Bản án số 16/2022/KDTM-ST ngày 29/06/2022 của TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương về tranh chấp về mua bán hàng hóa

  • Thuộc tính
  • Nội dung
  • VB gốc
  • VB liên quan
  • Lược đồ
  • Đính chính
  • Án lệ
  • BA/QĐ cùng nội dung
  • Tải về
Tải văn bản
Báo lỗi
  • Gửi liên kết tới Email
  • Chia sẻ:
  • Chế độ xem: Sáng | Tối
  • Thay đổi cỡ chữ:
    17

Thuộc tính Bản án 16/2022/KDTM-ST

Tên Bản án: Bản án số 16/2022/KDTM-ST ngày 29/06/2022 của TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương về tranh chấp về mua bán hàng hóa
Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về mua bán hàng hóa
Cấp xét xử: Sơ thẩm
Tòa án xét xử: TAND TP. Thủ Dầu Một (TAND tỉnh Bình Dương)
Số hiệu: 16/2022/KDTM-ST
Loại văn bản: Bản án
Ngày ban hành: 29/06/2022
Lĩnh vực: Kinh doanh thương mại
Áp dụng án lệ:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem áp dụng án lệ. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Đính chính:
Đã biết

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để xem đính chính. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty C đối với Công ty T về việc tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa. Buộc Công ty T trả cho Công ty C số tiền 15.744.000 đ (mười lăm triệu bảy trăm bốn mươi bốn ngàn đồng), bao gồm
Tóm tắt Bản án

Nội dung tóm tắt đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

Tải văn bản

1
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 16/2022/KDTM-ST
Ngày: 29 - 6 - 2022
V/v tranh chấp hợp đồng
mua bán hàng hóa
NHÂN DANH
ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trương Ngọc Điệp
2. Ông Huỳnh Tiến Quang
- Thư phiên toà: Ông Hoàng Văn Quyết - Thư Toà án nhân dân
thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình
Dương: Không tham gia phiên tòa.
Ngày 29 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thủ Dầu
Một xét xử thẩm công khai ván thụ số 04/2022/TLST-KDTM ngày 06
tháng 01 năm 2022 v việc Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo
Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2022/QĐXXST-KDTM ngày 25 tháng 5
năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty C, địa chỉ: Số 26 - 27 I, đường K, phường P,
thành phố M, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lưu Xuân L, sinh năm
1988; địa chỉ: nghiệp tông C Bình Dương đường D1, Khu công nghiệp 1,
phường P, thị C, tỉnh Bình Dương, người đại diện theo ủy quyền của
nguyên đơn (văn bản ủy quyền ngày 08/12/2021), có mặt.
2. Bị đơn: Công ty T; địa chỉ: Số 40/34A đường L, phường B, quận T,
Thành phố M, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại Đơn khởi kiện đ ngày 08/12/2021 q trình giải quyết vụ án,
nguyên đơn và đại diện nguyên đơn trình bày:
Ngày 16/5/2019, Công ty C và Công ty T ký hợp đồng mua bán số
02ĐL/HĐMB2019 về việc việc mua bán tông tươi, tông trộn sẵn dịch
2
vụ bơm tông cho công trình Nhà xưởng Nam Sơn - Khu công nghiệp 3, Bình
Dương của Công ty T.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty C đã giao bê tông bơm tông
cho công trình của Công ty T đúng theo yêu cầu về số lượng chất lượng. Từ
ngày 16/5/2019 - ngày 16/7/2019, Công ty C đã bán và bơm bê tông cho Công ty
T tổng số tiền là 139.145.000 đồng. Công ty T đã thanh toán cho Công ty C được
số tiền 127.145.000 đồng, còn nợ lại số tiền 12.000.000 đồng chưa thanh toán.
Công ty C nhiều lần gọi điện, gửi văn bản yêu cầu Công ty T thanh toán số
tiền còn lại nhưng Công ty T không thanh toán. Do đó, Công ty C khởi kiện yêu
cầu Tòa án buộc Công ty T thanh toán số tiền nợ gốc 12.000.000 đồng và tiền lãi
chậm trả tạm tính từ ngày 15/8/2019 - ngày 14/3/2022 12.000.000 đồng x
0,05%/ngày x 939 ngày = 5.634.000 đồng. Tổng số tiền cả gốc lãi
16.950.000 đồng.
Công ty C giao nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ sau: Giấy chứng
nhận đăng doanh nghiệp của Công ty C đăng lần đầu ngày 26/3/2002,
đăng thay đổi lần thứ 21 ngày 16/3/2021 (bản sao y bản chính); Giấy ủy
quyền của Công ty C cho ông Lưu Xuân L (bản chính)+ Giấy CMND của ông L
(bản photo); Hợp đồng mua bán số 02ĐL/HĐMB ngày 16/5/2019 giữa Công ty T
Công ty C (bản photo); Phiếu giao nhận bêtông ngày 16/5/2019 (03 phiếu),
ngày 18/5/2019 (01 phiếu), ngày 21/5/2019 (02 phiếu), ngày 23/5/2019 (01
phiếu), ngày 25/5/2019 (01 phiếu), ngày 05/6/2019 (02 phiếu), ngày 21/6/2019
(07 phiếu), ngày 24/6/2019 (01 phiếu), ngày 26/6/2019 (01 phiếu), ngày
12/7/2019 (04 phiếu) và ngày 16/7/2019 (01 phiếu) (tất cả là bản photo); 01 Hóa
đơn giá trị gia tăng ngày 31/5/2019 của Công ty C (bản chính); 01 Hóa đơn giá
trị gia tăng ngày 15/6/2019 của Công ty C (bản chính); 02 Hóa đơn giá trị gia
tăng ngày 30/6/2019 của Công ty C (bản chính); 02 Hóa đơn giá trị gia tăng
ngày 15/7/2019 của Công ty C (bản chính); 01 Hóa đơn giá trị gia tăng ngày
31/7/2019 của Công ty C (bản chính).
- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Công ty T không đến Tòa án trình
bày sviệc, giao nộp chứng cứ, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải.
Tại phiên tòa,
- Đại diện nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về
tiền nợ gốc, không cung cấp thêm chứng cứ cho a án; thay đổi 01 phần yêu
cầu khởi kiện về tiền lãi và mức lãi suất. Tiền lãi tính tngày 15/8/2019 đến
ngày xét xử sơ thẩm (29/6/2022) là: 12.000.000 đồng x 0,03%/ngày x 1.040 ngày
= 3.744.000 đồng. Tổng số tiền gốc và lãi : 15.744.000 đồng.
- Bđơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng không đến tham
gia phiên tòa, do đó căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa xét xvắng
mặt bị đơn.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại
phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên sở ý kiến trình bày của
đại diện nguyên đơn,
3
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn loại việc thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án (quy định tại khoản 1, Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm
2015). Về thẩm quyền, nguyên đơn bị đơn thỏa thuận lựa chọn Tòa án nơi
Công ty C đặt trụ s (Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một) để giải quyết
tranh chấp phù hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng
dân sự năm 2015 nên Tòa chấp nhận. Về thời hiệu khởi kiện do bị đơn không
yêu cầu áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện nên tranh chấp này thuộc trường
hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện quy định tại khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố
tụng dân sự.
[2] Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án thông báo cho Công ty T biết về
việc thụ vụ án, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai
chứng cứ và hòa giải nhưng Công ty T không đến, không có ý kiến phản bác lại ý
kiến và các tài liệu, chứng cứ do Công ty C giao nộp. Do vậy, ý kiến các tài
liệu, chứng cứ do Công ty C giao nộp thuộc trường hợp tình tiết không cần phải
chứng minh quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thấy rằng:
Ngày 16/5/2019, Công ty C và Công ty T ký hợp đồng mua bán số
02ĐL/HĐMB2019 về việc việc mua bán tông tươi, tông trộn sẵn dịch
vụ bơm tông cho công trình nhà xưởng S - KCN 3, Bình Dương của Công ty
T. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty C đã thực hiện đúng thỏa thuận, giao
hàng hóa (bêtông) đầy đủ cho Công ty T, thể hiện tại các phiếu giao nhận bê tông
ngày 16/5/2019 (03 phiếu), ngày 18/5/2019 (01 phiếu), ngày 21/5/2019 (02
phiếu), ngày 23/5/2019 (01 phiếu), ngày 25/5/2019 (01 phiếu), ngày 05/6/2019
(02 phiếu), ngày 21/6/2019 (07 phiếu), ngày 24/6/2019 (01 phiếu), ngày
26/6/2019 (01 phiếu), ngày 12/7/2019 (04 phiếu), ngày 16/7/2019 (01 phiếu); các
hóa đơn giá trị gia tăng ngày 31/5/2019, 15/6/2019, 30/6/2019, 15/7/2019,
31/7/2019 của Công ty C cho Công ty T bảng chi tiết giao dịch chuyển tiền
của Công ty T cho Công ty C ngày 24/6/2019 ngày 22/8/2019 của Ngân hàng
TMCP P Việt Nam - Chi nhánh Bình Dương thể hiện, Công ty T đã thanh toán số
tiền 127.145.000 đồng cho Công ty C. Tngày Công ty C xuất hóa đơn cuối
cùng (ngày 31/7/2019), Công ty T còn nợ lại số tiền 12.000.000 đồng nhưng
không thanh toán. Do đó, Công ty C khởi kiện yêu cầu Công ty T trsố tiền nợ
trên là phù hợp Điều 50 Luật Thương mại nên Tòa chấp nhận.
Về yêu cầu thanh toán tiền lãi chậm trả, xét thấy: Tại khoản 2.3 Điều 2 của
Hợp đồng mua bán tông số 02ĐL/HĐMB2019 ngày 16/5/2019, các bên thỏa
thuận: “…Trong trường hợp quá 05 ngày kể từ ngày đến hạn thanh toán nêu trên
bên B (Công ty T) vẫn chưa thanh toán cho bên A (Công ty C) thì bên B phải
chịu phạt 0,05%/ngày trên số tiền bên B chậm thanh toán…”. Tại phiên tòa,
Công ty C yêu cầu Công ty T trả tiền phạt lãi chậm trả với mức 0,03%/ngày,
tương đương 0,9%/tháng 10,8%/năm. Mức lãi suất trên thấp hơn mức lãi suất
thỏa thuận trong hợp đồng, phù hợp Điều 306 Luật Thương mại nên Tòa chấp,
buộc Công ty T thanh toán cho Công ty C số tiền lãi 3.744.000 đồng.
4
[4] Về án phí kinh doanh thương mại thẩm: Công ty T phải chịu án phí
đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty C được Tòa án chấp nhận. Công ty C được
nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định pháp luật.
các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- n cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều
39, Điều 92, các điều 146, 184, 227, 228, 266, 271, 273, 278, 280 Bộ luật Tố
tụng dân sự;
- Căn cứ các điều 24, 50, 306 Luật Thương mại năm 2005;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản
sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty C đối với Công ty T về việc
tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa.
Buộc Công ty T trả cho ng ty C số tiền 15.744.000 đ (mười lăm triệu
bảy trăm bốn ơi bốn ngàn đồng), bao gồm: 12.000.000đ (mười hai triệu đồng)
tiền nợ gốc và 3.744.000đ (ba triệu bảy trăm bốn mươi bốn ngàn đồng) tiền lãi
tính từ ngày 15/8/2019 - ngày 29/6/2022 theo Hợp đồng mua bán số
02ĐL/HĐMB2019 ngày 16/5/2019 giữa Công ty C và Công ty T.
Kể từ ngày người được thi hành án đơn yêu cầu thi hành án nếu người
phải thi hành án chậm thi hành thì hàng tháng phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất
quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và
thời gian chậm thi hành án.
2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
- Buộc Công ty T nộp số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng) tại Chi cục Thi
hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một
- Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một trả lại Công ty C số
tiền 3.000.00(ba triệu đồng) đã nộp trước đây theo Biên lai thu tạm ứng án
phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0000762 ngày 22/12/2021 của Chi cục Thi hành
án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.
3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự mặt quyền kháng cáo
bản án trong hạn 15 ngày kể tngày tuyên án. Đương sự vắng mặt quyền
kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án
được niêm yết. Viện Kiểm sát kháng nghị bản án theo quy định của Bộ luật Tố
tụng dân sự.
4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi
hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành
án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a 9 Luật
5
Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều
30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- VKSND TP. Thủ Dầu Một;
- Các đương sự;
- Lưu HS, VP
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Thanh Bình
Tải về
Bản án số 16/2022/KDTM-ST Bản án số 16/2022/KDTM-ST

Quý khách vui lòng Đăng nhập tài khoản để tải file. Nếu chưa có tài khoản, Quý khách vui lòng đăng ký tại đây!

Bản án/ Quyết định cùng đối tượng

Bản án cùng lĩnh vực

Bản án mới nhất