Bản án số 16/2024/DS-ST ngày 06/03/2024 của TAND huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 16/2024/DS-ST

Tên Bản án: Bản án số 16/2024/DS-ST ngày 06/03/2024 của TAND huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng về đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín
Quan hệ pháp luật: Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về danh dự, nhân phẩm, uy tín
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND huyện Mỹ Xuyên (TAND tỉnh Sóc Trăng)
Số hiệu: 16/2024/DS-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 06/03/2024
Lĩnh vực: Dân sự
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: Bản án số
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYN M XUYÊN
TNH SÓC TRĂNG
Bản án số: 16/2024/DS-ST
Ngày: 06 3 2024
V/v tranh chấp
bồi thường Hệt hại
ngoài hợp đồng (về danh dự, nhân
phẩm, uy tin và tài sản)
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHNGA VIỆT NAM
Độc lập - Tdo - Hạnh pc
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thanh Nhanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Trường Xuân.
2. Ông Dương Tuấn Kiệt.
Thư ký phiên tòa: Trương Thị Mỹ Hồng Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng tham gia
phiên tòa: Ông Đặng Văn Tài Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 3 năm 2024 tại Tòa án nhân n huyện Mỹ Xuyên, tỉnh
Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai dân sự sơ thẩm thụ lý số: 243/2023/TLST-DS,
ngày 11 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp
đồng (về danh dự, nhân phẩm, uy tín tài sản)” theo Quyết định đưa vụ án ra xét
xử số: 07/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Thị D.
Địa chỉ: Ấp H, xã G2, huyện X, tỉnh Sóc Trăng.
- Bị đơn:
1. Bà Ngô Hoàng T.
Địa chỉ: Ấp H, xã G2, huyện X, tỉnh Sóc Trăng.
2. Bà Trần Thị U (tên gọi khác: N).
Địa chỉ: Ấp H, xã G2, huyện X, tỉnh Sóc Trăng.
- Người làm chứng:
1. Ông Nguyễn Văn Đ.
Địa chỉ: Ấp H, xã G2, huyện X, tỉnh Sóc Trăng.
2
2. Ông Dương Văn H.
Địa chỉ: Ấp B, xã H2, huyện X, tỉnh Sóc Trăng.
3. Anh Phạm Tấn Đ.
Địa chỉ: Ấp H, xã G2, huyện X, tỉnh Sóc Trăng.
Tt cđều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện ngày 12 tháng 9 năm 2023 trong quá trình giải
quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là bà Lê Thị D trình bày:
Vào khoảng 03 giờ 40 phút ngày 26-02-2023, D phát hiện chồng của
tên Phạm Trí G và bà Ngô Hoàng T từ trong nhà ông Trần Văn Đ đi ra với dáng vẻ
khả nghi, mờ ám. D đi lại thì ông G vẻ lúng túng bỏ chạy về nhà, còn
T chạy về quán (quán bán nước uống) đóng cửa lại.
D gõ cửa nhà yêu cầu T ra nói chuyện cho ràng, nhưng T
không mở cửa. Một lúc sau T mở cửa ra cầm cây chổi (loại chổi lông cỏ
dùng quét nhà) đánh bà D tới tấp. Trần Thị U (em chồng của T) cũng xông
vào đánh cùng. Trong lúc đánh, T giật sợi dây chuyền của D đang đeo trên
cổ cùng đôi bông tai, tổng trọng lượng 2,2 chỉ vàng 18k đập bỏ 01 chiếc điện
thoại của D giá trlúc mua là 6.900.000 đồng. T U đánh D xong
còn lột hết quần áo của D, nhục mạ, chửi bới thô tục tiếp tục đánh đập bà D.
Sau khi Công an xuống làm việc thì T giao nộp cho Công an số tài sản trên.
Sự việc có ông Nguyễn Văn Đ, ông Dương Văn H và anh Phạm Tấn Đ chứng kiến.
D không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, chỉ yêu cầu T, U bồi thường
về trách nhiệm dân sự.
D khởi kiện yêu cầu bà T U bồi thường cho D tổn thất tinh thần
vì đã xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín 10 tháng lương tối Hểu số tiền
18.000.000 đồng (bằng chữ: Mười tám triệu đồng); phải xin lỗi công khai tại Nhà
Văn hoá ấp H, G2; bồi thường điện thoại bị hỏng với số tiền 6.900.000
đồng.
Tại phiên toà, D rút lại một phần yêu cầu khởi kiện về việc bồi thường
điện thoại bị hư hỏng với số tiền là 6.900.000 đồng.
- Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn
Ngô Hoàng T không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, với lý do:
D tự đến nhà T vu khống T giật chồng D. T ngồi lên
mình D dùng tay đánh D, D đánh T trước, nên T chống cự
lại. Tại Công anG2, T đã tự nguyện bồi thường cho D số tiền gây thương
tích 2.000.000 đồng 500.000 đồng tiền sửa chữa chiếc điện thoại bị hỏng.
Quần áo của D bị tuột điện thoại bị rớt là do hai bên giằng co với nhau; T
3
không lột đồ cũng không làm hư hỏng điện thoại của bà D, nên T không
đồng ý bồi thường. Sự việc xảy ra chỉ có mặt của ông Đ, ông H và con bà D là Đ.
- Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn
Trần Thị U không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng:
Nhà của T với bà U gần nhau. Khi nghe tiếng la, bà U lại xem thì thấy bà
T với bà D đang giằng co với nhau. Bà U không đánh, không lột quần áo và làm hư
hỏng điện thoại của bà D, nên bà không đồng ý bồi thường cho bà D.
- Đối với người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Đ, ông Dương Văn H anh
Phạm Tấn Đ đều trình bày thấy D nằm dưới đất, còn T ngồi trên người
đánh D. D không còn mặc đồ, trên người chỉ quần lót. Người làm chứng
không chứng kiến bà T, bà N cởi đồ và làm hư hỏng điện thoại của bà D.
- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố
tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp
hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể tkhi thụ vụ án cho đến
trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015; về nội dung thì cho rằng căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, cần buộc T bồi thường cho D số tiền bằng 01 tháng
lương tối thiểu là 1.800.000 đồng về tổn thất tinh thần; không chấp nhận yêu cầu
về công khai xin lỗi; đình chỉ giải quyết đối với một phần yêu cầu khởi kiện về
việc bồi thường giá trị chiếc điện thoại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết
quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Thủ tục thụ việc khởi kiện của nguyên đơn đảm bảo đúng theo quy định
của pháp luật; về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng, do bị đơn hiện nay trú tại ấp H, xã G2, huyện X, tỉnh
Sóc Trăng nên đây tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (về danh
dự, nhân phẩm, uy tín tài sản) Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc
Trăng giải quyết đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 6 Điều 26, điểm a
khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
Các đương sthống nhất với nhau như sau: Vào khoảng 04 giờ sáng ngày
26-02-2023 giữa bà D với T có đánh nhau và trong lúc đánh thì bà D không còn
mặc đồ, căn cứ vào khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng
xét xử xác định tình tiết này là đúng sự thật.
4
D yêu cầu T, U bồi thường về trách nhiệm dân sự, không yêu
cầu khởi tố về hình sự.
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bồi thường tinh thần và
công khai xin lỗi:
Thị D yêu cầu bđơn T U bồi thường cho với tiền
18.000.000 đồng tương ứng với 10 tháng lương tối Hểu, do T với bà U lột hết
quần áo của bà làm mắc cỡ với làng xóm nên yêu cầu bồi thường tổn thất về
tinh thần, đồng thời phải công khai xin lỗi tại ấp H, xã G2. Tuy nhiên, bà T và bà U
đều không đồng ý bồi thường các bị đơn cho rằng các bị đơn không lột quần áo
của nguyên đơn.
Nguyên đơn cung cấp người làm chứng biết sự việc là ông Nguyễn Văn Đ,
ông Dương Văn H, anh Phạm Tấn Đ. Tuy nhiên, những người làm chứng đều trình
bày là có xảy ra đánh nhau giữa bà D với T, khi những người làm chứng đến thì
bà D không có mặc đồ, nhưng họ đều không chứng kiến bà T, bà U lột quần áo của
bà D.
Tòa án đã ra thông báo ngày 29-12-2023 yêu cầu bà D cung cấp chứng cứ
chứng minh bị đơn lột đồ làm hỏng điện thoại, nhưng D không cung
cấp chứng cứ theo yêu cầu của Toà án.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì
nguyên đơn phải cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện căn
cứ hợp pháp, nhưng bà D không cung cấp được chứng cứ, nên phải chịu hậu
quả pháp lý theo quy định tại khoản 4 Điều luật này.
D không chứng minh được T, U cởi đồ của mình những người
làm chứng đều không chứng kiến việc này. Nhưng do từ việc D với T xảy ra
xát với nhau, nên đồ của D đang mặc bị tuột ra. Khi đó, những người làm
chứng, U, T đều nhìn thấy D không mặc đồ, làm cho D mắc cỡ, điều
này làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của D nên yêu cầu T bồi
thường Hệt hại về tổn thất tinh thần là có cơ sở chấp nhận. Sự việc xảy ra là do một
phần lỗi của D, D chủ động tìm kiếm T, đến nhà T đnói chuyện,
đáng lẽ khi bà T không muốn gặp, mà muốn giải quyết mâu thuẫn thì bà D nên yêu
cầu chính quyền địa phương giải quyết, D không tuân thủ quy tắc cộng đồng
dân nên mới xảy ra xát. Bên cạnh đó, cần xem xét đến việc do trời tối
ngoài T, U, ông Đ, ông H, anh Đ ra thì không còn ai nhìn thấy D không
mặc đồ, nên chỉ cần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của D, buộc T
bồi thường một lần mức lương sở do Nnước quy định 1.800.000 đồng
(bằng chữ: Một triệu tám trăm nghìn đồng) là phù hợp.
D bị tuột đồ là vì bà xô xát với T, bà T không cố ý làm nhục bà D nên
bà D yêu cầu công khai xin lỗi là không có căn cứ chấp nhận.
[2.2] Đối với yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn bồi thường điện thoại b
hư hỏng:
5
Toà án không ra thông báo cho D nộp tiền tạm ứng án phí đối với số tiền
bà D yêu cầu bị đơn bồi thường là 6.900.000 đồng và tại phiên toà, bà D rút lại yêu
cầu khởi kiện này. Xét thấy, bà D rút một phần yêu cầu khởi kiện của mình và việc
rút yêu cầu là tự nguyện thì Hội đồng xét xử chấp nhận và đình chỉ xét xử đối phần
yêu cầu bồi thường chiếc điện thoại, theo quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về án phí dân sự thẩm: Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 12 khoản
4 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban
Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản sử
dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bà T trách nhiệm bồi thường cho D 1.800.000 đồng, nên phải chịu án
phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
Tuy yêu cầu khởi kiện của D được chấp nhận một phần nhưng thuộc
trường hợp được miễn án phí, nên D không phải chịu án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 6 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều
39, khoản 1 và 4 Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân
sự năm 2015; khoản 2 Điều 468, khoản 1 Điều 584, Điều 592 Bộ luật Dân sự năm
2015; điểm d khoản 1 Điều 12 khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số:
326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ quốc hội quy định
về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Buộc bị đơn bà Ngô Hoàng T bồi thường tổn thất tinh thần cho Thị
D do xúc phạm danh dự, nhân phẩm với số tiền 1.800.000 đồng (bằng chữ: Một
triệu tám trăm nghìn đồng).
Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày đơn yêu cầu thi hành án của
người được thi hành án Thị D cho đến khi thi hành án xong tất cả các
khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án là Ngô Hoàng T còn phải chịu
khoản tiền lãi của số tiền vốn còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại
khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Thị D về việc buộc bị đơn
bà Ngô Hoàng T, bà Trần Thị N phải công khai xin lỗi.
3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Thị D, về
việc yêu cầu bị đơn bà Ngô Hoàng T, bà Trần Thị U (N) bồi thường một điện thoại
di động trị giá 6.900.000 đồng (bằng chữ: Sáu triệu chín trăm nghìn đồng).
4. Về án phí dân sự thẩm: Bị đơn bà Ngô Hoàng T phải chịu án phí
300.000 đồng (bằng chữ: Ba trăm nghìn đồng).
6
5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời
hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng giải
quyết theo thủ tục phúc thẩm.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành
án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền
yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy
định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được
thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- Các đương sự;
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ
Xuyên;
- Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng;
- Chi cục H hành án dân sự huyện Mỹ
Xuyên, (khi bản án có hiệu lực pháp
luật);
- Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
(Đã ký)
Cao Thanh Nhanh
Tải về
Bản án số 16/2024/DS-ST Bản án số 16/2024/DS-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất