi đường lên
nhóm Facebook. Bị cáo T là người quản lý chung, chuẩn bị trang thiết bị, nghiên
cứu các mẫu giấy tờ của cơ quan, tổ chức và trực tiếp làm giả các con dấu và tài
liệu của cơ quan, tổ chức. Bị cáo T3 và L có nhiệm vụ đăng tải trên mạng xã hội
để tìm khách mua giấy đi đường giả rồi thông báo cho bị cáo T1 biết, sau đó bị
cáo T1 tổng hợp lại số lượng để báo cho bị cáo Tân làm giả giấy tờ bán cho
khách; bị cáo T2 bị cáo T4 nhiệm vụ đi giao giấy đi đường giả cho khách
nhận tiền của khách. Đến thời điểm bphát hiện, bị o T2 đã bán 04 giấy đi
đường giả được 7.200.000 đồng, bị cáo T4 đã bán 01 giấy đi đường giả được
1.850.000 đồng; số tiền thu lợi tổng cộng là 9.050.000 đồng, nhưng chưa kịp chia
tiền tbị Công an phát hiện bắt giữ.
Trong thời gian từ ngày 08/9/2021 đến 09/9/2021, bị cáo T4 còn hành
vi sử dụng giấy đi đường giả của Tú đưa để ghi thông tin của Thạnh lên giấy này
để sử dụng đi qua các chốt kiểm soát trong thời gian giãn cách xã hội với mục
đích bán giấy đi đường và giấy tiêm vắc-xin giả thu lợi bất chính.
Vị vậy hành vi cấu kết chặt chẽ, phân công vai trò, nhiệm vụ của các bị
cáo Bùi Minh T, Nguyễn Hải T1, Lê Văn T3, Huỳnh Minh T2 đã bị Tòa án nhân
dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử v ti “Làm giả con dấu, tài liệu
của quan, tổ chức”; bị cáo Lâm T4 bị xét xử về các tội “Làm giả con dấu, tài
liệu của cơ quan, tổ chức”tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo
quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 Khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự
năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho hội, không chỉ xâm
phạm đến trật tự quản hành chính nhà nước về kiểm soát dịch bệnh còn
gây ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng an toàn xã hội, gây luận xấu
11
trong quần chúng nhân dân. Các bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức được hành
vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng ch cần tiền tiêu xài của bản thân
các bị cáo bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật, cố ý phạm tội.
[4] Về kháng cáo của bị cáo: Các b cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt
và xin hưởng án treo với lý do cấp sơ thẩm đã tuyên phạt là quá nghiêm khắc.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp thẩm đã nhận định về các tình
tiết: tại quan điều tra tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn ăn
năn, hối cải về lỗi lầm đã gây ra; các bị cáo phạm tội lần đầu; ngoài ra, bị cáo
Lâm T4 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng ối với tội “Sử
dụng tài liệu giả của quan, tổ chức”); gia đình của bị cáo Nguyễn Hải T1
nhiều công lao to lớn đối với đất nước (Liệt sỹ Lê Mạnh Hùng Cậu ruột của bị
cáo, cha của bị cáo được Nhà nước tặng thưởng nhiều Huân chương cao quý
như: Huân chương Chiến công, Huân chương Chiến sỹ vẻ vang); bị cáo Huỳnh
Minh T2 sau khi phạm tội đã tự thú giao nộp lại vật chứng của vụ án cho
quan Công an, qua đó đã làm giảm tác hại của tội phạm; bị cáo Nguyễn Hải T1
và bị cáo Bùi Minh T có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính và hiện
tại nhiều bệnh, sức khỏe kém, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình s
được quy định tại các điểm: a, r, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, mức hình phạt đối với từng bị cáo
cấp thẩm áp dụng là thỏa đáng, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội
nhân thân của từng bị cáo.
Xét, các bị cáo Bùi Minh T, Nguyễn Hải T1, Lê Văn T3, Huỳnh Minh T2,
Lâm T4 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng tại phiên tòa phúc thẩm không
cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới các tình tiết các bị cáo nêu ra đã được
Tòa án cấp thẩm xem xét đầy đủ, khách quan toàn diện khi quyết định
hình phạt. Ngoài ra khi quyết định hình phạt Tòa án cấp thẩm đã không áp
dụng các tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Lợi dụng nh trạng
dịch bệnh để phạm tội” theo quy định tại các điểm g, l khoản 1 Điều 52 đối với
các bị cáo thiếu t, nhưng xét thấy mức hình phạt dành cho các bị cáo
phù hợp, các bị cáo không bkháng nghị, nên Hội đồng xét xử xét thấy không
cần thiết sửa án để cho cấp thẩm cần rút kinh nghiệm. vậy, không
sở để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Minh T, Nguyễn Hải T1,
Văn T3, Huỳnh Minh T2, Lâm T4 và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
Lập luận nêu trên của Hội đồng xét xcũng căn cứ để chấp nhận đề
nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và không
chấp nhận đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo Lâm T4 tại phiên tòa.
[5] Về án phí: Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên
căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, buộc các bị cáo phải chịu án
phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn,
giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
12
[6] Các vấn đkhác của bản án hình sự thẩm không kháng cáo,
kháng nghị đã hiệu lực pháp luật kể tngày hết thời hạn kháng cáo, kháng
nghị.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 B lut T tng hình s 2015
Không chp nhn kháng cáo ca các b o Bùi Minh T, Nguyn Hi T1,
Văn T3, Hunh Minh T2, Lâm T4 gi nguyên bn án hình s thẩm s
167/2022/HSST ngày 23/11/2022 ca Tòa án nhân dân Qun 8, Thành ph H
Chí Minh.
- Căn cứ vào đim a khoản 3 Điều 341; điểm a khoản 1 Điều 52; điểm s
Khon 1 Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 B lut hình
s năm 2015, sửa đổi, b sungm 2017;
X pht: 1/ B cáo Bùi Minh T 04 (bốn) năm tù, v tội “Làm giả con du,
tài liu của cơ quan, tổ chức”. Thời hn tù tính t ngày bt bo chp hành án.
2/ B cáo Nguyn Hi T1 03 (ba) năm tù, v tội “Làm giả con du, tài liu
của cơ quan, tổ chức”. Thời hn tù tính t ngày bt b cáo chp hành án.
3/ B cáo Văn T3 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, v tội “Làm giả con
du, tài liu của cơ quan, tổ chức”. Thời hn tù tính t ngày bt b cáo chp hành
án.
- Căn cứ vào đim a khoản 3 Điều 341; điểm a khoản 1 Điều 52; các
đim: a, r, s Khon 1 Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58
B lut hình s năm 2015, sửa đi, b sung năm 2017;
X pht: 4/ B cáo Hunh Minh T2 03 (ba) năm tù, v tội “Làm giả con
du, tài liu của cơ quan, tổ chức”. Thời hn tù tính t ngày bt b cáo chp hành
án.
- Căn cứ vào đim a khoản 3 Điều 341; điểm a khoản 1 Điều 52; điểm s
Khon 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 17; Điều 58 Khon 1
Điu 341; các điểm: i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 cùng Điu 55 B
lut hình s năm 2015, sửa đổi, b sung năm 2017
X pht: 5/ B cáo Lâm T4 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, v tội “Làm giả
con du, tài liu của quan, tổ chức” 06 (sáu) tháng tù, về tội “Sử dng tài
liu gi ca quan, t chức”. Tổng hp hình pht chung ca c 02 (hai) ti,
buc b cáo Lâm T4 phi chp hành là 04 (bốn) năm tù. Thi hn tù tính t ngày
bt b cáo chp hành án.
- Căn cứ Điu 136 B lut T tng nh s năm 2015, Ngh quyết s
326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 ca Ủy ban Thường v Quc hi quy
định v mc thu, min, gim, np, qun lý và s dng án phí và l phí Tòa án.
Mi b cáo phi chu án phí hình s phúc thm 200.000 (hai trăm
nghìn) đồng.
13
Các quyết định khác ca bn án hình s thẩm không kháng cáo,
kháng ngh có hiu lc pháp lut k t ngày hết thi hn kháng cáo, kháng ngh.
Bn án phúc thm có hiu lc pháp lut k t ngày tuyên án.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT X PHÚC THM
- TAND TC; (1) THM PHÁN - CH TA PHIÊN TÒA
- TAND Cp cao ti Tp.HCM; (1)
- VKSND Tp.HCM; (3)
-
VKSND Qun 8; (1)
-
THA-DS Qun 8; (1)
- TAND
Qun 8; (1)
- Công an Qun 8; (1)
- Phòng PC 53 - CA Tp. HCM; (2)
- B hi; (1)
- Bo; (1)
Ngô Đức Th
- S Tư pháp; (1)
- UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
- Lưu, hình sự, h sơ. (26) (4)
Tải về
164-2023-HS-PT-TP-HCM 164-2023-HS-PT-TP-HCM

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

164-2023-HS-PT-TP-HCM 164-2023-HS-PT-TP-HCM

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án mới nhất