Bản án số 160/2021/DS-PT ngày 04/02/2021 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng mua bán nhà

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 160/2021/DS-PT

Tên Bản án: Bản án số 160/2021/DS-PT ngày 04/02/2021 của TAND TP. Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng mua bán nhà
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán nhà
Cấp xét xử: Phúc thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Hồ Chí Minh
Số hiệu: 160/2021/DS-PT
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 04/02/2021
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số:160/2021/DS-PT
Ngày:04-02-2021
V/v:“Tranh chấp
hợp đồng mua bán nhà”
NHÂN DANH
NƯC CNG HÒA XÃ HI CH NGHĨA VIT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Bà Phạm Thị Kim
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Lan Hương
Bà Lê Thị Ngọc Hương
- Thư phiên tòa: Ông Đình Quyện Thư Tòa án nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Linh - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 29 tháng 01 ngày 04 tháng 02 năm 2021 tại phòng xử án
Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh đã xét xphúc thẩm ng khai vụ án thụ
số 603/2020/TLPT-DS ngày 19 tháng 11 năm 2020 về vic “Tranh chấp hợp đồng
mua bán nhà”.
Do Bản án dân sự thẩm số 58/2020/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2020 của
Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xsố 6369/2020/QĐ-PT ngày 17 tháng 12
năm 2020 Quyết định hoãn phiên tòa số 502/2021/QĐ-PT ngày 14/01/2021 giữa
các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Công M, sinh năm: 1968;(Vắng mặt)
Địa chỉ: A75/20 Bạch Đằng, phường 02, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Trần Thị Như Q, sinh năm 1996,
theo Giấy ủy quyền ngày 04/5/2019 lập tại Phòng công chứng Hoàng Xuân Ngụ,
Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi ích hp pháp của nguyên đơn: Luật Phạm Tuấn
Anh , thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt).
2. Bị đơn: Công ty cổ phần Xây dựng S). (Có mặt).
Trụ sở: Số 1145/22 đường Nguyễn Thị Đ, phường C, Quận A, Thành phố Hồ
Chí Minh.
2
Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc Th, sinh năm:
1985. Theo Giấy ủy quyền số 2010/2020/GUQ/SCC ngày 20/10//2020 của Công ty
Cổ phần Xây dựng S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án thẩm, lời trình bày của các đương sự tại Tòa án thể hiện như
sau:
- Trần Thị Như Q đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ông Nguyễn
Công M trình bày:
Ngày 26/06/2018 Ông Nguyễn Công M và Công ty Cổ phần y dựng S đã ký
“Hợp đồng mua bán nhà” số 007/SCC/HĐMB-PDV-2018. Theo hợp đồng, Công ty
SCC bán cho Ông Mcăn nhà (tài sản hình thành trong tương lai) đặc điểm chính
như sau:
- hiệu căn nhà: K02; Tổng diện tích sàn xây dựng: 284.2m
2;
- Kết cấu nhà:
Móng cọc bê tông cốt thép, khung, sàn, cột bê tông cốt thép, tường gạch, mái bê tông
cốt thép; Số tầng: 3 tầng.
Căn nhà trên được xây dựng trên đất số 1050, tờ bản đồ số 39, diện tích
132m
2
thuộc “Khu đô thị PhoDong Village”, dự án khu dân Cát Lái, phường Cát
Lái, Quận 2, Tp. Hồ Chí Minh do Công ty Cổ phần Xây dựng S làm chủ đầu tư.
Tổng giá trị mua bán căn nhà 10.431.459.940 đồng (Mười tỷ bốn trăm ba
mươi mốt triệu bốn trăm năm mươi chín nghìn chín trăm bốn mươi đồng).
Theo quy định tại mục 4.1, Điều 4 của hợp đồng, Ông Mcó trách nhiệm thanh
toán số tiền 10.431.459.940 đồng theo tiến độ như sau:
Đợt Lịch thanh toán Hạn thanh
toán
Nội dung thanh toán Thành tiền
(VNĐ)
Đợt 01 06/06/2018 06/06/2018 Đặt cọc đủ 10% giá
bán chưa VAT
950.225.000
Đợt 02 Trong vòng 20
ngày kể từ đợt 1
26/06/2018 Thanh toán đủ 20%
giá bán có VAT và ký
hợp đồng mua bán
1.136.066.988
Đợt 03 Trong vòng 30
ngày kể từ đợt 2
26/07/2018 5% giá bán có VAT 521.572.997
Đợt 04 Trong vòng 30
ngày kể từ đợt 3
25/08/2018 5% giá bán có VAT 521.572.997
Đợt 05 Trong vòng 30
ngày kể từ đợt 4
24/09/2018 5% giá bán có VAT 521.572.997
Đợt 06 Trong vòng 30
ngày kể từ đợt 5
24/10/2018 5% giá bán có VAT 521.572.997
Đợt 07 Trong vòng 30 23/11/2018 5% giá bán có VAT 521.572.997
3
ngày kể từ đợt 6
Đợt 08 Trong vòng 30
ngày kể từ đợt 7
23/12/2018 5% giá bán có VAT 521.572.997
Đợt 9 Trong vòng 30
ngày kể từ đợt 8
22/01/2019 5% giá bán có VAT 521.572.997
Đợt 10 Trong vòng 30
ngày kể từ đợt 9
21/02/2019 5% giá bán có VAT 521.572.997
Đợt 11 Trong vòng 30
ngày kể từ đợt 10
23/03/2019 5% giá bán có VAT 521.572.997
Đợt 12 Trong vòng 30
ngày kể từ đợt 11
22/04/2019 5% giá bán có VAT 521.572.997
Đợt 13 Trong vòng 30
ngày kể từ đợt 12
22/05/2019 5% giá bán có VAT 521.572.997
Đợt 14 Trong vòng 30
ngày kể từ đợt 13
21/06/2019 5% giá bán có VAT 521.572.997
Đợt 15 Trong vòng 30
ngày kể từ đợt 14
21/07/2019 5% giá bán có VAT 521.572.997
Đợt 16 Trong vòng 30
ngày kể từ đợt 15
20/08/2019 10% giá bán + VAT
đợt cuối
1.089.606.491
Đợt 17 Trong vòng 07
ngày kể từ ngày
bên mua nhận
được bản sao
thông o nộp lệ
phí trước b của
cơ quan thuế
5% giá bán còn lại
(không bao gồm thuế
VAT)
475.112.500
Thực hiện theo hợp đồng mua bán nhà nêu trên Ông Mđã thanh toán 02 (hai)
đợt tương ứng với số tiền tổng cộng là 2.086.291.988 đồng. Sau khi thanh toán đợt 2,
do có khó khăn về tài chính nên Ông Mđã coi lại điều khoản về thanh toán trong hợp
đồng nhận thấy, nếu phải thanh toán theo lịch, cứ 30 ngày lại phải thanh toán một
lần không thanh toán theo tiến độ xây dưng, phải thanh toán 95% trước bạ khi
nhận bàn giao nhà, thanh toán 100% trước khi nhận được giấy chứng nhận quyền sở
hữu nhà sẽ khiến Ông Mkhông thanh toán kịp tiến độ theo quy định của hợp đồng,
trong trường hợp Ông Mvay mượn đthanh toán 95% khi chưa được nhận bàn giao
nhà để đưa vào khai thác thể khiến Ông Mmất cân đối tài chính… vậy, trên
tinh thần thiện chí mong muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng Ông Mđã làm đơn trình
bày khó khăn về tài chính, đề nghị Công ty Xây dựng Sài Gòn điều chỉnh, lùi thời
gian thanh toán. Tuy nhiên, Công ty Xây dựng Sài Gòn không chấp thuận đề nghị
của Ông Mvà yêu cầu thanh toán lãi chậm trả, sau đó căn cứ vào quy định thanh toán
trong hợp đồng mua bán nhà để ban hành Thông báo số 1104/2019/SCC/TB ngày
4
11/04/2019, đơn phương chấm dứt hợp đồng với ông Minh, yêu cầu Ông Mphải
thanh toán khoản lãi và phạt vi phạm 10% giá trị hợp đồng là 1.043.145.994 đồng.
Đối chiếu với quy định của pháp luật Ông Mnhận thấy quy định về thanh toán
trong hợp đồng mua bán nhà số 007/SCC/HĐMB-PDV-2018 đã vi phạm điều cấm
của pháp luật. Việc Công ty Xây dựng Sài Gòn căn cứ vào điều khoản thanh toán trái
pháp luật để đơn phương chấm dứt hợp đồng, buộc Ông Mthanh toán lãi chậm trả,
phạt vi phạm hợp đồng xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của ông Minh, cụ thể
là:
Thứ nhất: Việc hợp đồng quy định Ông M(bên mua) thanh toán mà không dựa
theo tiến độ xây dựng, trái với quy định tại khoản 1, Điều 57 Luật kinh doanh bất
động sản về thanh toán trong mua bán, thuê mua bất động sản hình thành trong tương
lai.
Khoản 1, Điều 57 Luật kinh doanh bất động sản quy định: “Việc thanh toán
trong mua n, thuê mua bất động sản hình thành trong tương lai được thực hiện
nhiều lần,… những lần tiếp theo phải phù hợp với tiến độ xây dựng bất động sản…”
Theo quy định trên tiến độ thanh toán từ lần thứ 2 trờ đi phải phù hợp với tiến
độ xây dựng bất động sản. Tuy nhiên, theo quy định tại mục 4.1, Điều 4 của hợp
đồng mua bán nhà số 007/SCC/HĐMB-PDV-2018, tiến độ thanh toán từ lần 1 đến
lần 16 (95% giá trị hợp đồng) lại căn cứ vào ngày thanh toán trước từ 20 đến 30
ngày). Theo quy định này thì Công ty Xây dựng Sài Gòn (Chủ đầu tư) xây
dựng hay không, công trình hoàn thiện đến mức nào thì Ông M(người mua) vẫn
phải thanh toán theo ngày đã ấn định. Việc thanh toán không căn cứ vào tiến độ xây
dựng, trái với quy định tại khoản 1, Điều 57 Luật kinh doanh bất động sản về thanh
toán trong mua bán, thuê mua bất động sản hình thành trong tương lai”.
Thứ hai: Hợp đồng mua bán nhà quy định thanh toán 95% trước khi bàn giao
nhà, trái với quy định tại khoản 1 Điều 57 Luật kinh doanh bất động sản về thanh
toán trong mua bán, thuê mua bất động sản hình thành trong tương lai.
Khoản 1 Điều 57 Luật Kinh doanh Bất động sản quy định Việc thanh toán
trong mua n, thuê mua bất động sản hình thành trong tương lai được thực hiện
nhiều lần… nhưng tổng số không quá 70% giá trị hợp đồng khi chưa bàn giao nhà,
công trình y dựng cho khách hàng; trường hợp bên cho thuê mua nhà doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì tổng số không quá 50% giá trị hợp đồng”
Đối chiếu quy định trên Ông Mnhận thấy, Mục 5.1, Điều 5 Hợp đồng mua bán
nhà s007/SCC/HĐMB-PDV-2018 quy định, bên bán dkiến sẽ hoàn tất việc xây
dựng căn nhà vào ngày 20/8/2019 bên mua đa phải thanh toán đợt 16 với tổng cộng
số tiền là 9.909.886.943 đồng, tương ứng 95% giá trị Hợp đồng, trước thời điểm dự
kiến” hoàn tất việc xây dựng.
Cũng theo quy định trong Hợp đồng, Tiết ii, Mục 5.3, Mục 5.2, Điều 5 của
Hợp đồng quy định Căn nhà chỉ được xem đủ điều kiện để được chấp nhận và bàn
giao khi Bên mua đã thanh toán đầy đủ và đúng hạn cho Bên bán Giá bán theo tiến
độ quy định tại Hợp đồng này (hoàn tất thanh toán ngày 20/8/2019), 100% thuế
VAT, Qubảo trì”.“Nếu Bên Mua không tiến hành thanh toán đúng đủ theo lịch
5
để đủ điều kiện thực hiện nhận căn nhà thì Bên Mua chấp nhận rằng Bên Bán có
quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, trừ khi Bên Bán có quyết định khác.”
Như vậy, việc Công ty Cổ phần Xây dựng S yêu cầu thanh toán 95% giá trị
Hợp đồng trước khi bàn giao nhà, quy định việc thanh toán 95% giá trị Hợp đồng
như một kiện để được chấp nhận bàn giao nhà là vi phạm, trái với quy định tại khoản
1, Điều 57 Luật Kinh doanh Bất động sản về “Thanh toán trong mua bán, thuê mua
bất động sản hình thành trong tương lai”.
Thứ ba: Hợp đồng mua bán nhà quy định thanh toán 5% còn lại trước khi Ông
M(bên mua) được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu n
tài sản khác gắn liền với đất trái quy định tại khoản 2, Điều 57 Luật Kinh Doanh
Bất động sản về “Thanh toán trong mua bán, thuê mua bất động sản hình thành trong
tương lai”.
Khoản 2, Điều 57 Luật Kinh Doanh bất động sản quy định Trường hợp bên
mua, bên thuê mua chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài
nhà tài nguyên khác gắn liền với đất thì bên bán, bên cho thuê mua không được
thu quá 95% giá trị hợp đồng; giá trị còn lại của Hợp đồng được thanh toán khi
quan nhà nước thẩm quyền đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền đất cho bên mua, bên thuê mua.”
Đối chiếu với quy định của pháp luật Ông Mnhận thấy mục 4.1, Điều 4 của
Hợp đồng mua bán nhà số 007/SCC/HĐMB-PDV-2018 quy định Ông Mphải thanh
toán đợt 17 (5% gtrị còn lại) trong thời hạn 7 ngày nhận được bản sao Thông báo
nộp lệ phí trước bcủa quan thuế, khi Tôi (người mua) chưa được quan nhà
nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hu nhà ở và
tài sản khác gắn liền với đất trái quy định tại khoản 2, Điều 57 Luật kinh doanh
Bất động sản, vi phạm điều cấm của pháp luật “bên bán, bên cho thuê mua không
được thu phí quá 95% gtrị hợp đồng” Khi bên mua chưa cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền ở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Vì các lẽ trên, căn cứ quy định tại Khoản 1, Điều 16 Luật Kinh doanh bất động
sản về thanh toán trong giao dịch bất động sản, Điều 123, 131 Bộ luật dân sự về giao
dịch dân sự hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật Hậu quả pháp của giao
dịch dân sự hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật hậu quả pháp của giao
dịch dân sự vô hiệu; Ông Mđề nghị Tòa án giải quyết các yêu cầu khởi kiện sau:
1. Tuyên bố hiệu “Hợp đồng mua bán nhà” số 007/SCC/HĐMB-PVD-2018
được ký giữa Ông Nguyễn Công M và Công ty Cổ phần Xây dựng S;
2. Buộc Công ty Cổ phần Xây dựng S hoàn trả cho Ông Msố tiền mà Ông Mđã
thanh toán là 2.086.291.988 đồng;
3. Buộc Công ty Cổ phần Xây dựng S bồi thường thiệt hại cho ông Minh, cụ
thể buộc Công ty Cổ phần Xây dựng S trả lãi đối với số tiền Ông Mđã thanh toán
2.086.291.988 đồng trong thời gian từ ngày 3/7/2018 (ngày thanh toán đợt 2) đến
ngày Công ty Cổ phần Xây dựng S đủ trả lãi, mức lãi suất 20%/ năm. Số tiền bồi
thường thiệt hại (lãi) tạm tính đến ngày làm đơn là: 2.086.291.988 đồng x 10 tháng =
348.410.761 đồng.
6
Tổng cộng Công ty Cổ phần Xây dựng S phải trả cho Ông M2.434.702.749
đồng (hai tỷ bốn trăm ba mươi bốn triệu bảy trăm lẻ hai nghìn bảy trăm bốn mươi
chín đồng).
- Bị đơn Công ty Cổ phần Xây dựng S Ông Nguyễn Ngọc Th đại diện
theo ủy quyền trình bày:
Công ty cổ phần Xây dựng S) thừa nhận là đúng lời trình bày của Ông Nguyễn
Công M về Hợp đồng mua bán nhà” số 007/SCC/HĐMB-PDV-2018 (Hợp đồng
mua bán nhà) ngày 26/6/2018.
Giá mua bán căn nhà là: 10.431.459.940 đồng (bằng chữ: Mười tỷ bốn trăm ba
mươi mốt triệu bốn trăm năm mươi chín nghìn chín trăm bốn mươi đồng.) Đây tài
sản hình thành trong tương lai.
Bên Bán d kiến sẽ hoàn tất việc xây dựng căn nhà vào ngày 26/09/2019
(“Ngày Hoàn Tất”).
Đến nay Công ty Cổ phần Xây dựng S hoàn toàn thực hiện xong tất cả các
nghĩa vụ nêu trong hợp đồng, đúng tiến độ xây dựng đã kết, hoàn chỉnh các thủ
tục pháp lý đúng theo quy định của pháp luật.
Về quá trình thực hiện hợp đồng: Sau khi Ông Mthanh toán đợt 02 ngày
26/6/2018 thì ngừng luôn không thanh toán các đợt tiếp theo với do chưa vay
được Ngân hàng hoặc chưa chuyển nhượng được “Hợp đồng mua bán nhà” này cho
người khác do điều kiện kinh tế thị trường, ông đang gặp khó khăn nên đồng ý để
công ty tính lãi phần nợ chậm nộp quá hạn để ông thu xếp tài chính trả nợ cho Công
ty Cổ phần Xây dựng S theo hợp đồng.
Công ty đã nhiều lần thông báo đến Ông Mvề việc thanh toán tiền mua nhà
theo thỏa thuận của Hợp đồng, như sau:
Thông báo qua địa chỉ Email: baom[email protected] (khách hàng đã đăng ký
theo thông tin tại Hợp đồng mua bán đây một trong các phương thức để liên hệ
được công nhận giữa hai bên) đồng thời với việc gọi điện thoại cho ông Minh,
Email ngày 30/8/2018 về việc chậm thanh toán đợt 3, đợt 4 căn K02 Dự án Sol
villas thuộc khu Đô thị PhoDong Village;
Email ngày 07/9/2018 về việc Lãi phạt chậm Thanh toán đợt 3, đợt 4 căn K02
Dự án Sol villas thuộc khu Đô thị PhoDong Village;
Email ngày 12/10/2018 Về việc Thông báo: Thanh toán gấp Đợt 3, đợt 4, đợt 5
căn K02 Dự án Sol villas thuộc khu Đô thị PhoDong Village;
Email ngày 28/11/2018 về việc Thông báo (Gấp) gia hạn thanh toán lần cuối
đợt 3, đợt 4, đợt 5, đợt 6, đợt 7căn K02 Dự án Sol villas thuộc khu Đô thị PhoDong
Village;
Email ngày 11/4/2019 về việc Thông báo lên làm thủ tục thanh HĐMB căn
K02 Dự án Sol villas thuộc khu Đô thị PhoDong Village.
Thông báo bằng văn bản ngày 21/11/2018 về việc thông báo thanh toán đợt 3,
đợt 4, đợt 5, đợt 6, đợt 7 (Căn K02); Thông báo ngày 24/12/2018 về việc Phúc đáp
thư đnghị của Quý khách hàng ngày 20/11/2018; Thông báo ngày 11/04/2019 về
việc Chấm dứt Hợp đồng mua bán nhà K02 số 007/SCC/HĐMB-PDV-2018 ngày
26/6/2018.
7
Cùng với việc Thông báo, ng ty Cổ phần Xây dựng S đều gọi điện trc
tiếp cho Ông Mkhi đến thời hạn thanh toán và khi gửi các Thông báo.
Sau khi nhiều lần Thông báo gởi đến Ông Mvà đồng ý gia hạn cho ông nhiều
lần, nhưng ông vẫn không thực hiện cũng không phản hồi. Hết thời gian gia hạn
nhưng không thấy thông tin phản hồi nên ngày 11/04/2019 công ty đã gửi Thông báo
về việc Chấm dứt Hợp đồng mua bán nhà K02 số 007/SCC/HĐMB-PDV-2018
ngày 26/6/2018 đến công ty đchấm dứt Hợp đồng theo quy định thỏa thuận của hai
bên trong hợp đồng mua bán đã ký.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Công ty Cổ phần Xây dựng S đồng ý
chấm dứt hợp đồng như nguyên đơn yêu cầu. Việc chấm dứt hợp đồng này hoàn toàn
do lỗi của nguyên đơn, căn cứ vào hợp đồng thì công ty đồng ý trả lại cho Ông Msố
tiền 889.803.533 đồng (tám trămm mươi chín triệu, tám trăm lẻ ba ngàn, năm trăm
ba mươi ba đồng), ngoài ra không chấp nhận trả thêm các khoản tiền khác.
Đối với các lời trình bày của phía nguyên đơn thì công ty không đồng ý:
Về yêu cầu tuyên bố Hợp đồng mua bán nhà K02 số 007/SCC/HĐMB-PDV-
2018 ký ngày 26/6/2018 vô hiệu, công ty không đồng ý với các lý do sau:
-Theo quy định của pháp luật về điều kiện của bất động sản hình thành trong
tương lai đưa vào kinh doanh: Công ty Cổ phần Xây dựng S đã đáp ứng đủ các điều
kiện theo quy định của Luật kinh doanh bất động sản số 66/2014/QH13 ngày
25/11/2014, bao gồm (i) đủ các hồ pháp về dán (ii) đã thông báo bằng văn
bản cho quan quản nhà cấp tỉnh về việc nhà đủ điều kiện bán, (iii) đã được
ngân hàng thương mại bảo lãnh nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư với khách hàng.
-Về mục đích của hợp đồng: Sau khi được nhân viên của công ty Công ty Cổ
phần Xây dựng S vấn hiểu về căn Biệt thự phố vườn hiệu K02 thuộc khu
phố Sol Villas với các chi tiết kỹ thuật, đặc điểm, giá cả, thời hạn bàn giao nhà
phương thức thanh toán, Ông Mđã đồng ý mua căn nhà K02 để phục vụ cho mục
đích và nhu cầu của mình.
-Về nội dung của Hợp đồng: Bên mua Ông Mđã đọc, hiểu tự nguyện
Hợp đồng mua bán căn nhà ký hiệu K02 trong đó thể hiện rõ về tiến độ thanh toán và
số tiền thanh toán của từng đợt.
-Về tiến độ xây dựng: Công ty Cổ phần Xây dựng S đã căn cứ vào tiến độ xây
dựng để đưa ra tiến độ thanh toán quy định vào trong Hợp đồng mua bán. Công ty Cổ
phần Xây dựng S đã thực hiện đúng tiến độ xây dựng căn K02 theo đúng cam kết
trong Hợp đồng mua bán nhà, được thể hiện trong bảng Tổng tiến độ thi công chi
tiết; Bảng xác nhận tiến độ thi công; Biên bản nghiệm thu hoàn thành xấy dựng. Đến
nay đã hoàn thành xong và đúng tiến độ, bên Ông Mkhông có ý kiến gì.
-Về thỏa thuận thanh toán của hai bên: Công ty Cổ phần Xây dựng S đã đưa ra
nhiều phương thức thanh toán của Hợp đồng mua bán để cho Ông Mlựa chọn theo
khả năng trước khi kết hợp đồng, Ông Mtự nguyện chọn phương thức thanh toán
như đã ký trong hợp đồng mua bán để nhận được các ưu đãi từ phía Công ty Cổ phần
Xây dựng S gồm:
1/Quà tặng 01 lượng vàng PNJ 99,99%;
2/Chiết khấu đặc biệt cho khách hàng 0.5% giá bán chưa bao gồm VAT;
3/01 bộ quà tặng lưu niệm Sol Villas;
8
4/Tham gia chương trình bốc thăm trúng thưởng Honda SH 150i phanh ABS.
Gói ưu đãi này Ông Mđã nhận đủ.
Nay đã quá hạn bàn giao nhà, nhưng Ông Mmới chỉ thanh toán cho Công ty
Cổ phần Xây dựng S được 2 đợt tương đương 20% gtrị Hợp đồng. Sau khi thanh
toán đợt 2 (do không vay được ngân hàng hoặc chưa bán được tài sản (hợp đồng mua
bán nhà) như Ông Mtrình bày trong email ngày 28/11/2018) nên Ông Mgặp khó
khăn không thể tiếp tục thanh toán tiếp mặc được Công ty cho gia hạn nhiều lần.
Như vậy, xét về hành vi vi phạm hoàn toàn do ông Minh, đến nay Công ty Cổ
phần Xây dựng S vẫn chưa thu quá 20% giá trị hợp đồng khi đã đến hạn bàn giao
nhà.
Ngoài 02 đợt này thì nguyên đơn đã ngừng luôn, các đợt thanh toán tiếp theo
nguyên đơn chưa thực hiện nên không xem t, nay hai bên đồng ý chấm dứt hợp
đồng và thanh lý theo thỏa thuận mà đã ký kết.
Như vậy, Ông Mtự nguyện ký hợp đồng, nhưng không khả năng thanh toán
kể từ đợt th3 (đợt thanh toán này hoàn toàn phù hợp quy định pháp luật thỏa
thuận hai bên) coi như vi phạm, mặc được Công ty Cổ phần Xây dựng S gia
hạn thanh toán rất nhiều lần nhưng lại cố tình gửi đơn kiện yêu cầu Tòa án chấm dứt
với do Hợp đồng mua bán nhà K02 số 007/SCC/HĐMB-PDV-2018 ký ngày
26/6/2018 vô hiệu, yêu cầu hoàn trả tiền bồi thường tính lãi không sở.
vậy, Công ty Cổ phần Xây dựng S không đồng ý trả thêm các khoản tiền khác theo
yêu cầu của nguyên đơn.
Tại bản án dân sự thẩm số 58/2020/ ST-DS ngày 28/9/2020 của Tòa án
nhân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ông Nguyễn Công
M:
Tuyên bố Hợp đồng mua bán nhà K02 s 007/SCC/HĐMB-PDV-2018
ngày 26/6/2018 được kết giữa Ông Nguyễn Công M Công ty cổ phần Xây
dựng S) bị vô hiệu một phần; cụ thể:
Thời hạn thanh toán từ đợt 13 đến đợt 17 theo Điều 4 của Hợp đồng mua bán
nhà số 007/SCC/HĐMB-PDV-2018 bị hiệu; các điều khoản khác của hợp đồng
xác định ngày 20/8/2019 là “ngày hoàn tất” sẽ được điều chỉnh Bên mua chỉ có nghĩa
vụ thanh toán tương đương 70% tổng giá mua căn nhà.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ông Nguyễn Công M:
Buộc Công ty Cổ phần Xây dựng S hoàn trả cho Ông Nguyễn Công M số tiền
đã thanh toán là 2.086.291.988 đồng;
Buộc Công ty Cổ phần Xây dựng S bồi thường thiệt hại cho Ông Mcụ thể buộc
Công ty Cổ phần Xây dựng S trả lãi đối với số tiền Ông Mđã thanh toán
2.086.291.988 đồng trong thời gian từ ngày 3/7/2018 (ngày thanh toán đợt 2) đến
ngày Công ty Cổ phần Xây dựng S đủ trả lãi, mức lãi xuất 20%/năm. Số tiền bồi
thường thiệt hại (lãi) tạm tính đến ngày xét xử là: 940.000.000 đồng.
9
3. Ghi nhận ý kiến của bị đơn Công ty Cổ phần Xây dựng S:
Chấm dứt Hợp đồng mua bán nhà K02 s 007/SCC/HĐMB-PDV-2018
ngày 26/6/2018 với Ông Nguyễn Công M. Trả lại cho Ông Msố tiền 889.803.533
đồng.
Các bên thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày bản án hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp quan thi
hành án quyền chđộng ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày đơn yêu
cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người
được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên
phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo
mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
- Công ty Cổ phần Xây dựng S phải chịu án phí 300.000 đồng. Công ty Cổ
phần Xây dựng S chưa nộp án phí.
- Ông Nguyễn Công M phải chịu án phí dân sự thẩm 74.729.769 đồng,
nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí Ông Mđã nộp theo biên lai s
AA2017/0016395 ngày 05/6/2019 40.347.028 đồng, Ông Mcòn phải nộp số tiền
chênh lệch 34.382.741 đồng (ba mươi bốn triệu ba trăm tám mươi hai ngàn bảy
trăm bốn mươi mốt đồng); Ông Nguyễn Công M chưa nộp đủ án phí.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo theo luật định.
-Ngày 16/10/2020 nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án số 58/2020/DS-ST
ngày 28/9/2020 của Toà án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
-Nguyên đơn Ông Nguyễn Công Mcó người đại diện theo ủy quyền là bà Trần
Thị Như Quỳnh và luật bảo vệ quyền và lợi ích cho nguyên đơn trình bày yêu cầu
kháng cáo:
Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấm dứt hợp hợp đồng
mua bán nhà. Lý do chấm dứt hợp đồng vì hợp đồng vi phạm điều cấm của pháp luật
nên bị hiệu
. B
uộc công ty Cổ phần xây dựng Sài Gòn (SCC) phải trlại cho Ông
Msố tiền vốn 2.086.291.988 đồng bồi thường thiệt hại một khoản tiền lãI được
tính : 2.086.291.988 đồng x 1,67%/tháng x từ ngày 03/7/2018 đến ngày 29/01/2021
= 1.075.427.884 đồng. Tổng cộng là 3.161.719.872 đồng.
-Bị đơn đồng ý chấm dứt hợp đồng mua bán nhà theo yêu cầu của nguyên đơn,
tuy nhiên việc chấm dứt hợp đồng hoàn toàn do lỗi của phía nguyên đơn, nên Công
ty chỉ đồng ý thanh toán lại cho Ông Msố tiền 889.803.533 đồng theo đúng thỏa
thuận của hợp đồng mà hai bên đã ký, không đồng ý trả các khoản tiền khác.
Đại diện Viện kim sát nhân dân Thành ph Hồ Chí Minh pt biểu ý kiến:
+Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định pháp luật tố
tụng dân sự từ khi thụ đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm cho đến trước khi
10
nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến nh phiên tòa đúng trình tự, thủ tục
theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các đương sự trong vụ án đã chấp hành
đúng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.
+Về nội dung: Căn cứ vào khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị
hủy bản án thẩm để giải quyết lại, do hợp đồng hiệu cần hủy bản án thẩm,
định giá lại giá trị tài sản căn nhà để xác định chênh lệch giá trị số tiền mà nguyên
đơn đã đóng để làm căn cứ giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu c tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên toà và căn c vào kết qutranh luận tại phiên t, Hội đồng xét x nhận
định:
[1].Về thủ tục tố tụng:
-Đơn kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định, căn cứ theo Điều 272,
Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo
thủ tục phúc thẩm.
[2].Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm:
[2.1].Nguyên đơn và bị đơn thừa nhận hợp đồng mà hai bên kết có hiệu lực
pháp luật, hiện vẫn chưa tiến hành thanh lý, nay cả hai bên cùng chấm dứt hợp đồng
mua bán nhà số 007/SCC/HĐMB-PDV-2018 ngày 26/6/2018 giữa Ông Nguyễn
Công M với Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Sài Gòn.
[2.2]. Khi chấm dứt hợp đồng các bên chỉ tranh chấp về số tiền mà nguyên đơn
đã nộp cho Công ty, cụ thể: Nguyên đơn yêu cầu Công ty cổ phần đầu xây dựng
Sài Gòn phải trả lại số tiền vốn đã trả trong 02 đợt 2.086.291.988 đồng, ngoài ra
còn phải bồi thường một số tiền lãi, được tính như sau: 2.086.291.988 đồng x
1,67%/tháng x từ ngày 03/7/2018 đến ngày 29/01/2021 = 1.075.427.884 đồng. Tổng
cộng 3.161.719.872 đồng.
Lý do: Vì Công ty đã vi phạm điều cấm của pháp luật về thực hiện mua bán tài
sản hình thành trong tương lai, cụ thể vi phạm Khoản 1, Điều 16, Khoản 1,2 Điều 57
Luật Kinh Doanh bất động sản:“ Việc thanh toán trong mua bán, thuê mua bất động
sản hình thành trong tương lai được thực hiện nhiều lần… nhưng tổng số không quá
70% giá trị hợp đồng khi chưa bàn giao nhà, công trình xây dựng cho khách ng;
trường hợp bên cho thuê mua nhà là doanh nghiệp có vốn đầu nước ngoài thì tổng
số không quá 50% giá trị hợp đồng”. Từ đó dẫn đến giao dịch vô hiệu theo Điều 123,
131 Bộ luật dân sự về giao dịch dân sự hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật.
Ngoài ra còn nhiều vi phạm qui định khác như mở bán tài sản trước khi thông báo Sở
Xây dựng, xây dựng không đúng tiến độ, vi phạm điều khoản bảo lãnh của ngân
hàng…
[2.3].Bị đơn Công ty cổ phần đầu xây dựng Sài Gòn phủ nhận toàn bộ lời
trình bày của nguyên đơn. Xác định việc chấm dứt hợp đồng lỗi hoàn toàn của
nguyên đơn, khi hai bên đang thực hiện hợp đồng thì Ông Mngừng luôn sau kỳ
thanh toán đợt 2 ngày 26/6/2018 với do không đủ khả năng tài chính để thanh
toán tiếp. Dù vậy, công ty vẫn chấp nhận cho gia hạn, nhưng Ông Mcũng không đưa
ra bất kỳ hướng giải quyết nào. Về phía công ty đã thực hiện xong phần nghĩa vụ
của mình, hiện căn nhà hoàn thành, có đầy đủ giá trị pháp lý theo qui định. Nhận thấy
Ông Mkhông thiện chí, nên đến tháng 4/2019 (kết thúc hợp đồng tháng 9/2019)
Công ty mới chính thức thông o việc chấm dứt hợp đồng. Từ đó đến nay Ông
Mvẫn không ý kiến phản hồi hay gặp gỡ để hai bên ng thanh chấm dứt hơp
đồng. Việc Ông Mgặp khó khăn tự ý đơn phương chấm dứt hợp đồng trước nên
xét về vi phạm là lỗi chủ quan của ông Minh. Suốt quá trình thực hiện hợp đồng Ông
Mcũng không bất cứ khiếu nại nào đối với Công ty, nvậy ràng Công ty
không lỗi. Đến nay ông Minh cũng không đưa ra được khó khăn và ớng giải
quyết, mà tìm cách lợi dụng hở của bên kia để khởi kiện trục lợi. Việc tự ý nửa
chừng chấm dứt hợp đồng của Ông Mcũng gây thiệt hại cho công ty. lẽ đó, Ông
Mkhởi kiện, Công ty đồng ý chấp nhận chấm dứt hợp đồng thanh lại cho Ông
Msố tiền 889.803.533 đồng như thỏa thuận trong hợp đồng. Không đồng ý các khoản
tiền khác.
Xét thấy:
[2.4].Cả hai bên thừa nhận Hợp đồng mua bán nhà 007/SCC/HĐMB-PDV-
2018 lập ngày 26/6/2018 hiệu lực, được xác lập trên sở thỏa thuận tự nguyên,
bình đẳng đáp ứng quyền lợi của các bên. Đến nay hợp đồng vẫn chưa thanh lý.
Nay hai bên đều có yêu cầu chấm dứt hợp đồng, nên được xem xét chấp nhận.
[2.5].Khi hợp đồng chấm dứt hai bên chỉ tranh chấp về khoản tiền nguyên
đơn đã thanh toán trong quá trình thực hiện hợp đồng, ngoài ra các bên không bất
cứ tranh chấp khác.
[2.6].Nguyên đơn đưa ra lý do không muốn tiếp tục thực hiện và chấm dứt hợp
đồng, đòi bị đơn phải trả lại đủ số tiền và và yêu cầu bồi thường vì lỗi của bị đơn dẫn
đến hợp đồng vô hiệu. Bị đơn phủ nhận toàn bộ, cũng không có yêu cầu phản tố.
[2.7].Căn cứ vào diễn biến quá trình thực hiện hợp đồng, xét thấy:
-Bên mua Ông Mđã vi phạm trước, do bản thân ông thừa nhận kkhăn
về tài chính nên không thể đóng tiền theo đúng các đợt quy định tiếp theo (thông báo
bằng email Ông Mgởi cho Công ty Cổ phần Xây dựng S- BL 120,121). Từ đó về sau,
Ông Mngừng luôn không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ tài chính nữa. Trong suốt thời
gian này Ông Mkhông có bất cứ ý kiến hay khiếu nại gì đối với công ty, chỉ duy nhất
mỗi lý do khó khăn mà ông nêu ra.
-Bên bán Công ty Cổ phần Xây dựng S xác định đến tại thời điểm y,
nghĩa vụ của Công ty thực hiện xong, căn nhà đã hoàn thành, đầy đủ điều kiện
pháp lý để giao dịch theo quy định của pháp luật.
Như vậy theo diễn biến này, hợp đồng mua bán nhà không thực hiện được
dẫn đến việc chấm dứt hoàn toàn như hiện nay không phải lỗi của Công ty Cổ phần
Xây dựng S mà do phía Ông Mkhông tiếp tục thực hiện.
-Phía nguyên đơn Ông Mnêu ra việc chấm dứt hợp đồng do lỗi của bị đơn
Công ty Cổ phần Xây dựng S hợp đồng đã vi phạm vào điều cấm của pháp luật cụ
thể Khoản 1,2 Điều 57 Luật Kinh Doanh bất động sản đối với giao dịch tài sản hình
thành trong tương lai dẫn đến hiệu, ngoài ra còn những vi phạm pháp luật
khác.
Nhưng như phân tích trên, k từ đợt thanh toán thứ 02 (trong số 17 đợt) Ông
Mđã tự ý ngừng đóng các đợt tiếp theo mà không đưa ra được bất cứ một lý do chính
12
đáng nào thể hiện sự vi phạm của bị đơn theo đó sẽ dẫn đến hợp đồng hiệu
không thtiếp tục thực hiện được, từ đó ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên
đơn. Trong khi đó Công ty Cổ phần Xây dựng S vẫn tiếp tục thực hiện xong phần
nghĩa vụ của mình. Qua thời gian thực hiện phía Công ty ng hoàn chỉnh được đầy
đủ các thủ tục pháp lý, đáp ứng hoàn toàn các quy định pháp luật, đúng các cam kết
như thỏa thuận. Đến nay hợp đồng vẫn còn hiệu lực nhưng Ông Mvẫn cương quyết
từ chối tiếp tục việc mua n yêu cầu chấm dứt hợp đồng, nêu ra do hợp đồng
hiệu để đòi lại toàn bộ số tiền đã giao đồng thời còn yêu cầu đòi bồi thường bằng
cách tính lãi trên số tiền đã đóng kể từ ngày Ông Mnộp tiền cho công ty đến ngày xét
xử phúc thẩm. Như vậy, yêu cầu này là không có cơ sở, bởi do Ông Mkhông tiếp tục
thực hiện mới dẫn đến chấm dứt hợp đồng. Chứ không phải hợp đồng hiệu do
vi phạm pháp luật dẫn đến không thể tiếp tục thực hiện được. Quá trình thực hiện
hợp đồng cũng chưa ảnh hưởng gì đến quyền lợi của ông Minh.
-Ngoài ra, xét thấy rằng nếu Ông Mcó khó khăn và có thiện chí thì ngay từ ban
đầu chắc chắn ông đã cùng công ty tìm ra phương án giải quyết thỏa đáng nhằm đảm
bảo quyền lợi của các bên. Tuy nhiên, đến nay Ông Mvẫn xác định không tiếp tục
thực hiện hợp đồng cương quyết yêu cầu chấm dứt. Như vậy, việc vi phạm hợp
đồng ràng do nguyên đơn đã không tự định liệu được khả năng tài chính khi
tham gia giao dịch dẫn đến không có khả năng thanh toán. Trong khi cách thanh toán
là do nguyên đơn chủ động lựa chọn và nhận đủ gói ưu đãi của công ty.
Do đó, khi hợp đồng chấm dứt Công ty Cphần Xây dựng S căn cứ vào hợp
đồng hoàn trả lại stiền 889.803.533 đồng cho Ông Mlà hợp lý. Đây cũng là thiện
chí của công ty mà cũng đã lợi cho ông Minh. vậy, chấp nhận một phần yêu
cầu khởi kiện của ông Minh, chấm dứt hợp đồng số 007/SCC/HĐMB-PDV-2018
ngày 26/6/2018 giữa Ông Nguyễn Công M với Công ty cổ phần đầu xây dựng Sài
Gòn. Buộc Công ty Cổ phần Xây dựng S thanh toán lại cho Ông Msố tiền
889.803.533 đồng.
các lẽ trên, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo, chấp nhận một
phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty Cổ phần Xây dựng S thanh
toán cho Ông Msố tiền 889.803.533 đồng là có cơ sở.
-Qua lời trình bày đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, đối chiếu cùng các chứng
cứ đã xác định hợp đồng mua bán nhà số 007/SCC/HĐMB-PDV-2018 ngày
26/6/2018 giữa Ông Nguyễn Công M với Công ty cổ phần đầu xây dựng Sài Gòn
hiệu lực pháp luật đến nay vẫn chưa thanh lý, cả hai bên cùng thống nhất chấm
dứt hợp đồng nên được chấp nhận, nên cần sửa bản án sơ thẩm về phần này cho đúng
với diễn biến và sự thật khách quan của vụ án.
Đối với đề nghị của Viện kiểm sát cần phải hủy bản án sơ thẩm giao về cấp sơ
thẩm để giải quyết lại, xét thấy cấp thẩm không vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố
tụng, các đương sự đồng ý chấm dứt hợp đồng, không tranh chấp khác, chỉ yêu
cầu giải quyết số tiền đã đóng khi thực hiện hợp đồng và tính lãi trên số tiền này. Do
đó, không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm.
[2.8].Về án phí:
-Án phí n sự sơ thẩm: Bị đơn Công ty Cổ phần Xây dựng S phải chịu
38.694.105 đồng.
Nguyên đơn Ông Nguyễn Công Mphải chịu 77.438.326 đồng, phần bị bác yêu
cầu đối với số tiền 2.271.916.339 đồng.
-Án phí Dân sự phúc thẩm: Do sửa án thẩm Ông Mkhông phải chịu án phí
phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định ván
phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1.Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Công M
2.Sửa một phần án thẩm số 58/2020/ST-DS ngày 28/9/2020 của Tòa án
nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh (hiện nay Tòa án Thành phố Thủ Đức
thuộc Thành phố Hồ Chí Minh).
2.1.Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ông Nguyễn Công
M:
-Chấm dứt “Hợp đồng mua bán nhà” số 007/SCC/HĐMB-PDV-2018 ngày
26/06/2018 giữa Công ty Cổ phần Xây dựng S và Ông Nguyễn Công M.
-Buộc Công ty Cổ phần Xây dựng S phải trả số tiền 889.803.533 đồng (tám
trăm tám mươi chín triệu, tám trăm lẻ ba ngàn, năm trăm ba mươi ba đồng) cho Ông
Nguyễn Công M.
Thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, tại cơ quan Thi hành án dân sự
có thẩm quyền.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ
quan thi hành án quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày
đơn yêu cầu thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án)
cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án
còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy
định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2.2.Không chấp nhận yêu cầu của Ông Nguyễn Công M đối với số tiền
2.271.916.339 đồng.
3.Án phí dân sự sơ thẩm:
-Công ty Cổ phần Xây dựng S chịu 38.694.105 đồng (ba mươi tám triệu sáu
trăm chín mươi bốn ngàn một trăm lẻ năm đồng)
14
-Ông Nguyễn ng Mchịu 77.438.326 đồng (Bảy mươi bảy triệu bốn
trăm ba mươi tám ngàn ba trăm hai mươi sáu đồng) nhưng được cấn trvào số tiền
tạm ứng án phí Ông Mđã nộp theo biên lai số AA2017/0016395 ngày 05/6/2019
40.347.028 đồng, Ông Mcòn phải nộp thêm số tiền là 37.091.298 đồng (ba mươi bảy
triệu không trăm chín mươi mốt ngàn hai trăm chín mươi tám đồng).
4.Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Mkhông phải chịu án phí DSPT. Hoàn lại cho
Ông Msố tiền tạm ứng án phí kháng cáo 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo
biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số AA/2018/0028067 ngày 16/10/2020
của Chi cục thi hành án dân sự Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự m 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án
dân sự, người phải thi hành án dân squyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu
cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định
tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự năm
2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- Tòa án nhân dân Tối Cao;
-Tòa án nhân dân Cấp Cao tại TP.HCM;
- VKSND Cấp Cao tại TP.HCM;
- VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
- Chi cục THADS TP Thủ Đức;
- Tòa án nhân dân TP Thủ Đức;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Thị Kim
Tải về
Bản án số 160/2021/DS-PT Bản án số 160/2021/DS-PT

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất